Hơn 100 năm trước, chí sĩ Phan Chu Trinh, người đã từng sang Nhật, Pháp có dịp nhìn lại xã hội VN, ông đã viết ra những lời tâm huyết này.
100 năm sau, VN đã thay đổi được những gì? Mời các bạn cùng suy ngẫm.
MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v...
PHAN CHÂU TRINH : TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG (phần 2/2)
Nhân kỷ niệm ngày giỗ thứ 89 (08/1872 - 24/03/1926)
Nguyễn Quý Đại
Phan Châu Trinh công khai hoạt động làm cho người Pháp rất lo ngại. Louis Bonhoure toàn quyền Ðông Dương nhận xét: "Phan Châu Trinh không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu nhưng nguy hiểm hơn cho sự thống trị của người Pháp tại Việt Nam". Vì
xảy ra vụ chống thuế bùng nổ tại Quảng Nam, Công sứ Lévecque yêu cầu
thống sứ Bắc kỳ Joseph de Mirabel bắt Phan Châu Trinh ngày 10.04.1908
tại Hà nội giải về Huế giam ở toà Khâm sứ, (khu vực trường Ðại học Sư
Phạm trước 1975). Người Pháp bề ngoài văn minh nhưng chẳng hơn gì triều
đình Huế về những điều hủ bại. Phan Châu Trinh phản đối chính phủ Pháp
kiệt thực 7 ngày, Khâm sứ Lévecque là con cáo già thực dân, muốn ném
đá dấu tay, trả cụ cho Cơ Mật Viện để toà An Nam xét xử, nếu xét theo
luật Gia Long điều 223 tội nhân bị ghép làm loạn xách động bị xử trảm.
Các quan lại Nam triều vốn thù ghét Phan Châu Trinh đã phê phán chế độ
quân chủ làm tay sai, Nam triều lấy cơ hội nầy lên án tử hình, nhưng ở
Hà Nội cụ Phan chơi thân Babut Ernest Chủ nhiệm tờ Ðại Việt Tân Báo và
có chân trong Hội Nhân Quyền Ligue des Droits de L' Homme. Ðược Babut
Ernest tận tâm can thiệp lên thẳng phủ Toàn quyền xin tái thẩm vụ án,
yêu cầu chính phủ Pháp can thiệp giảm án. Tóa án An Nam không thể thi
hành án tử hình đổi lại án chung thân khổ sai đày ra Côn đảo Cụ Phan
phẩn nộ trước bản án và nói: " " "Một dân tộc nào có người tù về
quốc sự như thế thì dân tộc ấy càng thêm vẽ vang .Một dân tộc không có
người ở tù về quốc sự thì cái dân tộc ấy là khối dân tộc vô hồn thôi"(12). Ngày 04. 4.1908 cụ Phan bị đày ra Côn đảo ứng khẩu bài thơ
Ra cửa thành nam mang xiềng rột rạt
Còn lưỡi này ta hát ta ca
Dân hèn nước cũng tiêu ma
Chi còn chả sợ nữa là Côn lôn
Những
năm tù Côn đảo, cụ Phan cảm xúc cho thân phận, man mát lòng cố quốc
làm thơ cho quên nỗi sầu xa xứ. Trong lúc dân tộc sống khổ đau dưới gót
giày đinh của thực dân Pháp dẫm nát Quê Hương
Làm trai đứng giữa đất Côn lôn
Lừng lẫy làm cho lỡ núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng chi sờn dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan nào sá sự con con.
(Đi đập đá)
Cụ
bị đày ra Côn đảo được báo chí Hội Nhân Quyền thân oan và vận động
được tự do, chính phủ bảo hộ nhận thấy dư luận trong cũng như ngoài
nước, muốn ngăn ngừa bớt phẩn nộ của sĩ phu Việt Nam. Chính phủ cử
Thống đốc Nam Việt ra Côn đảo thẩm vấn cụ Phan cho về lại Mỹ Tho. Thủ
tướng Pháp ông Poincaré ký lệnh tha, quan Toàn quyền Ðông Pháp ông
Klobukowsky (1908-1911) Tổng trưởng bộ thuộc điạ Trouillot cùng các
quan khác tại Sàigòn xét án và ân xá. Tuyên báo trả tự do nhưng cụ bị
quản thúc, Cụ nhất định không chịu phản đối đến cùng. Chính phủ Pháp
nhượng bộ cho tự do hoàn toàn. Ở Mỹ Tho thời gian thấy tinh thần đồng
bào ở Nam Việt lụn bại hơn đồng bào ngoài miền Trung và Bắc. Cụ phải
ngậm ngùi cho trình trạng dân tộc bị đô hộ, các bạn thân chiến hữu của
cụ Phan phần lớn bị, bắt đày ra Côn đảo. Thực dân Pháp theo dõi đàn áp
khắp nơi, rất khó có thể hoạt động. Cụ Phan thoát được cảnh tù đày nhờ
nhà báo Babut và Hội Nhân quyền can thiệp. Phan Châu Trinh
cùng với người con trai làm đơn xin nhập cảnh Pháp. Toàn quyền
Klobukowdky cho phép, nghĩ cụ là ông quan già không biết Pháp ngữ, có
đến Paris cũng chẳng làm được gì bất lợi cho chính sách thuộc địa của
Pháp. Nhưng Phan Châu Trinh tin tưởng đến Pháp có thể vận động rộng rãi
với chính khách Pháp văn minh tiến bộ, đòi hỏi chính phủ Pháp thay đổi
chính sách thuộc địa tại Việt Nam và Ðông Dương, kêu gọi Pháp trả tự
do cho các tù nhân chính trị Việt Nam. Xuất ngoại lần thứ 2 Năm
1911 Phan Châu Trinh theo Toàn quyền Klobukowsky sang Pháp, cụ biết
trước các sĩ phu Việt Nam yêu nước xúc động mạnh với tin cuộc cách mạng
Tân Hợi 19.08.1911, Trung Hoa lật đổ được chính thể chuyên chế, bước
sang chế độ Dân chủ, tại Việt Nam các sĩ phu yêu nước sẽ tiếp tục nổi
dậy chống Pháp dành độc lập, không tránh được cảnh chiến tranh, gây
thêm khổ đau, vốn cụ chủ trương Pháp-Việt đề huề xem như nền tảng tư
tưởng dân chủ xây dựng Việt Nam. Sử sách thế giới ca tụng Mohandas
Karamchand Gandhi (1867-1948) đấu tranh bất bạo động với người Anh dành
độc lập cho Ấn Ðộ, nhưng nước Việt Nam nhỏ bé thời ấy chí sĩ Phan Châu
Trinh, đấu tranh dành độc lập với thực dân Pháp bất bạo động trước
Gandhi. Chủ trương của Cụ Phan: «không
nên trông người ngoài trông người ngoài là ngu, không nên bạo động,
bạo động là chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng
học...vv Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc
khác có thể làm»(13)
Tàu
đến cảng Marseille, cụ Phan và con trai được đón lên tàu lửa về Paris, ở
trọ trên đường Gay Lussac, sau về số 32 Vouillé quận 15. Cụ tiếp xúc
với Messimy, Bộ trưởng Bộ Thuộc Ðịa và Albert Sarraut sắp sang làmToàn
quyền tại Ðông Dương. Ông Jules Roux đại úy từng làm việc tại Tòa án
binh ở Bắc Bộ từ năm 1904-1909, rất ngưởng mộ cụ Phan đến tiếp xúc giúp
đỡ và dịch các thư sang Pháp văn, gởi cho Bộ Thuộc Ðịa Pháp và ông
Phan Văn Trường (1875-1933), nhỏ hơn cụ Phan 3 tuổi lúc ở Hà Nội làm
việc cho tòa Khâm sứ Bắc Kỳ. Cuối năm 1908 được tuyển sang Paris làm
phụ giảng tiếng Việt ở trường Ngôn Ngữ Phương Ðông và tiếp tục học đỗ
cử nhân luật, có quốc tịch Pháp. Từ năm 1910 ông thuê nhà số 6 Villa
des Gobelins. Nơi đây như trụ sở của người Việt yêu nước, cụ Phan cùng
đến ở chung thời gian dài, Việt kiều, sinh viên sống tại Paris lúc bấy
giờ khoảng hơn 100 người(14) Cụ
Phan và Phan Văn Trường trở thành cột trụ của phong trào Việt Kiều tại
Pháp, Phan Châu Trinh viết các bản điều trần gởi cho chính phủ Pháp,
nêu lý do Việt Nam được Pháp bảo hộ, nhưng không có tự do, công dân
Việt Nam yêu nước chỉ trích chính sách cai trị, đều bị kết án tử hình
và bỏ tù, vv.. cụ viết „Trung Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký", Jules
Roux dịch sang Pháp văn. Tài liệu nầy binh vực, kêu oan cho Trần Quý
Cáp và nỗi oan ức của người Việt bi áp bức gây dư luận tại Paris (gởi
kèm đến Albert Sarraut chuẩn bị sang làm toàn quyền tại Ðông Dương) gởi
thư phản đối chính sách đô hộ tại Việt Nam. Khâm sứ Mahé muốn đào lăng
vua Tự Ðức (1913) tìm vàng, cụ viết báo phản đối việc làm thiếu đạo
đức, đi diễn thuyết trong tập thể Kiều bào, kêu gọi lòng yêu nước hướng
về Quê hương và thường tiếp xúc với người Pháp có lòng nhân đạo, bác ái
bày tỏ nỗi lòng và chỉ trích chính sách cai trị tàn ác của Pháp ở Ðông
Dương của Sarraut: «Cách cai trị rộng rãi bên An Nam của ông ấy thế
nào?. Nói những sự cải cách giả dối, như viện tư vấn, pháp luật, học
hành, sự đầu độc dân ta bằng rượu, bằng thuốc phiện, và sự đoạt quyền
tự do của nhân dân ta..."
Tháng
9.1914 chiến tranh Ðức Pháp bùng nổ. Ðức tổng tấn công mặt trận La
Somme, vua Duy Tân (Vĩnh San) nổi dậy chống Pháp ngày 6.5.1916 thất bại
bị truất phế đày sang đảo Réunion... Pháp tình nghi Việt Kiều có tinh
thần chống Pháp liên hệ với Ðức, Phan Văn Tường bị giam ở lao
Cherchemidi và Phan Châu Trinh bị giam ngục Santé (Prison de la Santé)
Bên quê nhà người vợ hiền bị bệnh qua đời ngày 12.5.1914. Cuộc đời của
bà đã hy sinh lo gia đình để chồng hoạt động cách mạng.(chúng ta cần
phải vinh danh người đàn bà lý tưởng nầy!). Hai người con gái: Phan
Thị Châu Liên (tức cô Đậu 1901- ?) chồng là ông đốc học Lê Ấm
(1897-1976) ông bà Lê Ấm ở nhà thờ cụ Phan gần ngã năm Hoàng Diệu Ðà
Nẵng Ông bà Lê Ấm có con trai Lê Khâm (1930-1995) tập kết ra Bắc theo
học Đại học tổng hợp Hà nội là một nhà văn đã qua đời) và người con gái
là Lê Thị Minh. Phan Thị Châu Lan (tức cô Mè 1904 -1944) chồng là
ông Nguyễn Ðồng Hợi làm tham tá công chánh (Agent technique) là thân
sinh của bà Nguyễn Thị Bình (các cháu không theo thuyết Dân Quyền của
ông ngoại, ngược lại theo cộng sản Marxismus). Các ông
Marius Moutet, Jules Roux bênh vực, cãi với viên đại lý Tòa án binh Ðệ
nhất tại Paris đến tháng 7-1915 chính phủ Poincaré trả tự do cho cụ
Phan. Các quan Bộ Thuộc Ðiạ coi về Ðông Pháp, cắt tiền phụ cấp 450 quan
gây đời sống cụ càng khó khăn hơn. Cụ học nghề rưả hình mỗi ngày được
30 quan nuôi con trai là Phan Châu Dật học trung học, dù hoàn cảnh khó
khăn không muốn lệ thuộc đồng tiền mua chuộc, cụ sống với lý tưởng cao
đẹp : „ phú qúy không tham lam, nghèo khổ không thay đổi lòng dạ, sức mạnh không khuất phục".(15)
Năm
1917 Phan Châu Trinh bị bệnh nặng điều trị lâu, Phan Châu Dật
(1897-1921) không muốn nhận giúp đỡ của gia đình ông Roux, tìm việc đưa
hàng ở hãng Au Bon Marché để nuôi cha. Vì vất vả và thiếu thốn bị
nhiểm bệnh, anh phải bỏ học về nước ngày 27.09.1919 và qua đời tại Huế
14.02.1921 thi hài được đem về mai táng cạnh mộ Mẹ tại Tây Lộc.
Vào khoảng cuối năm 1916 sang đầu năm 1917 Nguyễn Ái Quốc đến Paris được Phan Châu Trinh giúp đỡ. Nguyễn Ái Quốc viết: " Cụ Phan đã giúp mình rất nhiều, thực sự là người đỡ đầu cho mình trong một thời gian khi mình ở Paris"(16).
Năm 1920 tư tưởng hoạt động Nguyễn Ái Quốc khác Phan Châu Trinh, ông
ta theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, tham dự đại hội Tours và sang Liên
Xô năm 1923? nếu Nguyễn Ái Quốc tiếp tục theo đường lối hoạt động của
Phan Châu Trinh thì lịch sử Việt Nam đã thay đổi Pháp tổ chức
cuộc triển lãm quốc tế tại Marseille năm 1922 vua Khải Ðịnh (1916-1925)
sang tham dự, lối phục sức cho đến việc tiếp xúc ngoại giao những điều
chướng tai gai mắt. Cụ viết bằng chữ Hán gởi đến vua Khải Ðịnh "Ký Khải Ðịnh Hoàng Ðế Thư
" ngày 15-7-1922 kể bảy tội là " tôn bậy quân quyền, lạm hành thưởng
phạt, thích chuộng sự qùy lạy, xa xỉ qúa độ, ăn bận không phải lối, tội
chơi bời, chuyến đi có ám muội ". dịch ra Việt ngữ và Pháp văn
đăng trên báo chí gây dư luận xôn xao tại Pháp, vua Khải Ðịnh nhận thư
về nước thời gian ngắn băng hà. Phan Châu Trinh ở Paris 14 năm,
gây ảnh hưởng lòng yêu nước sâu rộng trong giới Việt Kiều và sinh viên,
người Pháp kính nể xem cụ Phan là chính trị gia, đại diện cho người
Việt tại thủ đô Paris và các nhà cách mạng Việt Nam: " Ông vừa thể
hiện tính kiên quyết, thẳng thắng, vừa biết thận trọng cân nhắc lời lẽ,
thông minh nhạy bén trong hiểu và đoán ý người khác, có quan điểm đạo
nghĩa sâu sắc, coi thường mặt vật chất kinh tế". Phan Châu Trinh về nước bị bệnh mất Phan
Châu Trinh xuống tàu Fontainebleau, ngày 29.5.1925 sau một tháng, cụ
Phan và Nguyễn An Ninh về tới Sài Gòn 26-6-1925. Nguyễn An Ninh đưa Phan
Châu Trinh về thẳng khách sạn Chiêu Nam Lầu(*). Cho đến 29-6-1925 được
Nguyễn An Ninh đưa về nhà cha của ông, là cụ Nguyễn An Khương, ở Mỹ
Hoà để tiện việc tiếp đón bạn bè đến thăm hỏi, trao đổi công việc; đồng
thời cũng để tiện cho cụ Nguyễn An Cư (Chú ruột của Nguyễn An Ninh,
một lương y nổi tiếng ở Nam Kỳ) chăm sóc sức khoẻ cho Phan Châu Trinh
đang thời kỳ suy yếu nhất. Thời gian ở Chiêu Nam Lầu và tại nhà cụ
Nguyễn An Khương, Phan Châu Trinh tiếp xúc với các nhân vật như: Trần
Quang Nghiêm, Nguyễn Kim Ðính, Khánh Ký, Lâm Hiệp Châu, De Jean de la
Bâtre, Paul Monin, Malraux... Trong các cuộc tiếp xúc nầy, cụ Phan bày
tỏ tâm tình:"Một khi đã trở lại sống trên quê hương xứ sở, tôi
nguyện đem hết nghị lực bình sinh mà thức tỉnh dân khí ba miền đồng
tâm, hiệp lực đạp đổ cường quyền áp chế". Chính vì tâm
quyết phụng sự cho dân quyền, nên dù sức khỏe còn yếu, cụ Phan cùng
Nguyễn An Ninh (với vợ chồng người con gái là ông bà Lê Ấm) đi xuống các
tỉnh Trà Vinh, Mỹ Tho... để vận động tài chánh cho việc tái bản tờ "La
Cloche Fêlée". Nhờ vậy, ngày 26-11-1925, báo "La Cloche Fêlée" số 20
được tái bản. Thời gian bị bệnh nhưng cụ cố gắng diễn thuyết thêm hai
đề tài
- Ðạo đức và luân lý đông tây - Quân trị chủ nghiã và dân trị chủ nghiã Bài diễn văn cuối cùng Phan Châu Trinh nói chuyện tại Hội Thanh Niên Sàigòn "Tôi
nghĩ rằng vì cái độc quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân tộc
Việt Nam ta.. Nói theo đạo Nho đó kỳ thật không có thi hành một chút
đạo Nho nào, chỉ còn sót lại một hai điều trong gia đình mà thôi. kỳ dư
là những điều mấy ông Vua chuyên chế đựa vào đạo Nho để đè nén dân".
Về Ðạo Ðức và Luân Lý Ðông Tây
"Xem
như thế thì xưa nay nước ta không có quốc gia luân lý, chỉ có một cái
luật via tôi bắt buộc dân phải theo vua với dân không có luân lý gì dính
nhau, chẳng qua vua và tôi tớ của vua hiệp lại với nhau lấy sức mạnh
để đè lên dân mà thôi .. Nay muốn một ngày kia nước Việt nam được tự do
độc lập thì trước hết dân Việt nam phải đoàn kết".
Các
bài diễn thuyết của cụ Phan gây ảnh hưởng sâu xa đến thế hệ trẻ văn
minh tại Sàigòn, tiêu biểu trong đó có nhà cách mạng Tạ Thu Thâu
(1906-1945) Trong thời gian trở về Sài gòn cụ bị bệnh được cả gia đình
nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943) lo giúp đỡ thuốc men, tiếp đón
thân nhân và khách đến thăm và cho đến những ngày cuối cùng. Tình thần
gia đình Nguyễn An Ninh thật đáng quý lưu danh cho hậu thế, nhưng
thương tiếc thay. Phan Châu Trinh đang thoi thóp trên giường bệnh lại
hay tin Nguyễn An Ninh đã bị bọn mật thám Pháp bắt tại nhà vào lúc 11g30
trưa 24-3-1926. Phan Châu Trinh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 21g30 tối 24.3.1926
tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại nhà số 54 đường
Pellerin, nhà của ông Huỳnh Đình Điển (nay là đường Nguyễn Thị Minh
Khai tức đường Pasteur trước 30-4-1975)
Ủy Ban tổ chức lễ
quốc táng nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã được hình thành ngay trong
đêm 24-3-1926. Những thành viên của ủy ban tổ chức tang lễ nhà chí sĩ
Phan Châu Trinh gồm nhiều nhân sĩ, trí thức. tang lễ được đại diện thân
hào nhân sĩ Sài Gòn tổ chức cử hành theo nghi thức quốc tang. Hai
người con gái đã có mặt bên linh cữu của cha, tại Sài Gòn không phân
biệt chính trị, đảng phái, tôn giáo đều tham dự, đưa linh cữu cụ Phan
đến nơi an nghỉ cuối cùng lúc 6 giờ sáng 4.4.1926 tại nghiã trang của
hội Gò Công tương tế. Hàng ngàn câu đối, trướng, la liệt bàn phúng điếu
các Sư chùa Nam Sơn tỉnh Sóc trăng gởi mấy câu đối. Tiên sinh thật là vị cao tăng trong giác thế, gồm đủ từ bi và trí huệ Người đời sau ngưỡng trông tòa pháp Cộng Hòa, biết bao nhiêu công đức như cát sông Hồng Hà Hai
mươi năm trống sớm chuông chiều, khua tỉnh ái hà con ma chuyên chế,
nhìn muôn dặm mưa dòn gió dập, kêu gọi người ngủ mê trong biển trần Phan Bội Châu đang được an trí ở Huế thay mặt cho đồng bào Huế gởi 2 câu đối Thương hải vi điền, Tinh vệ hàm thạch Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền(17) Huỳnh
Thúc Kháng thay mặt cho anh em Trung-Việt đã đọc một bài điếu văn
mang ý nghĩa lịch sử rõ nét nhất về quan điểm chính trị
„Một
đoạn lịch sử của tiên sinh hơn hai mươi năm trời, nào bị tù đày, ở
nước này sang nước khác, trải bao nhiêu phen nguy hiểm, trong giây phút
này không thể lược thuật lại cho được; chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói
sơ: Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân
quyền tự do, còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói
rằng
-Tình hình trong nước ta bây giờ đang vào nguy ngập,
nếu muốn cải cách thì cần liên lạc đoàn thể mới được. Tiếc cho người
nước mình còn đang mê mộng, đồng chí với tiên sinh chẳng được mấy người
. Vì vậy mà tấm lòng bị phân hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh
huống gì những điều mắt thấy tai nghe dể làm cho tiên sinh cảm xúc mà
đau được, chết được, thương ôi!
-Thôi, đất vàng một nắm,
giấc mộng ngàn thu, sự nghiệp anh hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi
chỉ mong mai sau này những người kế chí tiên sinh, làm cho vẻ vang dân
tộc Việt Nam ta. Thì linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi
suối vàng Phan Châu Trinh tranh đấu bất bạo động với chủ
thuyết Dân Quyền, Phong Trào Duy Tân làm thay đổi lịch sử Việt Nam dưới
thời thuộc điạ, từ đó người Pháp phải thay đổi chính sách cai trị.
Phan Châu Trinh một vì sao sáng trên vòm trời Việt Nam của đầu Thế kỷ
20.
-Chủ
trương chính trị của Phan Châu Trinh có thể được xem là nền tảng của
hệ tư tưởng dân chủ Việt nam ngày nay. Trước Phan Châu Trinh, tại Việt
nam chưa có ai nghĩ đến dân chủ, dân quyền..Chẳng những Phan Châu Trinh
là người đầu tiên thổi một luồng gió mới vào chính trường Việt nam, Ông
cũng là người Việt nam đầu tiên gây được uy tín lớn lao với chính
trường nước Pháp là nước đang đô hộ Việt Nam.(18). Phan
Châu Trinh sống phục vụ đất nước, cống hiến cuộc đời cho tổ quốc Việt
Nam. Cụ mất để lại tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Dân Quyền
và Nhân Quyền là giấc mơ của toàn dân Việt nam cuộc đời Phan Châu Trinh
gắn bó với công cuộc cách mạng để khai trí dân tộc, để lại những tác
phẩn văn chương:
Đầu Pháp chính phủ thư (1906) Hợp quần doanh sinh thuyết quốc am tự (1907) Tỉnh quốc hồn ca I & II (1907) Tuồng Trưng nữ Vương soạn chung với Hùynh thúc Kháng,Phan thúc Duyện (1910) Trong thời gian sống ở Paris và về nước viết các tác phẩm Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký (1911) Giai nhân kỳ ngộ (1913-1915) Tây Hồ và Santé thi tập ! (1914-1915) Khải Ðịnh Hoàng Ðế thư (1922) Bức thư trả lời cho người học trò tên Ðông (1925) Ðông Dương Chính trị luận (1925)
Xin mượn lời sau, để kết thúc bài viết kỷ niệm ngày giỗ thứ 85 của cụ Phan, Phan Châu Trinh là «một nhà yêu nước nồng nhiệt, một nhà dân chủ nồng nhiệt, một con người có con tim và tình cảm vĩ đại… » (Jules Roux nhà trí thức PCT. kỷ yếu Hội Nhân quyền số 9 Paris 1926, Nguyễn Quyết Thắng dịch)
Nguyễn Quý Ðại
12/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân 13/ Lam Giang trang 211 14/ Những hoạt động của Phan Châu Trinh Ts Thu Trang 15/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân trang 172 16/ Những hoạt động của Phan Châu Trinh Ts Thu Trang trang 125 17/ Phan Chu Trinh Thế Nguyên 18/ Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng
Tài liệu tham khảo Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nước Toronto 2000 Phan Châu Trinh (1872 - 1926) Tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925 Tác giả Thu Trang Nxb Văn Học Từ Hi Thái Hậu cuốn 2 tác giả Mộng Bình Sơn Nxb Xuân Thu Bộ Quân sử do bộ tổng tham QLVNCH mưu xuất bản Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2 Nguyễn Quyết Thắng *
Khách sạn Chiêu Nam Lầu do chính bà Nguyễn Thị Xuyên (bí danh Chiêu Nam
Lầu) là cô quản, nhằm làm nơi liên lạc, đưa đón, học tập và an dưỡng
các sĩ phu đương thời; còn là nơi đưa rước du ruột của Nguyễn An Ninh,
cùng bà Nguyễn An Khương (mẹ của Nguyễn An Ninh) tổ chức và cai học
sinh sang Nhật trong phong trào Ðông Du. Ðịa điểm khách sạn tại số 49
Nguyễn Huệ ngày naỵ
PHAN CHÂU TRINH : TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG (phần 1/2)
Nhân kỷ niệm ngày giỗ thứ 89 (08/1872 - 24/03/1926)
Nguyễn Quý Đại
Phan
Châu Trinh sinh tháng 8 năm 1872 (nhâm thân) tại làng Tây Lộc phủ Tam
Kỳ Quảng Nam, tự Tử Cán hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã. Ông xuất thân
gia đình danh tiếng tại Tiên Phước, thân phụ ông Phan văn Bình làm quan
chức Quản cơ sơn phòng (chức quan võ trong coi biên giới các vùng núi)
thân mẫu bà Lê thị Chung (Trung?).
Ông là con trai út, lập gia
đình năm 1896 lúc 25 tuổi, vợ là Lê Thị Tỵ (1877-1914) người làng An
Sơn, Tiên Phước. Thi đỗ cử nhân năm 1900, phó bảng 1901, năm 1903 làm
quan ở Huế.
Bối cảnh lịch sử Thực dân Pháp
chiếm 6 tỉnh Nam Việt. Ngày 05.07.1885 Tướng De Courcy đem đại quân
đánh úp Kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết (1835-1913) xa giá vua Hàm Nghi
(1872-1943) ra khỏi Kinh thành. Các đạo quân De Courcy chỉ huy đuổi
theo truy lùng. Tôn Thất Thuyết phải đưa vua chạy đến Tân Sở (QuảngTrị)
thảo hịch Cần Vương được sĩ phu khắp nơi hưởng ứng lời kêu gọi, nổi
lên chống Pháp, bấy giờ cụ Phan Văn Bình hưu trí, nhưng hưởng ứng Nghiã
Hội Cần Vương làm chuyển vận sứ (phụ trách quân lương) ở đồn A-Bá
Tiên Phước và lập đồn điền để trồng hoa màu tiếp tế cho Phong Trào
Nghiã Hội tại Quảng Nam (từ tháng 7.1885 đến tháng 8.1887) dưới sự lãnh
đạo của Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) và tiến sĩ Trần Văn Dư
(1839-1885).
Tổng trú sứ Bihourd đề nghị với Ðồng Khánh sai
Nguyễn Thân đánh dẹp Phong Trào Nghiã Hội Quảng Nam. Nguyễn Thân đánh
Tam Kỳ và phá nhiều căn cứ quân Cần Vương, tiếp tục truy lùng bắt gia
đình Nguyễn Duy Hiệu tại thượng nguyên Phước Sơn làm con tin, yêu cầu
ông ra đầu hàng vì lòng hiếu thương mẹ già và gia đình. Ông phải về với
triều đình (Ðồng Khánh) lảnh bản án tử hình. Ðồng Khánh lên ngôi
14.9.1885 làm vua bù nhìn. Triều đình có một số quan lại muốn yên thân
cúi đầu tuân theo lệnh của bọn thực dân, xã hội và triều đình bị phân
hoá trầm trọng chia làm hai phe. Phe theo kháng chiến cứu quốc, phe còn
lại hàng giặc để thưà hưởng, vinh thân phì gia.
Cuộc kháng chiến
của vua Hàm Nghi thất bại, bị tên thổ phỉ Lê Quang Ngọc, và Nguyễn
Ðình Thìn chỉ điểm cho Pháp. Đêm 01.11.1888 bắt vua Hàm Nghi giao cho
Ðại úy Boulanger ngày 04.11.1888, đến trung tuần tháng 8.1889 vua bị
lưu đày sang Bắc Phi. Các phong trào Văn Thân, Cần Vương bị dẹp, nhưng
không dập tắt lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam. Năm 1930 khởi nghiã
chống Pháp của Việt Nam Quốc Dân Ðảng dù thất bại „không thành công cũng thành nhân", không làm nao núng lòng yêu nước.
Dân
tộc Việt Nam luôn tranh đấu qua nhiều phong trào đánh Tây, muốn thoát
khỏi vòng nô lệ nên máu xương của dân quân tiếp tục đổ ra trên dòng sông
lịch sử, cho đến ngày dành lại độc lập năm 1945. Bọn tay sai đắc lực
như Nguyễn Thân (1840-1914), Hoàng Trọng Phu, Hoàng Cao Khải
(1850-1933), Lê Hoan, Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), Phạm Ngọc Quát v.v.
bị lịch sử phê phán, người đời nguyền rủa. hai tên phản quốc Ngọc và
Thìn đều bị nghiã quân Phan Ðình Phùng (1844-1895) giết để làm gương
cho hậu thế.
Sau cơn Quốc biến và Gia biến, Phan Châu Trinh mồ
côi mẹ lúc 6 (8?) tuổi, năm Đinh hợi 1887 thân phụ bị nạn qua đời,
phong trào cũng tan, ông từ giả chiến khu lúc 16 tuổi về quê sống với
anh cả Phan Văn Cừ nuôi ông ăn học, ông là người hoạt bát tháo vát và
vui tính. Năm 1892 (21 tuổi) kết giao với Huỳnh Thúc Kháng, đến năm
1898 ông được vào trường tỉnh do đốc Trần Đinh Phong (Mã Sơn) tại Thanh
Chiêm quận Ðiện Bàn trông coi giảng dạy, có nhiều cơ hội tiếp xúc với
nền văn minh phố Hội và có thêm bạn thân là Trần Quý Cáp. Năm 1901 đậu
phó bảng, người anh cả mất năm 1902 ông về cư tang, ở nhà dạy học đến
năm Qúy mão 1903 lại được bổ dụng làm Thừa biện bộ Lễ. Kinh đô Huế là
Trung tâm văn hóa, trong thời gian làm quan ông tiếp xúc nhiều giới trí
thức tân học như: Ðào Nguyên Phổ (1861-1907), Thân Trọng Huề
(1869-1925), Phan Bội Châu (1867-1940). Tàu bè ngoại quốc đến Ðà Nẵng,
bán sách cho sĩ phu Việt Nam, từ đó Phan Châu Trinh tiếp thu ý thức thế
hệ mới, về tư tưởng dân quyền và dân chủ. Các cuộc chiến Trung Hoa
Nhật Bản (1894-1895), chiến tranh Ðức Pháp (1870-1871), ảnh hưởng rất
nhiều đến thành phần trí thức, cũng như sách Tân thư, của Khang Hữu Vi
(K'ang Yu Wei 1858-1927), Lương Khải Siêu (Liang Ch'i Ch'ao 1837-1929)
và của các tác giả: Montesquieu (1689-1755), Rousseu (1712-1778),
Voltaire (1694-1778) được dịch sang Hán văn. Từ đó có một sự chuyển
biến trong tư tưởng và cuộc đời của Phan Châu Trinh, nhưng nhà
văn Nguyễn Văn Xuân cho rằng: Phan Châu Trinh ảnh hưởng sâu rộng tư
tưởng Duy Tân của tác giả Nguyễn Lộ Trạch với „Thiên Hạ Ðại Thế Luận"(2)
Phong Trào Duy Tân Cuối
năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan, rời Huế không muốn làm việc trong
cảnh nô lệ. Triều đình có Vua nhưng chỉ để thi hành mệnh lệnh của chính
phủ bảo hộ không có quyền hành."vận nước gặp cơn dâu biến..còn lòng đâu áo mão xênh xang".
Ông cùng hai người bạn thân là Hùynh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, không
làm quan để vinh thân phì gia chọn con đường đấu tranh nhiều chông
gai, dấn thân hoạt động trong Phong Trào Duy Tân tại Quảng Nam.
Phong trào Duy Tân chủ trương bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hoá dân tộc „chấn dân khí, khaidân trí, hậu dân sinh"
cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ
chương, truyền bá canh tân mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công
nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu goị cắt tóc ngắn, cắt móng tay, phát động
phong trào học Quốc ngữ , nhưng triều đình Huế vẫn duy trì lối học thi
phú, qua các loại sách như "Tứ Thư Ðại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh
Tử" và Ngũ kinh. Cho đến năm 1913 Triều đình bắt đầu cải cách, năm 1917
kỳ thi Hương cuối cùng chấm dứt chương trình học cổ điển. Trong lúc
Tây Phương họ học toán, phát triển văn-minh, khoa-học, kỷ-thuật tiến
bộ, người ta dùng kỷ nghệ nặng như đóng tàu, đúc súng…đem lại đời sống
phồn thịnh Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp cùng nhau đi
vào miền Nam, tới Bình Ðịnh gặp quan tỉnh kỳ khảo hạch , ông cùng hai
bạn làm bài thơ „Chí Thành Thông Thánh " và bài phú „ Danh Sơn Lương Ngọc " gây chấn động trong học giới và văn giới.
Việc đời ngoảnh lại thành không Còn đâu giọt lụy non sông khóc người Muôn dân luồn cúi tôi đòi Văn chương bát cổ say hoài giấc mơ Mặc ai chửi rủa tha hồ, Xích xiềng này biết bao giờ tháo xong? Anh em còn chút máu nồ Hãy đem văn ấy đọc cùng nhau nghe.
(Á Nam Trần Tuấn Khải dịch)
Thơ
và phú đó gây phản ứng mạnh tại trường thi, mục đích cảnh tỉnh học trò
sĩ tử còn mê muội với từ chương thi phú, ham công danh quên đất nước
đang chìm trong vòng nô lệ. Ðó cũng là cách vận động gây tiếng vang
trong giới trí thức và quần chúng.
Chính quyền điạ phương truy
lùng tác giả các bài trên, nhưng các cụ đã đi xa vào tới Nha Trang, xem
hạm đội Nga do đô đốc Rojestvensky chỉ huy tạm thả neo chờ ngày cấp
cưú Lữ Thuận (Lu Shun). Ba người tới Phan Thiết gặp các ông Trương Gia
Mô (1866-1930), Hồ Tá Bang (1875-1943), Nguyễn Trọng Lôi ( ?1911) cùng
bàn chuyện Duy Tân, thành lập công ty Liên Thành và mở trường Dục
Anh. Phan Châu Trinh bị bệnh nên không thể tiếp tục xuôi Nam, phải ở
lại dưỡng bệnh Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Trần Quý Cáp (1870-1908)
trở về hoạt động tại Quảng Nam, có thêm Lê Bá Trinh (1875- ?), Phan
Thúc Duyện (1873-1944) là những người khoa bảng không ra làm quan, tham
gia vận động mạnh cho Phong Trào Duy Tân với chủ thuyết Dân Quyền,
được vận động trong quần chúng, thực hành theo phương thức hoạt động
của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu. Khác với Nguyễn Lộ Trạch
(1852-1895), Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Phan Thanh Giản (1796-1867),
Phạm Phú Thứ (1820-1883) viết nhiều điều trần gởi cho triều đình Huế
đều bị bỏ quên!
Tại Quảng Nam các thương hội, dệt các thứ vải
dày có thể may Âu phục. Phan Châu Trinh đích thân làm gương cắt may,
mặc bộ đồ tây bằng vải nội, hàng vải tơ lụa nội hóa được cải tiến, làng
Bảo An, Ðiện Bàn nổi tiếng dệt đẹp cần phát triển thủ công nghệ, có
thể cạnh tranh với tơ lụa nhập cảng. Nông Hội phát triển lớn nhất tại
Yến Nê, (Ðiện Bàn) rộng chừng 20 mẫu trồng khoai, sắn, bắp, cho trồng
cây dương liễu để cản gió theo hai bên bờ sông, còn lại dấu tích cho đến
ngày nay. Mỹ Sơn (Duy Xuyên) rộng khoảng 40 mẫu trồng hoa màu và cấy
lúa, Bửu Sơn (Ðại Lộc) khai phá để trồng lúa.
Về thương nghiệp
cạnh tranh với thương gia Trung Hoa. Các thương hội tổ chức, phương
pháp làm việc kết qủa tốt như thương hội Phong Thử (Ðiện Bàn) do Phan
Thúc Duyện trông coi, điạ điểm thuận lợi cho việc giao thông bằng đường
thủy ghe lớn có thể cập bến được, tấp nập người đến buôn bán. Hội An
thương cuộc do ông Bang Kỳ Lam phụ trách bán đủ loại sỉ và lẽ vải, gạo,
đường, quế, trên các món hàng bày bán đều có định giá rỏ ràng nhân
viên lịch sự tiếp khách… Phú Lâm (Tiên Phước) do Lê Cơ (1870-1918) tổ
chức chương trình khuyến kích công thương nghiệp, là bước tiến đầu tiên
tại Quảng Nam từ từ ảnh hưởng đến thay đổi sinh hoạt Hà Nội và Sài
Gòn. Các nhà nho tiến bộ tại Hà Nội đứng ra khuếch trương thương nghiệp
là ông Ðỗ Chân Thiết mở hiệu Ðồng Lợi Tế ở phố Mã Mây, mở tiệm thuốc
Bắc Tụy Phương ở phố Hàng Cỏ, Hoàng Tăng Bí mở hiệu Ðông Thành Xương ở
Hàng Gai..Tại sài gòn có Minh Tân Khách sạn của cụ Phủ Chiếu(3)
Phong
Trào Duy Tân là cuộc cách mạng lớn trên mọi lãnh vực đầu Thế kỷ 20. Các
trường dạy thêm chương trình chữ Quốc ngữ lan rộng trên khắp nẻo đường
đất nước. Vua Thành Thái thường cải trang vi hành, nghe và ảnh hưởng
Phong Trào Duy Tân, cắt bỏ cục tóc trên đầu, các quan ngạc nhiên lúc
ngài ngự triều, nhà Vua tự làm gương đề xướng theo Duy Tân cải cách
sinh hoạt để thúc đẩy dân tiến.(4)
Thực
dân Pháp kết án ai theo Duy Tân cắt tóc gọi là giặc cúp tóc. Ngày
30-7-1907 toàn quyền Beau kết tội vua Thành Thái bị bệnh tâm thần và phế
đế, lập Duy Tân (Vĩnh San) lên ngôi (1900-1945).Phong Trào Duy Tân
phát triển tốt đẹp tại quê nhà, Phan Châu Trinh ra Nghệ An gặp Ngô Ðức
Kế đến Hà Nội tiếp xúc với số sĩ phu vận động mở rộng Phong Trào Duy
Tân, ông có tài diễn thuyết, chinh phục được phái cựu học tham gia
Phong Trào, khuyến khích mở trường dạy nghành nghề từ công nghiệp cho
đến thương nghiệp, mở nông hội và thương hội nâng cao đời sống về kinh
tế, truyền bá chữ Quốc ngữ đề xướng chủ thuyết Dân Quyền, được hoan hô
đón nhận. Các nhà nho như cụ Phương Nam, Ðổ Chân Thiết, Lương Trúc Ðàm
(1879-1908) là những người tiên phong cắt tóc ngắn và ăn mặc Âu phục với
hàng nội hóa.(5)
Ông
ích Ðường (1884-1908) cháu nội Ông Ích Khiêm hướng dẫn Phan Châu Trinh
lên Yên Thế thăm lãnh tụ Hoàng Hoa Thám (1858-1913). Về Hà Nội gặp các
ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền là người có công mở trường Ðông Kinh
Nghiã Thục.
Xuất ngoại lần thứ nhất Cuối tháng 3
năm 1906 trốn đi sang Hồng Kông. Nhờ vào đường giây của Phong Trào Ðông
Du (1906-1908) Tăng Bạt Hổ người có công đầu dẫn đường cho các nhà
cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu và các đồng chí khởi xướng Phong Trào
Ðông Du đưa du học sinh sang Nhựt. Trên tàu các Cụ gặp Lý Tuệ làm việc
đầu bếp, giúp đỡ từ đó Phan Châu Trinh, được Lý Tuệ dẫn đường xuống
tàu cải trang làm bếp đi Hồng Kông gặp Phan Bội Châu (1867-1940), Cường
Ðể (1882-1951 là cháu 5 đời vua Gia Long). Cùng nhau sang Quảng Châu
thăm Lưu Vĩnh Phúc, Nguyễn Thiện Thuật (?-1841), Lương Ngọc Quyến
(1890-1917).
Tháng
5-1906 cả 3 người đến Hoành Tân (Yokohama) và Ðông kinh (Tokyo), trong
thời gian lưu lại Nhật, các cụ nhìn thấy nước Nhật hùng mạnh nhờ biết
thay đổi chính sách cai trị duy tân của Minh-trị-Thiên-Hoàng (Mutsu
Hito 1852-1912). Nhật trở nên hùng mạnh thắng Trung Hoa năm 1895 đưa đến
việc hai bên ký kết hoà ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17.04.1895.
Nhật đánh bại quân Nga tại Tsushima (Ðối Mã) năm (1904-1905).
Phan
Châu Trinh gặp giới chính khách Nhật, như Khuyển Dưởng nghị (Inukai ki
1855-1932) Ðại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigonebu 1838-1922) người Nhật
xướng lên chủ nghĩa Ðại Ðông Á. Phan Châu Trinh thấy chính sách của
Nhật không thật tình giúp đỡ Việt Nam..Dân tộc Việt Nam phải tự duy
tân, nếu không được khai hóa thì không thể canh tân xứ sở....
Tư
tưởng hai nhà cách mạng họ PHAN rất tiếc không tương đồng, Phan Bội
Châu với khuynh hướng bạo động, duy trì chế độ Quân chủ trông cậy vào
Nhật để chống Thực dân. Ngược lại Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo
động tân dân, không chấp nhận chế độ quân chủ, muốn khai thông dân trí
thì phải cải cách, muốn có nhân quyền thì phải chấm dứt chế độ vua quan
bù nhìn Nam Triều. Chủ trương dựa vào nước Pháp để khai hóa
dân tộc tiến bộ, làm cuộc cách mạng văn hóa, khi đất nước mạnh có thể
đấu tranh dành lại độc lập, tiết kiệm xương máu. Nếu dựa vào nước Nhật
để chống Pháp có tránh được việc. "đuổi con hổ ra cửa trước, rước con
gấu vào ngõ sau"?(6)
Ðại
Hàn bị Nhật đô hộ, cũng như Hiệp ước Pháp và Nhật ký ngày 10.7.1907
Pháp nhường cho Nhật số quyền lợi. Pháp yêu cầu chính phủ Nhật bắt các
nhà Cách mạng Việt Nam chống Tây, giải tán và trục xuất du học sinh.
Tháng 8. 1908 Nhật trục xuất hàng trăm thanh niên Việt Nam bổng nhiên
rơi vào cảnh bơ vơ không nơi nương tựa, năm 1909 Phan Bội Châu và Cường
Ðể cùng chung số phận phải trốn sang Trung hoa. Ðến tháng 10.1910
chính phủ Mãn Thanh khủng bố các nhà Cách mạng Trung Hoa. Cường Ðể và
Phan Bội Châu phải sang Thái Lan.
Ðệ nhị thế chiến 9.3.1945,
người Nhật lộ hẳn sự phản bội dân tộc Việt Nam, trước khi Phan Châu
Trinh trở về Việt Nam tâm sự với Phan Bội Châu „Xem dân trí Nhật rồi
đem dân trí ta ra so sánh, thật không khác gì muốn đem con gà con đọ
với con chim cắt già. Giờ bác ở đây, nên lo chuyên tâm ra sức vào việc
văn, thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc mắt dui còn việc mở mang diù
dắt ở trong nước nhà thì tôi xin lảnh. Lưỡi tôi đang còn, người pháp
chẳng làm gì tôi được mà lo"(7)
Trở về nước hoạt động Ðường
lối đấu tranh hai nhà cách mạng tuy khác nhau, nhưng cùng tình yêu đối
với Tổ quốc đồng bào. Phan Châu Trinh về nước công khai đấu tranh bất
bạo động, chính sách cai trị của chính phủ bảo hộ chỉ bần cùng hóa ngu
dân, không thực lòng khai hóa dân tộc Việt Nam, đào tạo số người tay
sai làm giàu trên xương máu của dân tộc. Ngày 15-08-1906
gọi là „ Phan Châu Trinh đầu thư cho Pháp". Gởi thư cho toàn quyền
Paul Beau và khâm sứ Trung kỳ Fernand Lévecque. Thư trình bày hòan cảnh
bi đát nhất của nhân dân dưới chính sách cai trị, những tệ trạng của
quan lại Nam triều:
1/ Chính phủ bảo hộ dung dưỡng cho bọn quan lại An nam để gây nên tệ lậu 2/ Chính phủ bảo hộ khi thị dân Việt Nam thái quá, khiến cho đôi bên phải xa cách 3/ Quan lại nhân cái sự ly gián ấy mà hành hạ dân(8) Phan
Châu Trinh ghé thăm Lương Văn Can nói về tình hình nước Nhật, tháng
3.1907 tại phố Hàng Ðào Hà Nội các sĩ phu Bắc Kỳ ngồi lại với nhau. Cụ
Phan đề nghị mở trường dạy học, ý kiến nầy được chấp thuận lấy tên
trường là Ðông Kinh Nghĩa Thục "tương tự như Khánh Ưng Nghiã Thục" của
Phúc Trạch bên Nhật, xin giấy phép mở trường, chủ trương không lấy tiền
học phí, mọi người tự nguyện bỏ công, bỏ tiền, tài sản ra thành lập.
Ngày khai giảng thu nhận học sinh đông đảo. Bỏ lối học từ chương, chú
trọng thường thức và thực nghiệm dạy theo phương pháp giáo dục mới,
chương trình dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và Pháp Văn. Phạm Ðình Ðối dạy
môn toán học, thành phần giảng dạy của Ðông Kinh Nghiã Thục là các nhà
nho và tân học: Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy
Tốn, Nguyễn Bá Học, Phan Huy Thịnh, Ðào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong,
Ðặng Kinh Luân, Nguyễn Hữu Cầu..vv,(9)
Lương
Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học. Phan Châu Trinh
không giữ vai trò nào vì cụ Phan về miền Trung vận động tiếp cho Phong
Trào Duy Tân. Ðông Kinh Nghiã Thục truyền bá văn hóa nước nhà, thêm
tình thần ái quốc, trường có một số nhà nho như Lương Trúc Ðàm, Dương Bá
Trạc. Ðổ Chân Thiết.. hoạt động ngầm cho phái bạo động (Phan Bôi Châu)
nhiều cụ qúa hăng hái giảng dạy kêu gọi lòng yêu nước, đưa đến chủ
trương chống chính sách thuộc địa. Thực dân Pháp nghi ngờ cho mật thám
theo dõi, tịch thu giấy phép giải tán trường học vào tháng 11.1907.
Khép tội Ðông Kinh Nghiã Thục là lò phiến loạn ở Bắc Kỳ, đóng cửa luôn
tờ (Ðăng Cổ Tùng Báo) cấm lưu hành tàn trữ sách vở. Giáo viên, những
người trong tổ chức bị nghi ngờ, bị kết án tù, đày ra côn đảo.
Ðoàn kết Tôn Giáo Các
tỉnh miền Trung xảy ra chia rẽ với người theo Ðạo Thiên Chúa dưới thời
Phong trào Cần vương. Giáo dân vùng Trà Kiệu quận Duy Xuyên bị cô lập,
bị phân biệt xảy ra tranh chấp đổ máu... Phan Châu Trinh đi khắp nơi
trong tỉnh nhà, kêu gọi toàn dân đoàn kết, chia rẽ gây thêm cảnh khổ
đau dân tộc có lợi cho thực dân. Cụ Phan không đặt vấn đề Lương-Giáo
mọi người đều có trách nhiệm với quốc gia Việt Nam. Nhìn lại các nhà
truyền giáo Tây Phương đã giúp ích cho văn học Việt Nam. Ðạo Thiên Chúa
đào tạo những con Chiên ưu tú như Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) Trương
Vĩnh Ký (1837-1898) .. Phan Châu Trinh tiếp xúc với các vị các linh
mục người Pháp, kêu gọi họ giúp đỡ để khai hóa con Chiên Việt Nam, Phan
Châu Trinh hỏi các Linh mục: Có lẽ dân An Nam không phải
là con chung của Chúa Trời, nên dầu có theo giáo, chỉ có sớm chiều đọc
mấy câu kinh, đến ngày lễ tới nhà thờ quỳ nghe giảng mà thôi sao?„(10)
Lần đầu tiên trong đấu tranh sử nước nhà, giữa Lương-Giáo
được hòa giải san bằng hố sâu ngăn cách, đoàn kết hoạt động với Phong
Trào Duy Tân, làng Phước Kiều (Duy Xuyên) có cơ sở giáo dục Quảng Phước
do một vị nhà dòng dạy học và tổ chức cơ sở chế biến kỷ nghệ đồ đồng
rất tinh xảo như nghề gia truyền cho đến ngày nay. Phong Trào Duy Tân
giúp Dân trí được mở mang mạnh mẽ, nhiều người hưởng ứng nổi bật nhất,
ông Lê Cơ thi đậu tú tài nhưng chỉ làm lý trưởng, con cô cậu với Phan
châu Trinh. Nhân dân được học hỏi tiến bộ, hưởng ứng phong trào như
cắt tóc ngắn, là một thành công lớn của Phong Trào Duy Tân, muốn bỏ
được phong tục lâu đời rất khó, hớt tóc có bài vè cúp tóc, được truyền
tụng trong dân gian, khuyến khích đàn ông hớt tóc ngắn. Phong Trào chủ
trương lâu dài, khai trí dân tộc tiến bộ mau chóng, Dân tộc hiểu được
các quyền tự do: Dân quyền và Nhân quyền, thì chính sách bảo hộ của
người Pháp phải thay đổi.
Cuộc vận động đòi quyền sống, dù bất
bạo động của Phong Trào Duy Tân, công khai dần dần lan rộng, bởi vì
thực dân Pháp và tay sai đàn áp bóc lột đánh thuế nặng, tất cả tai hoạ
của xã hội trong giai đoạn nầy phản ảnh qua những câu ca dao.(11)
Ðời ông cho đến đời cha Ðời nào cực khổ như ta đời nầy Ngoài đồng cắm cọc giăng giây Vườn hà đóng thuế vợ gầy con khô.. Từ ngày Tây chiếm Ðế Ðô Xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi trời!
Diễn tiến cuộc biểu tình Năm
1908 các điạ phương từ tỉnh Quảng Nam đến Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú
Yên, Thừa Thiên, Hà Tỉnh, Nghệ An nổi lên phong trào kháng thuế xin
xâu. Lúc đầu cuộc vận động biểu tình bất bạo động, có tầm mức quan
trọng từ trước chưa xảy ra ở Việt Nam. Tại quận Ðại lộc (11.03.1908)
sau đó Ðiện Bàn rồi các nơi đều hưởng ứng tham gia biểu tình kháng
thuế, chống bọn tay sai, đòi hỏi dân quyền. Thực dân Pháp không giải
quyết nguyện vọng của toàn dân ra lệnh đàn áp. Phong Trào như làng sóng
lên cao, phẩn nộ trong người dân từ lâu bị đè nén và bộc phát. Thực
dân Pháp lúc đầu để Phong Trào Duy Tân hoạt động vì quan niệm sĩ phu kêu
gọi duy tân, theo Âu hóa càng sớm càng mất dần dân tộc tính càng dễ
cai trị. Không ngờ Phong Trào gây ảnh hưởng sâu rộng, đưa đến đấu tranh
chống thuế xin xâu, đụng vào cái thực chất quyền lợi của thực dân. Nếu
không đánh thuế vào dân, lấy tiền đâu nuôi đòan quân viễn chinh, bộ
máy cai trị tại Việt nam, đem tiền bạc về cho nước Pháp.
Thực
dân và bọn tay sai quyết đập tan phong trào kháng thế xin xâu, dùng bạo
lực súng đạn, đàn áp bắn giết đồng bào tham gia trên tay không vũ khí.
Kết án ngọn lửa đấu tranh ấy phát xuất từ Phong Trào Duy Tân, đồng thời
ngoài Bắc ngày 27.6.1908 xảy ra vụ Hà Thành đầu độc. Thực dân Pháp ra
lệnh bắt bỏ tù hàng loạt từ Trung đến Bắc các sĩ phu yêu nước như:
Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Ðức Kế, Châu Thượng Văn (1856-1908), Nguyễn
Thượng Hiền, Lê Cơ, Phan Khôi Tiểu La Nguyễn Thành (1863-1911) vv..
đến nhà tù Côn đảo cũng như Lao Bảo .
Kết án xử chém những người
dẫn đầu đấu tranh tại Quảng Nam: Trần Thuyết (1857-1908 ngày 8-4 tại
Tam Kỳ), Ông Ích Ðường (bị chém ngày 24-4 tại Túy Loan,
các ông Nguyễn Cang, Nguyễn Dực, Phan Tham, Trần Phước, đều bị chém
tháng 5 tại Duy Xuyên. Phong trào đấu tranh máu đổ ra tô thắm thêm
trang sử Việt Nam oai hùng. Phong Trào xin thuế bị dẹp vì thiếu tổ
chức không có người chỉ huy tổng quát. Phong Trào Duy Tân dù thất bại
nhưng nó còn trường tồn mãi trong lịch sử nước nhà.
Phong Trào
có các ưu điểm: tin vào việc tự khai hóa dân tộc, phát triển các ngành
nghề phù hợp với sinh hoạt địa phương, công-thương-nghiệp phải phát
triển toàn diện, không có tinh thần vọng ngoại, truyền bá chữ Quốc
ngữ... Áp dụng chủ thuyết Dân quyền hành động có lý tưởng, xây dựng đất
nước quan tâm đến dân tộc phải tự cường và đoàn kết.
Trong
giai đoạn nầy Trần Qúy Cáp (làm giáo học tại Khánh Hoà, vì nhà nghèo
làm việc theo ý thân mẫu) bị Bố chánh Phạm Ngọc Quát, bắt (16.04) đổ
tội cho cụ Trần xách động và đồng lỏa với phong trào kháng thuế xin
xâu. Bản án dành cho Trần Quý Cáp thật ác nghiệt đó là chủ trương của
chế độ thực dân, bởi vì Trần Quý Cáp viết gởi cho Phan Thúc Duyện có câu
(Ngô dân thử cử khoái khoái khóai = dân ta làm thế sướng ...) vui mừng quê nhà có biểu tình đấu tranh chống thuế xin xâu. Bị kết án „tuy chưa có hành động nhưng đã nuôi cái lòng phản nghịch"
được gọi là bản án „mạc tu hửu" nghĩa là chẳng cần có tội, muốn giết
thì giết, dẹp hết các người yêu nước để bọn thực dân rảnh tay cai trị.
Chính
quyền muốn tử hình Phan Châu Trinh không thực hiện được, lần nầy phải
giết gấp Trần Quý Cáp, tuyên án xử chém ngang lưng tại Khánh Hoà, đến
1924 Trần Quý Cáp được khai phục phẩm hàm, nhưng ông đã an giấc nghìn
thu! 1/ Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng 2/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân 3/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân 4/ Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ trang 236 5/ Ðông Kinh Nghĩa Thục tác giả Nguyễn Hiến Lê trang 95 6/ Quân sử trang 333 xuất bản Bộ tổng tham mưu QÐ VNCH 7/ Phan Bội Châu Ngục trung thư trang 50 8/ Phan Châu Trinh Thế Nguyên 9/ Ðông Kinh Nghĩa Thục tác giả Nguyễn Hiến Lê 10/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân 11/ Quân sử trang 338 xuất bản Bộ tổng tham mưu QLVNCH Tài liệu tham khảo Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nước Toronto 2000 Phan Châu Trinh (1872 - 1926) Tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925 Tác giả Thu Trang Nxb Văn Học Từ Hi Thái Hậu cuốn 2 tác giả Mộng Bình Sơn Nxb Xuân Thu Bộ Quân sử do bộ tổng tham QLVNCH mưu xuất bản Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2 Nguyễn Quyết Thắng