| Khai Dân Trí | Trần Trọng Kim |
Showing posts with label Hồ Chí Minh. Show all posts
Showing posts with label Hồ Chí Minh. Show all posts
2017/10/11
2016/06/29
GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: Khi nào đảng CSVN do ông HCM lãnh đạo sụp đổ hoàn toàn?
GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: Khi nào đảng CSVN do ông HCM lãnh đạo sụp đổ hoàn toàn?
Câu
hỏi trên sẽ dựa trên bộ môn LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC của nền văn hóa Dịch Lý cổ
xưa mà chỉ ra con đường ta phải đi để có đối sách với Phương Bắc và hóa
giải các mâu thuẩn đến từ Đông Tây. Nghĩ cũng cần thưa: Lý số học Hà
Lạc là một môn toán nghiên cứu cái lý số nằm trong các con số Âm Dương
“Tiên Rồng Trăm Trứng”.
Đây là một môn học khách quan, vì nó là
môn đạo học dựa trên các con toán số. Chính nhờ môn này mà xưa cụ trạng
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dựa vào đó mà toán ra và nói lên những lời tiên tri
thế cuộc để đời, như cụ đã nói trong lời mở đầu sấm ký của cụ:
Nước Nam từ thuở Hồng Bàng
Đổi thay cuộc thế thời gian chuyển vần
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần vận nước đổi thay
Núi sông Thiên Định đặt bày
Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành.
Đổi thay cuộc thế thời gian chuyển vần
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần vận nước đổi thay
Núi sông Thiên Định đặt bày
Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành.
Tài
tiên tri của Cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng
Trình”. Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến quốc hiệu
Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, trăm bài thơ văn
với giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho
tàng minh triết cho muôn đời sau.
Thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri dạy rằng:
Biển Đông vạn dậm giang tay giữ
Đất Việt muôn năm vẫn trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Đất Việt muôn năm vẫn trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Với
con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã
khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông, thì đất nước mới thái
bình, thịnh trị muôn đời.
Để biết được một chế độ từ lúc nắm
chính quyền cho đến thời điểm suy và sụy đổ, ta phải áp dụng và giải mã
lời tiên tri của cụ Trạng, và Cụ đã nói: “Một câu là một nhiệm mầu”. Lấy
3 câu trong 483 câu sấm.
Các câu số:
116. Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117. Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118. Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
116. Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117. Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118. Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
Trong 3 câu, chỉ lấy ra một câu để giải mã: câu 117.
117: Chữ rằng Lục Thất nguyệt gian
117: Chữ rằng Lục Thất nguyệt gian
Ẩn ý chữ “Lục Thất: là gì?
Lục là số 6, thất là số 7, tổng số là 13. Số 13 gọi là Lục Thất. Ẩn ý nói thời gian hưởng được 13 năm.
Lục là số 6, thất là số 7, tổng số là 13. Số 13 gọi là Lục Thất. Ẩn ý nói thời gian hưởng được 13 năm.
Tiếp tục lấy 3 câu sấm khác. Các câu số:
395. Canh niên tàn phá
396. Tuất Hợi phục sinh
397. Nhị Ngũ dư bình
396. Tuất Hợi phục sinh
397. Nhị Ngũ dư bình
Ba lời tiên tri cũng lấy ra câu 397 để giải mã, để biết được thời gian suy và sụp đổ.
“Nhị Ngũ” là gì? Nhị là số 2, ngũ là số 5. Hai số 5 là số 10. Ẩn ý nói: thời gian 10 năm mới là thời gian suy và sụp đổ.
Tổng
số thời gian của một chế độ kéo dài bao nhiêu. Số thời gian đó đem chia
cho số 13, ta biết được số Lục Thất được hưởng của chế độ.
Để chứng minh và áp dụng từ nhà Hậu Lê.
NHÀ HẬU LÊ
Lê Lợi xưng vương năm 1428 và truyền đến vua Chiêu Thống tức là Mẫn Đế thì
hết. Nhà Hậu Lê làm vua kể cả tiền Lê được 360 năm. Năm (1428 đến
1788).
Lấy 360 năm chia cho 13 được 27 Lục Thất tức là 13 x 27 = 351 năm.
Nhà Hậu Lê hưởng được 351 năm thì bị suy. Tức năm 1428 + 351 = 1779. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1779 + 10 = 1789.
NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN
Nguyễn Nhạc xưng vương năm 1779. Nhà Nguyễn Tây Sơn hưởng được một Lục Thất 13
năm thì bị suy, tức năm 1779 + 13 = 1792. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì
vong, tức năm 1792 + 10 = 1802.
NHÀ NGUYỄN GIA LONG
Gia Long xưng vương năm 1802, hưởng được 11 Lục Thất, tức 13 x 11 = 143 năm thì
bị suy tức 1802 + 143 = 1945. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1945 +
10 = 1955 (ngày 23 tháng 10 Bảo Đại bị dân truất phế.)
NHÀ HỒ
Hồ Chí Minh cướp chính quyền nhà Nguyễn, vua Bảo Đại năm 1945. Nhà Hồ
hưởng được 5 Lục Thất, tức 13 x 5 = 65 năm thì bị suy, tức 1945 + 65 =
2010. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 2010 + 10 năm = 2020.
| Sau khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017, và sự sụp đổ như thế nào? chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. |
- Canh Dần 2010
- Tân Mẹo 2011
- Nhâm Thìn 2012
- Quý Tị 2013
- Giáp Ngọ 2014
- Ất Mùi 2015
- Bính Thân 2016
- Đinh Dậu 2017
(Cộng Sản sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017 ứng theo Sấm Ký Thân Dậu)
- Mậu Tuất 2018
- Kỷ Hợi 2019 (Tuất + Hợi phục sinh)
- Canh Tý 2020
Sau
khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân
Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn
Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng
và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng
Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm
2017, và sự sụp đổ như thế nào? chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng
với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.
Sau khi Cộng Sản
sụp đổ, chế độ mới lên thay thế dưới sự lãnh đạo của một đấng Minh Quân
tài đức vẹn toàn và mang lại cho dân tộc Việt Nam một đời sống tự do,
ấm no và hạnh phúc muôn đời.
Tôi là một HO thầm lặng bình thường,
không phải là một nhà bình luận, không phải nhà chính trị, không phải
nhà văn, không phải nhà báo. Nhưng tôi cũng yêu quê hương tôi, yêu dân
tộc tôi. Tôi nói lên những điều mà tôi hiểu và biết cho tất cả mọi người
Việt Nam giảm bớt sự âu lo, và đất nước Việt Nam không mất một tấc đất
nào cho bọn bành trướng Bắc Kinh, dù trong đất liền hay ngoài các quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hiện nay, bọn bành trướng đã làm những gì mà
người Việt chúng ta nhìn thấy. Bọn chúng sẽ giao lại cho người Việt Nam
sau này.
Mai Xuân Tấn
Vĩnh Liêm sưu tầm, 29-6-2016
| Khai Dân Trí | Mai Xuân Tấn |
2015/03/21
KẺ TRÊN TRĂM TÊN
KẺ TRÊN TRĂM TÊN
Trần Gia Phụng
Người
xưa thường có tên húy do cha mẹ đặt, tên tục, tên thường dùng, tên thụy
(sau khi chết). Nhiều người có thêm tên tự (tên chữ), tên hiệu, biệt
hiệu. Ngày nay, các văn nghệ sĩ có bút danh, nghệ danh, biệt hiệu, nhà
buôn có thương hiệu, tu sĩ có pháp danh (Phật giáo), tên thánh (Ky-Tô
giáo), hướng đạo sinh có tên rừng ...
Trong
ngành tình báo, kể cả trong tiểu thuyết gián điệp, các điệp viên thường
có nhiều tên hoặc bí danh, bí số khi hoạt động để tự giấu mình và đánh
lừa kẻ khác. Ngoài ra, còn có nhiều người thay tên đổi họ để lừa bịp,
lừa tiền hoặc lừa tình.
KẺ TRÊN TRĂM TÊN
Dầu
là ngày xưa hay ngày nay, dầu thực tế hay tiểu thuyết, dầu là giới tình
báo hay những kẻ lừa bịp, trên cõi đời nầy, có lẽ không ai có nhiều tên
bằng Hồ Chí Minh (HCM), chủ tịch nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức
Bắc Việt Nam trước năm 1975.
Theo thống kê chính thức của nhà cầm quyền cộng sản hiện nay ở trong nước, trong sách Những tên gọi, bí danh, bút danh của chủ tịch Hồ Chí Minh,
do Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb. Chính Trị Quốc Gia ấn hành năm
2001 ở Hà Nội, thì HCM có tất cả 169 bí danh, mà CS gọi là bút hiệu, bút
danh, vừa để hoạt động, vừa để viết báo. Sách nầy còn ghi thêm một số
bí danh nghi ngờ là của HCM mà người CS còn đang tìm hiểu thêm.
Hồ
Chí Minh sống khoảng 80 tuổi. Từ khi sinh ra cho đến khi chết, HCM
dùng 169 bí danh, tính trung bình mỗi năm HCM có hai bí danh. Cũng theo
thống kê trên đây, trong 169 bí danh nầy, từ khi sinh ra cho đến năm
1954 (64 năm), HCM dùng 133 bí danh, nghĩa là trung bình một năm cũng
hai bí danh. Từ 1954, làm chủ tịch Bắc Việt Nam cho đến khi chết năm
1969 (15 năm), HCM có 36 bí danh. Vậy trung bình một năm, HCM dùng hơn
hai bí danh.
Trong
bài nầy, chúng ta không nhắc lại tất cả những tên và bí danh của HCM,
chỉ xin nói đến một vài cái tên và bí danh đặc biệt mà thôi.
NGUYỄN TẤT THÀNH, HY VỌNG THÀNH ĐẠT
Đầu
tiên, tên khai sinh của HCM là Nguyễn Sinh Cung. Giọng địa phương
nguyên quán Nghệ An của Nguyễn Sinh Cung, phát âm chữ Cung là Côông. Vì
vậy có tài liệu ghi tên cúng cơm của HCM là Nguyễn Sinh Côn. (Ví dụ:
Trần Quốc Vượng, Trong cõi, Nxb. Trăm Hoa, California, 1993, bài
"Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho
gia (kinh nghiệm điền dã)".)
Điều
đặc biệt là anh của Nguyễn Sinh Côn tên là Nguyễn Sinh Khiêm
(1888-1950). Giọng địa phương phát âm chữ “Khiêm” là “Khơm”. Như thế,
một người tên Khơm, một người tên Côn. Tên hai anh em ghép lại đọc
chung là “Khơm Côn”. Đọc ngược hai chữ “Khơm Côn” nầy lại (nói lái) là
“Khôn Cơm”. Giọng địa phương (từ Nghệ An vào Thừa Thiên) “khôn” còn có
nghĩa là “không”. “Khôn cơm” nghĩa là không có cơm mà ăn. Có người lý
giải rằng vì tên của hai anh em nhà nầy “khôn cơm”, nên phụ thân là
Nguyễn Sinh Sắc (sau đổi tên là Nguyễn Sinh Huy) nghèo mãi. Người ta
nói vì vậy mà ông Sắc đổi tên hai con. Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn
Tất Đạt. Còn Nguyễn Sinh Cung (hay Nguyễn Sinh Côn) thành Nguyễn Tất
Thành, hy vọng về sau gia đình sẽ thành đạt, giàu có.
NGUYỄN ÁI QUỐC: CHÔM TÊN CỦA NHIỀU NGƯỜI
Cái
tên thứ hai đáng nói của HCM là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Tất Thành làm
phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville và theo tàu nầy rời Sài Gòn,
đi Pháp ngày 5-6-1911. Ông đặt chân đến Marseille, hải cảng miền Nam
nước Pháp, ngày 6-7-1911. Nguyễn Tất Thành làm đơn xin tổng thống Pháp
được đặc ân vào học Trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp,
nhưng không được chấp thuận, nên Thành đành tiếp tục theo tàu hành
nghề. Sau thế chiến thứ nhứt (1914-1918), Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp
giữa năm 1919. (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l 'Indochine au Vietnam,
Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 42.) Tại đây Nguyễn Tất Thành gặp
Phan Châu Trinh, đậu phó bảng tại Thừa Thiên (Huế) năm 1901, cùng khóa
với Nguyễn Sinh Huy, phụ thân của Nguyễn Tất Thành. Nhờ sự giới thiệu
của Phan Châu Trinh, Thành quen với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền.
Qua ba người nầy, Thành bắt đầu tiếp xúc với giới chính trị Paris, nhất
là giới chính trị đối lập với chính phủ Pháp.
Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc (Daniel Hémery, sđd.
tt. 44-45), đồng ký bản “Revendications du peuple annamite” [Thỉnh
nguyện thư của dân tộc Việt], bằng Pháp văn, do Phan Văn Trường soạn,
gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles tại
Paris sau thế chiến thứ nhứt, bắt đầu từ 18-1-1919. Thỉnh nguyện thư
của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L'Humanité [Nhân Đạo] ngày 18-6-1919.
Trong
bốn người cùng dùng chung bút hiệu (Nguyễn Ái Quốc), Phan Châu Trinh,
Phan Văn Trường đang bị mật thám Pháp theo dõi, không tiện ra mặt;
Nguyễn Thế Truyền là sinh viên du học, đang hưởng học bỗng của Pháp để
học ngành hóa học, nên không thể công khai chống Pháp; chỉ có Nguyễn Tất
Thành là người mới đến, chưa bị mật thám Pháp chú ý. Nguyễn Tất Thành
thường đại diện cả nhóm, dùng tên Nguyễn Ái Quốc để liên lạc với báo
giới và chính giới. Dần dần Nguyễn Tất Thành dùng luôn bút hiệu Nguyễn
Ái Quốc làm tên riêng của mình. Từ nay, Nguyễn Tất Thành được gọi là
Nguyễn Ái Quốc.
HỒ CHÍ MINH: TIẾM DANH HAY TRỞ LẠI HỌ CŨ
Cái
tên thứ ba đáng nói nữa là Hồ Chí Minh. Cũng như tên Nguyễn Ái Quốc,
tên Hồ Chí Minh không phải do Nguyễn Sinh Cung chọn, mà Cung cũng tiếm
danh của người khác.
Nguyên
hai nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa là Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải
Thần, được sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, thành lập Việt Nam
Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh tại Nam Kinh vào tháng
1-1936. Ngoài Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, các hội viên nòng cốt khác
là Nguyễn Thức Canh, Đặng Nguyên Hùng, Hoàng Văn Hoan [bí danh là Lý
Quang Hoa, thuộc chi bộ Vân Quý tức Vân Nam và Quý Châu (Guizhou) của
đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).]
Năm 1937, Hồ Học Lãm đến hoạt động ở tỉnh Hồ Nam, và lấy tên là Hồ Chí Minh. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí,
Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 168.) Cũng trong năm nầy, trước hiểm
họa xâm lăng của Nhật Bản, hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa liên minh lần thứ
hai ngày 22-9-1937.
Do
sự liên minh nầy, chính quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa cho phép đảng CS
hoạt động công khai trở lại. Vì vậy, vào mùa thu năm 1938, đảng Cộng
Sản Liên Xô, qua danh nghĩa Đệ tam Quốc tế Cộng sản, gởi Nguyễn Ái Quốc
từ Liên Xô qua Trung Hoa hoạt động trở lại với tên mới là Hồ Quang. Hồ
Quang liền liên lạc và điều động nhóm đảng viên thuộc cơ sở hải ngoại
đảng CSĐD.
Nhờ
sự giới thiệu của Hồ Học Lãm, vào gần cuối năm 1940, một số đảng viên
CSĐD, dưới vỏ bọc là thành viên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt
Minh), đến Quế Lâm (Guilin / Kweilin tỉnh Quảng Tây) gặp Lâm Uất, phó
chủ nhiệm hành dinh tây nam của Tưởng Giới Thạch. Lâm Uất đưa nhóm nầy
đến gặp chủ nhiệm của ông ta là Lý Tế Thâm. (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký. Portland, Oregon: Nhóm tìm hiểu lịch sử, 1991, tr. 134.)
Do
tin cậy Hồ Học Lãm, cả Lâm Uất lẫn Lý Tế Thâm đã giúp đỡ họ, và không
biết nhóm nầy là những đảng viên CSĐD. Từ đó, những đảng viên CSĐD hoạt
động ở Trung Hoa cũng như ở trong nước, đều sử dụng danh xưng Việt
Minh, hay nói cách khác, đảng CSĐD đã chiếm dụng danh xưng tổ chức Việt
Minh của Hồ Học Lãm, làm tên mặt trận chính trị của đảng CSĐD. Trong
khi đó, từ cuối năm 1940, Hồ Quang (Nguyễn Tất Thành) sử dụng thông hành
khác mang tên là Hồ Chí Minh. Tên nầy vốn là bí danh của Hồ Học Lãm.
Hồ Chí Minh mới (Hồ Quang, Nguyễn tất Thành) ngụy trang là ký giả của
một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, sđd. tr. 161.)
Với
bí danh khác là Già Thu, Hồ Chí Minh (HCM) trở về Việt Nam ngày
28-1-1941, sống ở Pắc Bó (Cao Bằng), lập Mặt trận Việt Minh ở trong
nước. Tại đây, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Già Thu tổ chức Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương đảng CSĐD lần thứ 8 từ ngày 10-5 đến ngày 19-5-1941
tại Pắc Bó. Sau đó, Già Thu tiếp tục qua Trung Hoa hoạt động khoảng từ
tháng 8-1942, lấy luôn bí danh của Hồ Học Lãm là HCM, làm tên mới của
mình. Hồ Chí Minh bị bắt tại trấn Thiên Bảo (Quảng Tây) ngày 29-8-1942
và được tha ngày 10-9-1943. (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2, sđd. tt. 278, 283.)
Từ
đây, HCM trở thành tên chính thức của Nguyễn Sinh Cung, kể cả khi lên
làm chủ tịch Bắc Việt Nam năm 1954, cho đến cuối đời. Trần Quốc Vượng,
một sử gia cộng sản ở trong nước, giải thích như sau về hiện tượng trên:
"Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích
thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ Nguyễn Sinh Nhậm." (Trần Quốc Vượng, sđd. tr. 258.)
Trước
sau vụ việc theo lời kể của Trần Quốc Vượng là như sau: Nguyễn Sinh
Cung (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) là con của Nguyễn
Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy). Nguyễn Sinh Sắc là con của Nguyễn Sinh
Nhậm. Trước khi đám cưới, bà vợ của Nguyễn Sinh Nhậm đã có mang với cử
nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ
của Nguyễn Sinh Sắc mà thôi, còn người cha thực sự của Nguyễn Sinh Sắc
là Hồ Sĩ Tạo, tức Hồ Sĩ Tạo là ông nội thực sự của Nguyễn Sinh Cung. Vì
vậy, Nguyễn Sinh Cung rất bằng lòng với danh xưng Hồ Chí Minh, là họ
của ông nội ruột của ông. Câu chuyện nầy, ngày nay ở quê của HCM, tức
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ai cũng biết và ai cũng đều xác nhận là đúng sự thật.
C.B. LÀ “CỦA BÁC”, CHỨ CỦA AI VÔ ĐÓ
Ngày
20-4-1953, sắc lệnh Cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt thứ 3 được ban hành.
Nơi thực hiện đầu tiên là Thái Nguyên. Người bị đấu tố đầu tiên là bà
Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long nên người ta quen gọi là bà
Cát Hanh Long. Bà Cát Hanh Long bị đem ra đấu tố ba lần và bị giết ngày
9-7-1953.
Bà
Cát Hanh Long (bà Năm) là một quả phụ, nổi tiếng là nhà kinh doanh tài
ba, hào hiệp, giúp đỡ nhiều người. Từ 1945 đến 1951, bà Cát Hanh Long
đã từng dùng nhà mình làm nơi hội họp, nghỉ ngơi, che giấu, ăn ở, nuôi
dưỡng cán bộ CS, trong đó có những nhân vật cao cấp như Trường Chinh, Lê
Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí
Thanh, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Hoàng Tùng... Bà còn đóng góp nhiều tiền
bạc cho VMCS, nên việc đấu tố và xử tử bà Cát Hanh Long gây nhiều dư
luận bất bình.
Vì vậy, trên báo Nhân Dân
ngày 21-7-1953, xuất hiện bài viết nhan đề là “Địa chủ ác ghê” của tác
giả C.B. nhằm trấn an dư luận. Bài báo lên án nặng nề địa chủ Cát Hanh
Long (Nguyễn Thị Năm) cùng hai con là những địa chủ gian ác, bóc lột, dã
man. Bài báo còn tố cáo gia đình bà Cát Hanh Long vừa trực tiếp, vừa
gián tiếp giết chết 260 người. (Xin xem bài báo nầy ở phía dưới.)
Theo
hồi ký của Hoàng Tùng, từng là bí thư Trung ương đảng CSVN, khi nghe
tin cố vấn Trung Quốc yêu cầu xử tử bà Cát Hanh Long, có người báo tin
cho HCM biết. Họp Bộ chính trị đảng CS, HCM nói: “Tôi đồng ý người
có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng
đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại giúp đỡ cho cách
mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một
cành hoa.” (Internet: Hồi ký Hoàng Tùng, mục “Những kỷ niệm về Bác
Hồ”.) Hoàng Tùng còn cho biết rằng khi cố vấn Trung Quốc nhiều lần đề
nghị, HCM nói rằng: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cho là không phải.”
Theo một tài liệu mới xuất bản vào giữa năm 2014, tác giả là một người đã từng là ký giả báo Nhân Dân Hà
Nội, có nhiệm vụ viết bài tường thuật vụ xử án bà Cát Hanh Long, khi
xảy ra vụ án thì: 1) Hồ Chí Minh bịt râu, hóa trang để đến dự đấu tố. 2)
Trường Chinh đeo kính đen để khỏi bị nhận diện khi tham gia cuộc đấu
tố. 3) Sau khi bà Năm bị giết, cán bộ mua một cái hòm thật rẻ tiền để
chôn địa chủ “gian ác”. Vì rẻ tiền nên hòm nhỏ quá, bỏ xác người chết
vào không lọt. Cán bộ CS kết án bà Năm thêm lần nữa, là chết rồi mà còn
phản động, không chịu chui vào hòm. Cán bộ CS liền đứng lên đạp xác bà
Năm xuống; xương gãy kêu răng rắc rất rợn người. (Trần Đĩnh, Đèn cù, Hoa Kỳ: Người Việt Books, 2014, tr. 86.)
Sự
hiện diện của HCM và Trường Chinh trong phiên tòa đấu tố nầy chứng tỏ
tầm mức quan trọng của cuộc đấu tố bà Cát Hanh Long và cũng chứng tỏ cả
hai đều quyết tâm giết bà Cát Hanh Long ngay khi mở đầu cuộc CCRĐ năm
1953.
Lúc đó, chỉ có giới cán bộ cao cấp và một số người trong báo Nhân Dân
(trong đó có Trần Đĩnh) mới biết được C.B. đích thị là ai? Còn đại đa
số dân chúng, trong thời gian dài, không biết C.B. là ai? Gần đây, trên
Internet, có tài liệu phát hiện C.B. là bút hiệu của HCM dùng trên 147
bài đăng trên nhật báo Nhân Dân từ tháng 3-1951 đến tháng 3-1957. Những người làm việc trong báo Nhân Dân giải thích rằng hai chữ C.B. là “của bác”, chứ còn ai vô đó nữa. Ngày nay, bộ Hồ Chí Minh toàn tập
đã được phổ biến rộng rãi. Mọi người có thể vào từ tập 6 (1951-1952),
sẽ thấy rất nhiều bài viết HCM ký tên C.B. đăng trên báo Nhân Dân, và đăng lại trong sách nầy; ví dụ các trang 186, 187, 188-190, 202-204, 209-212, 215-220... (Hồ Chí Minh toàn tập,
tập 6, 1951-1952, in lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia,
2000.) Hồ Chí Minh lên tiếng có thể nhắm cho đảng viên biết rằng vụ xử
tử bà Cát Hanh Long là chủ trương của đảng để chấm dứt chuyện bàn tán,
phê bình.
Như
vậy có nghĩa là bên ngoài thì HCM tỏ ra rất đạo đức, thương tiếc nạn
nhân, nhưng bên trong, chính HCM là người quyết định cái chết của ân
nhân Nguyễn Thị Năm. Đúng là “khẩu Phật tâm xà”, một kẻ đạo đức giả
gian ác, nham hiểm như Nguyễn Du đã mô tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười,/ Mà trong nham hiểm giết người không dao.” (Truyện Kiều câu 1815-1816.)
TRẦN DÂN TIÊN, T. LAN: THỔI ỐNG ĐU ĐỦ
Thổi
ống đu đủ là trò chơi của trẻ con Việt Nam, dùng cọng lá đu đủ làm ống,
chấm nước xà phòng rồi thổi thành bong bóng bay lên trời. Trong văn
học, có hai tác giả chuyên thổi ông đu đủ hết sức tài ba là Trần Dân
Tiên và T. Lan. Trần Dân Tiên là tác giả sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, và T. Lan là tác giả sách Vừa đi đường vừa kể chuyện.
Quyển
sách thứ nhứt xuất hiện lần đầu ở Trung Quốc năm 1948, sau đó ấn hành ở
Paris năm 1949. Sau năm 1954, Nx, Văn Nghệ Hà Nội tái bản năm 1955,
rồi Nxb. Sự Thật tái bản nhiều lần, và sau năm 1975, Nxb. Trẻ tái bản ở
Sài Gòn.
Sách Vừa đi đường vưa kể chuyện được đăng lần đầu trên báo Nhân Dân năm 1961 và sau đó Nxb. Sự Thật tái bản nhiều lần. Những tái bản sau cùng do Nxb. Trẻ ở Sài Gòn đảm trách.
Lúc
đầu, người ta không biết hai tác giả Trần Dân Tiên và T. Lan là ai?
Người ta cũng không tìm ra hai người nầy ở đâu, vì chẳng ai có đứng ra
nhận mình là Trần Dân Tiên hay T. Lan. Tuy nhiên dần dần người ta cũng
tìm được hai bút danh nầy đều là của HCM. Trước hết, các phiếu sách
trong thư viện nhà nước đề là: “Trần Dân Tiên, T. Lan: tìm HCM”. Điều
nầy cho người đọc tự động hiểu rằng Trần Dân Tiên và T. Lan chính là
HCM. Tuy nhà cầm quyền CS không chính thức xác nhận điều nầy, nhưng
những nhà nghiên cứu trong nước hầu như đồng thừa nhận Trần Dân Tiên và
T. Lan là HCM. Có tài liệu cho biết bản gốc sách của T. Lan hiện còn
được cất giữ ở Phủ chủ tịch Hà Nội.
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Trần Dân Tiên đã viết trong phần đầu sách: "Một
người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và
đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe
bình sinh của người được?” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,
Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1976, tr. 9.) Một người dùng một cái tên khác
viết sách, tự khen mình là khiêm tốn không muốn nói về mình, rồi sau đó,
suốt trong quyển sách lại kể lể, tự đề cao sự nghiệp của mình, thì
không biết nên xếp kẻ đó vào loại người gì đây?
Trong
sách nầy, chẳng những HCM tự đề cao mình mà còn chê bai những anh hùng
dân tộc như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, hoặc đả kích
các nhà đấu tranh khác như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng
Khanh, hoặc triệt hạ tổ chức hay đảng phái khác
Cuối sách nầy, Trần Dân Tiên viết: "Nhân dân gọi Chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam." (Trần Dân Tiên, sđd.
tr. 149.) Lời nầy cho thấy HCM muốn gợi ý để được người Việt Nam gọi
ông là cha già của dân tộc, nhưng không được hưởng ứng, nên ông quay qua
dùng chữ "bác". Ở đây lại thấy HCM thậm khôn, vì trong cơ cấu gia tộc
Việt Nam, bác là anh của cha, bác lớn hơn cha và đứng trước cha trong
sinh hoạt đại gia đình, hoặc lễ nghi tế tự.
Sách Vừa đi đường vưa kể chuyện
do HCM tự kể tự viết, nhưng dùng một cái tên khác là T. Lan, một cán bộ
đi theo HCM trên bước đường công tác. Câu chuyện bắt đầu từ khi HCM
hoạt động ở Pháp từ năm 1919, rồi những năm hoạt động ở Nga, Trung Hoa,
cho đến khi về nước và chiến dịch 1950. Dĩ nhiên luôn luôn xen kẻ những
lời xưng tụng HCM là người yêu nước, đầy sáng kiến, tài ba, khoan
dung...
Hồ
Chí Minh sáng tạo ra hai con rối Trần Dân Tiên và T. Lan trong hai
quyển sách do HCM viết ra trên đây, nhắm thổi ồng đù đủ để ca tụng chính
mình, tự quảng cáo mình, huyền thoại hóa tên mình, mà một người tự
trọng bình thường không bao giờ làm thế. Những người không biết Trần
Dân Tiên và T. Lan là ai, nhất là các trẻ em ngây thơ, được học hai
quyển sách nầy trong nhà trường, nên một thời lầm lẫn tôn sùng thần
tượng HCM. Tuy nhiên khi lớn lên, biết được sự thật là Trần Dân Tiên và
T. Lan chỉ là HCM trá hình, thì chẳng những sẽ thất vọng mà còn khinh
bỉ. Thì ra HCM cũng có ngón nghề thổi ống đu đủ, tự bơm, tự nổ. Khổ
một điều, ai phát hiện kẻ đạo diễn của hai tên thổi ông đù đủ nầy, thì
ngậm mà nghe chứ không dám nói ra, vì nói ra sẽ bị báo cáo và bị CS bắt
bỏ tù.
TRÊN TRĂM TÊN ĐỂ LÀM GÌ?
Hồ
Chí Minh có 169 tên, không ai có thể nhớ hết được. Ngay cả HCM có thể
cũng không nhớ hết được. Một câu hỏi đặt ra là HCM dùng nhiều tên,
nhiều bí danh để làm gì?
Thông
thường, một người không dùng tên mình, mà dùng một tên khác trong công
việc, vì sợ lộ bí mật, muốn giấu mặt, giấu lý lịch, nhất là trong những
hành vi thiếu trong sáng, phi pháp, bất chính. Càng nhiều tên càng muốn
giấu mặt thật kỹ. Ngay cả vua Bảo Đại (trị vì 1926-1945) cho đến tháng
8-1945 không biết HCM là ai? (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 188.)
Hồ
Chí Minh hầu như muốn “chôn” luôn tên do cha mẹ đặt ra tức tên Nguyễn
Sinh Cung, dùng trên một trăm tên khác nhau tùy vào giai đoạn hoạt động
trong cuộc đời của HCM:
Từ nhỏ cho đến khi đến Pháp năm 1919:11 tên
Từ 1920 đến khi về nước năm 1941: 73 tên
Từ 1941 đến 1945 (cướp chính quyền): 13 tên
Từ 1946 đến 1954 (thời chiến tranh): 36 tên
Từ 1955 đến 1969 (chủ tịch nước): 36 tên
Nhìn
vào bảng thống kê trên đây, từ khi còn nhỏ cho đến năm 1919 (khoảng 30
năm), HCM có 11 tên, tuy là ít so với tổng số tên trong toàn cuộc đời
HCM, nhưng có thể nói là đã nhiều so với cả đời người bình thường. Lý
do có thể là ngay từ khi vừa mới lớn, HCM mặc cảm hay xấu hổ về nguồn
gốc gia đình mình, vì vậy tránh dùng tên do gia đình đặt.
Nguyên
do là khi mới lớn ở nguyên quán (Nam Đàn, Nghệ An), chắc chắn HCM nghe
được dân làng truyền miệng về nguồn gốc của cha mình. Đó là Nguyễn Sinh
Nhậm chỉ là cha hờ của Nguyễn Sinh Sắc (Huy), tức ông nội hờ của HCM,
còn Hồ Sĩ Tạo mới là cha thật của Nguyễn Sinh Huy (Sắc) tức ông nội thật
của HCM. Đây là một điều rất xấu hổ trong xã hội nề nếp Việt Nam ngày
xưa, nhất là ở nông thôn, nơi mà người người biết nhau, nhà nhà biết
nhau. Điều nầy có thể ám ảnh Nguyễn Sinh Cung và tạo ra tâm lý bất
thường nơi người thanh niên từ khi mới lớn cho đến cuối đời, sợ người ta
phát hiện cha mình là đứa con hoang.
Hơn
nữa, HCM lớn lên trong thời đại khoa bảng Hán học. Con ông phó bảng,
nghĩa là cũng con nhà có học, mà thanh niên nầy lại không có học vị,
chẳng có bằng cấp gì, vì nếu có học vị, có bằng cấp giấy tờ, thì HCM
không thay đổi tên tuổi vì thay đổi thì văn bằng hết giá trị. Vì những
mặc cảm trên đây, HCM thay đổi tên họ nhiều lần ngay cả trước khi hoạt
động chính trị và gián điệp.
Từ
năm 1920 cho đến năm 1954, tức từ khi tham gia hoạt động chính trị ở
Pháp, rồi gia nhập đảng CS Pháp, qua Nga (Liên Xô), qua Trung Hoa, về
Việt Nam, đến khi lên làm chủ tịch Bắc Việt Nam, HCM có 122 tên.
Cần
chú ý là từ năm 1920 trở đi, xảy ra một khúc quanh quan trọng trong đời
HCM. Đó là HCM gia nhập đảng Xã Hội Pháp, rồi đảng Cộng Sản Pháp. Vì
vậy, HCM được Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) chọn qua Liên Xô để huấn
luyện năm 1923, Tuy nhiên HCM không đủ trình độ văn hóa, nhất là ngôn
ngữ và toán học để học chủ nghĩa Mác-xít, vì HCM chỉ mới học tới lớp 6 ở
trường Quốc Học Huế, lại chưa biết tiếng Nga. Do đó, tại Học Viện Thợ
Thuyền Đông Phương ở Moscow, HCM chỉ học cấp tốc về nghề gián điệp, làm
nhân viên tình báo cho ĐTQTCS để mưu sinh. Nghề nầy phù hợp với khả
năng ứng xử linh động mau lẹ của một người giảo quyệt như HCM, vốn là
một kẻ giang hồ, lăn lóc trên các bến tàu trong các chuyến hải hành quốc
tế.
Vì
là một gián điệp chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy tại Học Viện Thợ
Thuyền Đông Phương ở Moscow, HCM có thói quen thay họ đổi tên của một
gián điệp, thường dùng tên giả để hoạt động. Hơn nữa, những hoạt động
của HCM là hoạt động chính trị tả phái khuynh đảo, phá hoại nên phải
luôn luôn thay đổi tên họ để tránh bị theo dõi và bắt giam.
Trong
thời gian hoạt động tranh đấu cướp chính quyền, cần phải ẩn trốn, cần
phải tránh né, HCM dùng nhiều bí danh, có thể cho là bình thường. Tuy
nhiên, điều đặc biệt là trong giai đoạn từ 1955 đến khi chết (1969), tức
thời kỳ làm chủ tịch nước, quyền uy tột đỉnh, không còn phải sợ ai cả,
HCM vẫn sử dụng 36 tên giả trên báo chí, không đề tên thật.
Đường
đường là chủ tịch một nước độc tài toàn trị, chẳng còn sợ ai, tại sao
lại phải dùng nhiều tên giả để viết báo? Như thế phải có âm mưu gì?
Nếu những âm mưu nầy không gian trá, không bất chính, thì tại sao HCM
phải giấu tên? Điều nầy cho thấy HCM là một người bản chất xảo quyệt,
mang não trạng bệnh hoạn của một tên đại bịp, chuyên lừa đảo người khác,
ném đá giấu tay.
Hơn
nữa, HCM là con người hết sức tham vọng, chủ trương thổi tên HCM thành
một huyền thoại cao quý, để cho dân chúng ngưỡng mộ HCM, không muốn ai
nghĩ xấu về HCM, nên HCM đặt tên HCM riêng ra một bên. Trong lúc đó,
khi có nhu cầu tự ca tụng mình, hay tấn công người khác, ném đá giấu
tay, thì HCM dùng đến bí danh, chứ không dùng tên mình, dù đang là chủ
tịch nước, nhằm bảo vệ thanh danh riêng của HCM. Đây là tâm lý của một
người sùng bái cá nhân trong các chế độ độc tài.
KẾT LUẬN
Tóm
lại, HCM có 169 cái tên, bí danh, bút danh, bút hiệu, vừa trong thời
gian hành nghề gián điệp, hoạt động bí mật, và cả trong thời kỳ cầm
quyền, làm chủ tịch nước. Dầu chế độ CSVN có ca tụng gì đi nữa, có tung
hê HCM đến đâu đi nữa, HCM dùng 169 tên để giấu mặt, là bằng chứng rõ
ràng HCM là một kẻ xảo quyệt, gian trá, tráo trở, đạo đức giả, chuyên
ném đá giấu tay, chứ chẳng hay ho gì việc ẩn danh đánh phá kẻ khác.
Hồ Chí Minh không phải chỉ là “một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại" như Bernard Fall viết trong Les deux Viet-Nam (Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102), mà HCM còn là tên lừa đảo muôn mặt, bịp bợm nhất trong lịch sử Việt Nam. (Trích: Một thế kỷ lừa đảo, sẽ xuất bản.)
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)
| Khai Dân Trí | Trần Gia Phụng |
2015/01/28
Hồ ly qua kính chiếu yêu Trần Đức Thảo
Hồ ly qua kính chiếu yêu Trần Đức Thảo
Vạng Lộc
Hồ Chí Minh được đảng Việt cộng coi là người có một đầu óc siêu việt, hết lòng vì dân vì nước, không màn danh lợi, hy sinh đời sống riêng tư, đã chỉ đạo công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để thống nhứt đất nước.
Tuy ông Hồ chết đã lâu (1969), ông vẫn còn tôn sùng như một ông thánh trọn tốt trọn lành, các hình tượng chẳng những đặt ở các công sở, công viên mà còn đặt trong các đền chùa miếu mạo, tập đoàn cầm quyền muốn tiếp tục ăn oản thì phải làm như thế (như lời mách cho Trịnh Kiểm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản.").
Thật hư thế nào?
Hãy nghe phân tích của triết gia Trần Đức Thảo, người đã quyết tâm về nước hầu giúp ông Hồ trong công cuộc giải phóng đất nước, đem lại ấm no hạnh phúc cho đồng bào, các đoạn chữ xiêng trích ra từ cuốn Trần Đức Thảo.-Những lời trăng trối do Tri Vũ -Phan Ngọc Khuê ghi lại do Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa kỳ ấn hành năm 2014.
Trước hết xin nhắc qua quyết tâm về phục vụ tổ quốc của Trần Đức Thảo, nhân trong cuộc tiếp xúc với ông Hồ với một số trí thức ở Paris năm 1946, ông bày tỏ: "Tôi rất mong được về nước cùng cụ xậy dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp ... tại quê hương ta"! ... Ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì "ông cụ" nói với tôi một cách nghiêm nghị: "Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn." (259)
Dầu vậy, ông cũng cố lặn lội về nước cho bằng được, ông kể: "tôi về là do sự vận động của tôi với sự trợ giúp của đảng cộng sản Pháp. Và qua đảng cộng sản Pháp thì có cả sự giúp đỡ của phía lãnh đạo Liên Xô nữa." (242), "tôi trở về bằng đường xe lửa Liên Á của Liên xô. Rồi chuyển qua một tuyến xe lửa khác tới ga An Huy ở Mãn châu của Trung quốc" (84).
Đấy là một nghi vấn đối với ông Hồ, ông luôn "bị coi như là một kẻ phản động, bị nghi là "kẻ địch cài vào hàng ngũ cách mạng"" (tr 43), số phận hẩm hiu từ đó đeo đẳng suốt cuộc đời, nhờ thế mà chúng ta có được một chứng nhân lịch sử, những chứng tích cụ thể, những nhận định sâu sắc.
Theo ông Thảo, ông Hồ: "là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực để đạt tới mục tiêu của mình" (318)
Nhưng ông Hồ có thật là một đầu óc siêu việt không?
Ông Thảo nhận định: "Thực tế mà nói thì "ông cụ" biết rằng về trình độ tư tưởng, lý luận, thì mình làm sao so được với những Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ là những người được đào tạo chính quy, ngay cả với Trường Chinh cũng vậy ..." (267), "Vậy mà "ông cụ" lật ngược lại mọi tình huống, qua mặt tất cả những trở ngại trong đảng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, kể cả Trường Chinh ... để rồi vẻ vang vươn lên làm tổng bí thư kiêm chủ tịch nước năm 1945. Đây là một sự kiện lịch sử, cho tới nay, chưa có tư liệu nào làm sáng tỏ ... họ là kẻ cả đời vào tù ra khám ở trong nước, đã từng được đào tạo chính qui, với hậu thuẫn của Đệ tam quốc tế ... vậy mà cuối cùng họ cũng bị đẩy vào hàng thứ yếu, chôn vùi vào quên lảng, như trường hợp cay đắng của Trần Văn Giàu." (353), "Phải ghi nhận rằng lãnh tụ Hồ Chí Minh là một nhà chính trị "mưu thần chước quỷ, chuyên hành động muôn hướng, muôn mặt, trí trá còn hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung quốc." (356)
Kẻ không có tài lại có nhiều tham vọng, đúng ra là cuồng vọng, thể hiện qua việc thay đổi danh tánh: "Phải phân tích cặn kẽ từng cái biệt danh ấy như là một dấu hiệu tâm lý chính trị, từ lúc chỉ mong có cơ hội thành đạt (Tất Thành), cho tới lúc quyết tâm, bằng mọi giá, mọi cách để đạt tới tột đỉnh của quyền lực như là một ông vua (Vương), là một người yêu nước chân chính (‘Ái Quốc’), là một lãnh tụ thông minh bậc nhất trong thiên hạ (CHÍ MINH)! ..... Một nhà túc nho, một người trí thức có đầu óc tỉnh táo, có liêm sỷ, một bộ não minh triết không bao giờ tự ý xưng mình là ‘Vương’, là ‘Ái Quốc’, là ‘CHÍ MINH’ như thế" (292), để đạt mục đích ông Hồ rất giỏi các trò tiểu xảo, sử dụng dưới trướng toàn những tên nịnh bợ: "Trong vòng thân cận "ông cụ", không hề có một chuyên viên trí thức nào có bằng cấp tốt nghiệp đại học cả. Chỉ toàn là những hầu cận, cận vệ ít học được "ông cụ" đào tạo, để phục tùng thì sau đều được "ông cụ" đề bạt lên thành tướng, thành giám đốc, thành bí thư v.v. .. Còn giới học thức chỉ được làm việc ở vòng xa bên ngoài." (291), "chung quanh "ông cụ" có nhiều phe cánh kình chống nhau, ngầm hạ uy tín nhau rất là tàn nhẫn. Và điều đó cho thấy "ông cụ" lúc lên tới đỉnh cao quyền lực thì rồi đã lâm vào hoàn cảnh của một phù thủy không còn điều khiển được đám âm binh hung bạo, tùy tiện, hỗn xược do chính mình đã tạo ra!" (297)
Cũng "vì cuồng vọng quyền lực, mà "ông cụ" đã không ngần ngại công khai, lộ liễu viết sách , dù đã ký với những cái tên khác, để tự ca ngợi, tự tôn vinh chính mình. Tự chọn lựa từng chi tiết nhỏ nhặt nhất để đề cao, để sùng bái lãnh tụ là ... chính mình." (319), cuốn thứ nhứt: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, xuất bản năm 1948, cuốn thứ hai: Vừa đi đường vừa kể chuyện dưới tên T. Lan, xuất bản năm 1963, việc ông Hồ được gọi bằng bác không phải do dân chúng kính trọng tôn xưng gì đâu mà do dàn dựng cả, ông Thảo kể lại lời dặn dò kỹ lưởng trong buổi "tập huấn" trước khi diện kiến: "không được xưng "tôi", y như là ngang hàng với "Người".
- Nếu không được xưng tôi thì xưng
bằng gì?
- Đồng chí có thể xưng bằng
"con" hay bằng "cháu" và phải gọi "Người" bằng
"bác" như đồng bào vẫn gọi." (247), theo Lữ Phương: "ông Giàu (tức Trần Văn Giàu) thuật lại
chuyện gặp Nguyễn Ái Quốc lần đầu (lúc ấy đã là Hồ Chí Minh) và cũng gọi bằng
“anh” nhưng đã bị Hồ Chí Minh khuyên không nên gọi như vậy mà nên xưng hô như
mọi người.", thậm chí còn thậm xưng là "Cha già dân tộc", ông
Hồ viết trong Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch (trang chót): "Nhân dân gọi Hồ chủ tịch là Cha già của dân tộc, vì Hồ chủ tịch
là người con trung thành nhất của tổ quốc Việt Nam.", nên nhớ
lúc đó Hồ chỉ mới 58 tuổi.
Một con người bất cố liêm sỉ đến thế thì liệu có thể lo nghĩ gì đến hạnh phúc của người dân?
"Cứ theo thực tại mà xét, thì "ông cụ" là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối. Từ cách mang đôi dép râu bình dân, từ cách để hở ra cái áo lót nâu đơn sơ, thủng vào lổ bên trong, từ cách không cài hết khuy áo sơ mi, tới cách khoác hờ cái tấm nhựa bên ngoài ... đó là những cách thức phô diễn đã được chọn lựa cân nhắc kỹ. Những chi tiết ấy tạo ra một thứ vương bào siêu vật chất, đầy hào quang của cách mạng vô sản!" (264), "Cụ Hồ còn nêu gương thanh đạm, bắt làm nhà gỗ để cụ ở, nhưng chung quanh và những người thừa kế cụ, có ai theo gương sống thanh đạm như thế đâu. Bởi chung quanh đều biết tấm gương ấy chỉ là thứ đạo đức hình thức, bề ngoài nhưng trong thực tế thì lại khác, ông cụ vẫn sống rất là đầy đủ về mọi mặt, kể cả về vấn đề sinh lý." (83), ngoài bà vợ Tàu Tăng Tuyết Minh coi như chính thức, còn chuyện ba lăng nhăng của Hồ thì diễn ra mọi lúc mọi nơi, nhiều người đã biết, Ông Bảo Đại kể trong cuốn Le Dragon d'Annam, tr 134: "Pendant son séjour à Moscou, Hô Chi Minh a vécu avec une Russe dont il aurait eu une fille." (Trong thời gian ở Mạc tư khoa, Hồ Chí Minh sống với một phụ nữ Nga, có một người con gái), Ông Trần Trọng Kim kể trong cuốn Một cơn gió bụi, tr 75: "Về khoảng cuối năm 1944, Việt Nam cách mạng đồng minh hội ... cho ông Hồ Chí Minh cùng 22 đảng viên phần nhiều là người trong đảng phục quốc về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên Đỗ Thị Lạc là người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh.", các chuyện lem nhem này loại thâm cung bí sử, nhưng màn bí mật đã hé lộ dần, như tằng tịu với Nguyễn thị Minh Khai, Nông thị Xuân, Nguyễn Thị Phương Mai, ..., cứ nhìn cách ôm hôn "kỳ quái" các "cháu ngoan nhi đồng" giữa thanh thiên bạch nhựt của lão hẳn hiểu chuyện thâm cung.
Cứ nhìn cách ôm hôn "kỳ quái" các "cháu ngoan nhi đồng" giữa thanh thiên bạch nhựt của lão...
Một người nghĩ đến hạnh phúc của đồng bào không thể
sử dụng một giai cấp này để triệt tiêu một giai cấp khác, kết quả là hàng trăm
ngàn người bị sát hại dã man trong công cuộc cải cách ruộng đất, chính Hồ minh
thị: "trên đời này chỉ có hai giống
người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối
tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản" ("Hồ Chí Minh
-Những sự kiện" -Nhà xuất bản thông tin lý luận Hà Nội 1987, tr 40), Cụ Trần
Trọng Kim giải thích: "Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho
dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để
cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản
... " (Một
cơn gió bụi, tr 113).
Nên việc coi Hồ có công đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để thống nhứt đất nước là chuyện lừa mị. Một người thật sự nghĩ đến quyền lợi đất nước không thể không tiếc máu xương của hàng triệu sanh linh trong cảnh huynh đệ tương tàn, theo ông Trần Đức Thảo: "Tiềm lực của mỗi quốc gia, là ở trong ý thức thuộc về cùng một dân tộc, cùng một lịch sử, cùng một ngôn ngữ, cùng một đất nước. Không thể quên rằng nội lực một dân tộc là nên tảng đạo lý ngay thẳng do tổ tiên để lại. Nhưng lịch sử nước ta thì đã trải qua những giai đoạn đau buồn dẹp bỏ di sản đạo đức của tổ tiên để đón nhận thứ "đạo đức cách mạng mác xít". Chấp nhận việc chia cắt lãnh thổ dù chỉ là tạm thời, nhưng việc đó thực sự đã chia rẽ dân tộc, đã tạo ra sự phân biệt đối xử vì khác "ý thức hệ" mà coi nhau như kẻ thù. ... đã coi nhau là kẻ thù thì rất dễ phạm tội ác. Cái lô gích của chiến tranh nào, của cách mạng nào mà không hề gây tội ác? Lén lút ném lựu đạn, ám sát nhau ở thành thị và nông thôn không phải là tội ác sao? Vậy mà nay đảng đã công khai khoe thành tích ám sát, ném lựu đạn ở vùng địch, khoe lén lút đưa đại quân, len lỏi rừng già Trường sơn vào Nam, để xé hiệp định Genève, xé hiệp định Paris ... Như khi đảng ký hiệp định Genève, là biết sẽ chẳng thể tôn trọng nó. Vì thế đảng chỉ rút ra Bắc một phần lực lượng, phần còn lại, để mai phục sẵn ở miền Nam, chờ cơ hội ra tay mở lại chiến tranh. Lúc ký hiệp định Paris, theo định nghĩa là để chấm dứt chiến tranh, là để duy trì hòa bình, nhưng đảng đã ký để dùng chúng chuẩn bị mở lại chiến tranh cho rộng hơn, ác liệt hơn. ... Chung quanh ta, ở khắp vùng Đông Nam Á, chẳng có một nước nào đi theo con đường chiến tranh trường kỳ và triệt để như thế. Họ đã cố tránh hiểm họa của chiến tranh." (357).
Vậy động cơ trực tiếp nào thúc đẩy Hồ làm những điều tàn độc như thế? ÔngThảo giải thích: "Phải nói thẳng ra rằng là Mao đã như trực tiếp bẻ lái "ông cụ". Cái mảng tối nên tìm hiểu là lúc được bố trí vào làm việc trong "Bát lộ quân" của đảng cộng sản Tàu, với quân hàm thiếu tá thì "ông cụ" đã tuyên thệ đã gia nhập đảng cộng sản Trung quốc vào lúc nào, do ai đỡ đầu? Tuyên thệ như thế thì có phải từ bỏ quốc tịch VN hay không? Ngay khi vào tiếp thu Hà nội, tôi đã được nghe kể nhiều về "sự ưu ái của Mao chủ tịch vĩ đại" đối với "bác Hồ" ... chỉ đạo "bác" đứng ra thành lập đảng CS VN để kết nghĩa anh em với đảng CS Trung quốc ..." (254).
Hiểu ngọn nguồn như thế thì mới hiểu vì sao đất nước bị cột chặt vào Tàu, mới hiểu tội ác tày trời của Hồ đối với dân tộc.
Dầu vậy, vẫn có nhiều tác giả viết ca ngợi ông Hồ, sao có sự nghịch thường này?
Lý do theo triết gia Trần Đức Thảo: ".. các nhà sử học khi nghiên cứu về "bác Hồ" đã chỉ căn cứ trên những tư liệu của đảng cộng sản, nên không thể nào nhìn rõ sự thật; ... Họ chỉ là những ông thầy bói mù được sờ vào, không phải là một con voi, mà là một con khủng long ba đầu chín đuôi!" (292)
Như vậy, qua lăng kính Trần Đức Thảo, Hồ ly đã hiện nguyên hình./-
Vạng Lộc
1-2015
| Khai Dân Trí | Vạng Lộc |
2014/11/07
MỘT BÍ ẨN LỊCH SỬ
MỘT BÍ ẨN LỊCH SỬ
Thẩm
phán Phạm Đình Hưng
Hồ Chí Minh và Nguyễn Tất Thành là một người hay hai người khác nhau. ?
Đến ngày hôm nay, các công trình
nghiên cứu sâu rộng, công phu và khách quan của nhiều tác giả ngoại quốc vẫn
chưa trả lời được câu hỏi kể trên. Về mặt khoa học, chỉ có một cuộc khảo nghiệm
DNA hài cốt của Hồ Chí Minh, cố Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đang
được thờ phượng tại Ba Đình (Hà Nội) và cố Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ
của Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành) đã được chôn cất tại Sa Đéc, tỉnh
Đồng Tháp ngày nay. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội không muốn phơi bày bí
ẩn lịch sử nầy, chọn lựa giữ im lặng khi phải đối đầu với một vấn đề khó khăn
khả dĩ làm tổn thương đến uy tín của mình trước nhân dân Việt Nam và quốc tế.
Hơn nửa, bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ tôn trọng
sự thật lịch sử, luôn luôn đề cao sự sáng suốt của đảng và không chấp nhận đảng
có sai lầm.
Căn cứ vào các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoại quốc và một số dữ kiện lịch sử chính xác, tôi có vài nhận xét về một bí ẩn lịch sử đã có tầm ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam từ thập niên 1940 đến nay. Bí ẩn đó là : Hồ Chí Minh và Nguyễn Tất Thành là một người hay là hai người khác nhau ?
Lý lịch của Nguyễn Tất Thành
Nguyễn
Sinh Cung (tức Nguyễn Tất Thành) sanh tại Nghệ An năm 1890, con của Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc. Sau khi học hết bậc Tiểu học, Nguyễn Tất Thành được nhận vào
trường Quốc Học ở Huế nhờ cha là quan lại của Nam triều. Bỏ học và rời khỏi
trường Quốc Học rất sớm, Nguyễn Tất Thành đi vào Phan Thiết dạy học tại trường
Dục Anh rồi đi vào Sài Gòn làm phụ bếp dưới tàu Amiral Latouche Tréville ( lấy
tên Văn Ba) để xuất dương sang Pháp tìm kế sinh nhai và danh vọng. Thất bại
trong việc xin vào học trường Thuộc địa của Pháp, Nguyễn Tất Thành tiếp tục làm
việc trên các tàu viễn dương rồi qua London, Anh quốc, làm thợ nhồi bột cho một
lò bánh mì của người Pháp. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở về Paris theo lời gọi
của trưởng thượng Phan Châu Trinh và gia nhập Nhóm Ngũ Long gồm có Phó bảng Phan
Châu Trinh, Tiến sĩ Luật Phan văn Trường, Cử nhân Luật Nguyễn An Ninh, Cử nhân
Văn Chương Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Sống kham khổ tại Paris với
nghề thợ rửa hình, Nguyễn Tất Thanh mắc bịnh lao phổi..Mặc dầu vậy, Nguyễn Tất
Thành vẫn ăn mặc rất chỉnh tề, luôn luôn mặc áo vest và thắt cà vạt khi đi hội
họp.
Ba năm sau cuộc Cách Mạng 1917 của Nga, Nguyễn Tất Thành gia nhập đảng Cộng Sản Pháp tại Hội nghị Tours để bắt chước các người Bolsheviks Nga làm cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới và xây dựng chủ nghĩa đại đồng vô biên giới. Tại Hội nghị Tours, Nguyễn Tất Thành đã nhờ một Đại biểu người Pháp tham dự hội nghị nầy giải thích cho ông ta biết sự khác biệt giữa Đệ tam và Đệ tứ Quốc tế Cộng sản. Năm 1924, Nguyễn Tất Thành được Dmitry Manuilsky, cán bộ Đệ tam Quốc tế Cộng sản (Komintern) tuyển dụng và đưa qua Moscowa huấn luyện cấp tốc về kỹ thuật công tác của một cán bộ cộng sản trước khi phái đến Quảng Châu trong tỉnh Quảng Đông làm thông dịch viên dưới quyền của Trưởng Phái bộ Liên xô Mikhail Borodin. Năm 1927, Thống chế Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Quốc Dân đảng ra tay diệt trừ cộng sản, Nguyễn Tất Thành chạy về Moscowa và đến Thái Lan ẩn náu. Năm 1930, Nguyễn Tất Thành vâng lịnh của Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô Josef Stalin đến Hong Kong tham dự việc thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 3-2-1930 cùng với 3 người Việt và một người Tàu tên Hồ Tập Chương (bí danh Hồ Quang), Đại biểu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản. Kể từ đó, Nguyễn Tất Thành đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam để gieo rắc tai họa cho đất nước và dân tộc Việt Nam từ năm 1931 đến nay. Ở lại Hong Kong hoạt động với bí danh Tống văn Sơ, Nguyễn Tất Thành bị nhà cầm quyền Anh bắt giữ năm 1931 nhưng được cho nằm điều trị trong một bịnh viện bài lao vì ông ta mắc bịnh lao trầm trọng. Năm 1932, báo chí Hong Kong loan tin Tống văn Sơ (tức Nguyễn Tất Thành) đã qua đời. Trong quyển sách “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”, giáo sư Sử học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan, cháu của Hồ Tập Chương, cũng ghi rõ sự kiện nầy.
Nguyễn Tất Thành mất tích
Kể
từ năm 1932 đến năm 1938, Nguyễn Tất Thành đã mất tích một cách bí mật. Ông ta
biến dạng trong cõi hư vô và chỉ còn là một hình bóng phai mờ trước bọn đàn em
đang được Josef Stalin trọng dụng (Trần Phú, Hà Huy Tập, Trần văn Giàu, Lê Hồng
Phong, Nguyễn văn Cừ). Thậm chí Nguyễn Ái Quốc (bí danh của Nguyễn Tất Thành)
còn không được tham dự chánh thức Đại hội 7 của Đệ tam cộng sản quốc tế như hai
đàn em Lê Hồng Phong và Nguyễn thi Minh Khai. Người cộng sản Việt Nam đầu tiên
nầy bị Stalin nghi ngờ và thất sủng vì trong thời gian lưu trú lần thứ hai tại
Nga (1933-1938) ông ta biểu lộ một vài nghi vấn về lý lịch:
- Khi ghi danh học trường quốc tế Lenin, Nguyễn Ái Quốc khai y sanh năm 1903 thay vì 1890. Một người trung niên có học như Nguyễn Ái Quốc không thể quên năm sanh của mình! Sở dĩ có sự sai biệt về năm sanh là vì người đội lốt Nguyễn Ái Quốc là Hồ Tập Chương, người dân tộc Hẹ (Khách Gia) sanh tại Đài Loan năm 1901, nhỏ hơn Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi.
- Trong tờ khai lý lịch, Nguyễn Ái Quốc (giả) mang bí danh P.C.Lin chỉ khai một chút ít dữ kiện về lý lịch của mình và ghi rằng y không có khả năng chuyên nghiệp gì cả.
(Sophie
Quinn Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years, University of California
Press,2002, --- Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, Đài Loan, 2008)
Không những nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc (giả), Stalin còn có ý định giết chết y trong cuộc Đại Thanh trừng (Great Purge) năm 1935 nếu không có sự can thiệp của Georgi Dimitrov, Cố vấn của nhà độc tài Liên xô. Tha chết cho Nguyễn Ái Quốc (giả) nhưng Stalin không giao bất cứ công tác gì mà còn đặt ông ta trong tình trạng bị mật vụ theo dõi.
Sự xuất hiện của Hồ Quang (Hồ Tập Chương)
Mãi
đến năm 1938, một nhân vật tên Hồ Quang (bí danh của Hồ Tập Chương) từ Liên Xô
đến đột nhiên xuất hiện tại Diên An, căn cứ địa của Cộng sản Tàu trong giai đoạn
1935-1948 thuộc tỉnh Thiểm Tây, và có tư cách đảng viên đảng Cộng sản của nước
Tàu. Gia nhập Bát lộ quân năm 1939, Hồ Quang đã phục vụ quân đội Tàu cộng với
cấp bậc Thiếu tá. Sau một thời gian công tác tại Hoa Nam, Hồ Quang được đặc phái
qua Việt Nam năm 1940 với sứ mạng liên tục gây ra chiến tranh để giết chết vô số
nhân tài và sinh mạng, tiêu hao sinh lực của nước Việt, chuẩn bị việc thôn tính
bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á theo kế hoạch của Mao Trạch Đông. Ẩn trốn trong
hang Pác Bó (Cao Bằng) dưới sự bảo vệ của cán binh Tàu cộng và bọn người dân tộc
Tày của Chu văn Tấn, Hồ Quang thường xuyên qua lại biên giới Hoa Việt. Năm 1943,
từ Quảng Tây trở về hang Pác Bó, Hồ Quang mang một tên mới : Hồ Chí Minh. Sự cực
kỳ độc ác của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt đã
khiến cho rất nhiều người nghĩ rằng Hồ Chí Minh thật sự là Hồ Tập Chương, một
người Tàu Đài Loan dân tộc Hẹ (Hakkard) đúng theo sự xác quyết của giáo sư Sử
học Hồ Tuấn Hùng, một người cháu trong gia tộc của Hồ Tập Chương không có ân oán
gì trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Mới đây, sau khi Trung Cộng công khai hóa
một số bí mật về Hồ Chí Minh tức Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Nhân Dân Giải
Phóng, tính thuyết phục của quyển sách “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” càng tăng
thêm. Ngoài các quyển sách của giáo sư Đài Loan Hồ Tuấn Hùng, giáo sư William
J.Duiker và sử gia Sophie Quinn Judge còn có vài nguồn tin chính xác khác và một
số sự kiện cụ thể liên quan đến Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh thật sự là ai?
1)
Ngô Trọc Lưu, người được xem là người cha của nền văn nghệ Đài Loan, đã xuất bản
tại Đài Loan năm 1947 một quyển sách tựa đề “Hồ Chí Minh” viết bằng Nhật ngữ.
Thân cận với Hồ Tập Chương và các người em của nhân vật kỳ bí nầy, Ngô Trọc Lưu
xác quyết Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, người thuộc sắc tộc Hẹ tức Khách Gia
(Hakkard) sanh tại Huyện Miêu Lật, Địa khu Đông La, Đài Loan.
2)
Ký giả cộng sản Trần Đĩnh, một nhân vật thân cận của Hồ Chí Minh, đã hé lộ một
chi tiết đáng kể về lý lịch của người “cha già dân tộc” của cộng sản Việt
Nam.
Trong quyển “Đèn Cù”, ký giả Trần Đĩnh tiết lộ đã nghe Hồ Chí Minh nói tiếng Hẹ của dân tộc Hakkard rất lưu loát, thấy “Bác” rất thích thú đi dạo chơi thành phố Móng Cái và biết rất rõ thành phố nầy mặc dầu mới đến đây lần đầu tiên năm 1960. Ký giả Trần Đĩnh nghĩ rằng “Bác Hồ” đã có ở trong thành phố Móng Cáy khá lâu. Suy nghĩ nầy phù hợp với một vài chi tiết trong lý lịch của Hồ Tập Chương: Năm 1931, Hồ Tập Chương bị bắt tại Quảng Châu cùng một thời gian với Nguyễn Ái Quốc (bí danh Tống văn Sơ) đang bị giam giữ tại Hong Kong. Sau khi được cộng sản Tàu giải cứu, Hồ Tập Chương đã đến vùng rừng núi Quảng Tây khai thác hầm mõ từ năm 1932 đến 1933. Kể từ đó, ông ta không còn liên lạc với gia đình. Khi ở Quảng Tây, Hồ Tập Chương có nhiều điều kiện thuận lợi để đi qua Móng Cáy hoạt động cùng cô Bí thư một Chi bộ cộng sản tại thị trấn biên giới nầy.
3) Tập thơ “Ngục Trung Nhật Ký” của Hồ Chí Minh (tự nhận là tác giả) có thể cung cấp một thông tin hữu ích về nguồn gốc địa phương của tác giả: trong tập thơ nầy có một số từ ngữ đặc thù và lối chơi chữ chỉ có người dân tộc Hẹ (Hakkard) mới biết dùng. Cần lưu ý: Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ sơ cấp về Hán văn và chỉ biết nói tiếng Quảng Đông nhờ hoạt động tại Quảng Châu từ 1924 đến 1927 và ăn ở với Tăng Tuyết Minh, người vợ xẩm có cưới hỏi năm 1925 qua mai mối của Thái Sướng và Đặng Dĩnh Siêu (vợ Chu Ân Lai).
4) Trước khi qua đời ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh muốn được nghe một bài hát của Tàu do một cô xẩm hát. Tại sao một nhà lãnh đạo người Việt lại muốn nghe một bài hát của Tàu trước khi chết, nhứt là do một cô xẩm hát?
5) Giáo sư William J. Duiker trong quyển sách “ Ho Chi Minh: A Life” có nhận xét một sự khác biệt về thói quen giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: Nguyễn Ái Quốc ăn mặc rất chải chuốt và luôn luôn thắt cà vạt còn trang phục của Hồ Chí Minh thì rất lượm thượm, ông ta không bao giờ thắt cà vạt, trông rất quê mùa.(William J.Duiker, Ho Chi Minh :A Life, New York Hiperion, 2001)
6) Năm 1931, trong khi Nguyễn Ái Quốc bị giam giữ tại Hong Kong Hồ Tập Chương bị bắt tại Quảng Châu. Nhờ một nữ cán bộ cộng sản tên Lâm Y Lan giải cứu đưa đến Hạ Môn, một thành phố cảng nằm ở phía Đông Nam tỉnh Phước Kiến, Hồ Tập Chương đã có một mối tình thắm thiết với cô gái Quảng Đông nầy trong thập niên 1930. Sau nầy, Chủ tịch Hồ Chí Minh của miền Bắc cộng sản nhờ Đào Chú, một cán bộ cao cấp đảng Cộng sản Tàu và Chủ tịch Mao trạch Đông tác hợp với Lâm Y Lan nhưng bị Lê Duẫn, Bí thư thứ nhứt đảng Cộng sản Việt Nam, chống đối nên không thành. Năm 1968, Lâm Y Lan chết ở Quảng Đông, Hồ Chí Minh buồn rầu đi theo người yêu xuống tuyền đài năm sau (1969). Cần ghi nhận Hồ Chí Minh không hề muốn gặp lại Tăng Tuyết Minh, người nữ cán bộ cộng sản ở Quảng Châu đã chánh thức kết hôn với Nguyễn Ái Quốc năm 1925. Thái Sướng và Đặng Dĩnh Siêu (vợ Chu Ân Lai) cũng như đảng Cộng sản Tàu cũng không muốn đưa Tăng Tuyết Minh qua Hà Nội tái hợp với Hồ Chí Minh vì sợ lộ thân phận của ông Chủ tịch đảng Cộng sản Việt Nam.
7) Lúc ông Cả Khiêm tức Nguyễn Sinh Khiêm (anh cả của Nguyễn Tất Thành) và bà Nguyễn thị Thanh (chị của Nguyễn Tất Thành) còn sống ở Nghệ An, Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề về quê nhà để thăm hai anh, chị ruột. Thậm chí khi hai người nầy qua đời, Hồ Chí Minh cũng không về Nghệ An để phúng điếu. Năm 1945, bà Nguyễn thi Thanh đã lặn lội từ Nghệ An ra Hà Nội thăm em xa cách gia đình mấy chục năm cũng không được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp. Dường như, Hồ Chí Minh cố ý tránh gặp ông Cả Khiêm và bà chi Nguyễn thị Thanh để khỏi bị phát giác sự khác biệt giữa Nguyễn Tất Thành và Hồ Chí Minh. Khác hẵn quảng đại quần chúng Việt Nam, Hồ Chí Minh không có tình cảm anh chị em ruột thịt và tình tự quê hương xứ sở. Ông ta rất xa lạ đối với người anh cả và người chị ruột.
Nói tóm lại, các tài liệu viết của người ngoại quốc và các sự kiện cụ thể kể trên giúp cho tôi có một cơ sở vững chắc để phán đoán và kết luận: Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau./-
Thẩm phán Phạm Đình Hưng
Mùa Thu California, 2014
| Khai Dân Trí | Phạm Đình Hưng |
2014/06/18
ĐÂU LÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ ?
ĐÂU LÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ ?
Thưa Quý vị Quan tâm,
Bài viết nầy trước đây mang tên “Nhận định về lịch sử không nên vì cảm tính”.
Nay chúng tôi cho sửa chữa lại và bổ sung thêm nhiều chi tiết mới cho thật hoàn
chỉnh.
A.- NGÔ ĐÌNH DIỆM TỰ PHONG LÀM TỔNG THỐNG :
Năm 1954, tuy người dân VN phải trải qua một giai đoạn đau thương vì đất nước bị chia đôi, nhưng miền Nam đã có một VẬN HỘI MỚI khi ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do.
Việc lật đổ vua Bảo Đại để thành lập nền Cộng Hoà, ly khai khỏi người Pháp là một quyết định rất thuận với lòng dân.
Nhưng thật là đáng tiếc ! Ông Diệm và gia đình ông đã làm hỏng mất một cơ hội lịch sử bằng vàng.
Khi lật đổ vua Bảo Đại, thay vì ông Diệm áp dụng đúng “Quyền Dân Tộc Tự Quyết”, tổ chức Tổng Tuyển Cử toàn quốc để thành lập Quốc Hội, và trao cái quyền lựa chọn chế độ (Việt Nam Cộng Hoà) cho toàn dân (tức Quốc hội). Thay vì ông Diệm lại tự phong làm Tổng thống và đẻ ra luôn… chế độ Cộng hoà !?
Ông Diệm “gian lận” khi tổ chức Trưng Cầu Dân Ý. Ông Diệm bắt người dân phải lựa chọn giữa ông và vua Bảo Đại. Lẽ ra ông Diệm chỉ có quyền xin ý dân “có nên duy trì chế độ Quân Chủ với nhà vua Bảo Đại, hay nên thành lập chế độ Cộng Hoà ?”
Nếu người dân đồng ý thành lập nền Cộng Hoà (bước 1), lúc đó ông Diệm mới tổ chức Tổng Tuyển Cử bầu Quốc hội Lập Hiến (bước 2). Chính Quốc hội Lập hiến sẽ soạn thảo Hiến Pháp, và ra luật bầu cử Tổng Thống (bước 3).
Nếu muốn làm Tổng thống, ông Diệm cùng nhiều người khác ra tranh cử (bước 4). Như vậy mới là HỢP PHÁP : Chính Hiến Pháp đã đẻ ra Tổng thống.
Căn cứ vào tiến trình “dân chủ hoá” từng bước như trên, ông Diệm đã gian manh qua mặt toàn dân : Tự vẽ bùa mình đeo !
*Áp đặt, bắt
người dân phải lựa chọn giữa ông ta và vua Bảo Đại, và cũng không cho Vua Bảo Đại
trở về nước để biện minh cho những cáo buộc của ông Diệm về ông (thiếu dân chủ, mất công bằng).
*Thay vì,
ông Diệm phải nhận chức vụ “Quốc Trưởng”
theo đúng nội dung của cuộc “Trưng Cầu Dân Ý”; đàng này ông Diệm lại nhập nhằng
chơi trò đánh lận con đen, thay vì nhận chức Quốc Trưởng, ông ta lại “Tự Phong” làm Tổng Thống và thành lập nền Cộng Hoà.” Như vậy
tức là ông
Diệm đã đẻ ra Hiến Pháp và nền Cộng
hoà ! Như vậy là BẤT HỢP PHÁP !
Ai bầu cho ông Diệm làm Tổng thống và ai cho phép ông Diệm thành lập nền Cộng hoà hồi nào ?!
B.- ÔNG DIỆM TẶNG KHÔNG MIỀN BẮC CHO CS :
Ngoài ra, khi thành lập nền Đệ I Cộng Hoà, thì coi như ông Diệm đã mắc phải 2 lỗi lầm trầm trọng đó là vi phạm Hiệp Đình Geneva 54 và dâng phân nửa miền Bắc cho tên Việt gian Hồ Chí Minh. Bởi lẽ :
a)- Chế độ Quốc Gia Việt Nam
dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại là một quốc gia thống nhứt từ ải Nam Quan cho
đến mủi Cà Mau.
b)- Theo
tinh thần HĐ Geneva 54 thì nước Việt Nam bị “tạm thời” chia đôi; Chánh quyền
trung ương Quốc Gia VN phải “tạm thời
lui vào trong Nam dưới Vỹ tuyến 17”; còn Ngụy quyền CS Việt Minh thì “tạm chiếm”
miền Bắc, đợi 2 năm sau (dự trù năm 1956) sẽ có một cuộc Tổng Tuyển Cử Thống Nhứt
2 miền.
Điều nầy có nghĩa là : Bao lâu cuộc “Tổng Tuyển Cử” như được dự liệu chưa xẩy ra… thì chính quyền của QUỐC GIA VIỆT NAM vẫn còn nằm trong tay của Quốc trưởng Bảo Đại (miền Bắc chỉ là vùng “tạm chiếm”). Do đó cả 2 miền đều phải giữ nguyên trạng không được thay đổi, đợi khi có Tổng Tuyển Cử thống nhứt, toàn dân 2 miền sẽ quyết định lựa chọn thể chế chánh trị chung.
Nay ông Diệm thành lập nhà nước Đệ I Việt Nam Cộng Hoà thì đương nhiên chế độ miền Nam trở nên ngang hàng với nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền Bắc !
Và một khi chế độ QUỐC GIA VIỆT NAM của Vua Bảo Đại không còn thì coi như Tổng thống Diệm mặc nhiên từ bỏ hay CHO KHÔNG chủ quyền phân nửa miền Bắc cho bọn CS Hànội !
Đây là một tội ác phản quốc của ông Diệm và nhà Ngô. Đây cũng là ý đồ CHIA ĐÔI đất nước vĩnh viễn của ông Diệm.
C.- ÔNG DIỆM ĐỘC TÀI CẦN LAO CÔNG GIÁO TRỊ :
Nhưng suy nghĩ cho cùng, người ta nói làm chánh trị thì phải có “thủ đoạn”. Chúng tôi “tạm” đồng ý về các thủ đoạn của ông Diệm đã áp dụng để nắm lấy quyền bính.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là : Cái Quyền bính mà ông Diệm chiếm được đó sẽ phục vụ cho ai ?
Chúng ta đã có câu trả lời : Ông Diệm chỉ phục vụ cho gia đình ông, bè đảng Cần Lao của ông; mỗi người anh em ông Diệm là một LÃNH CHÚA của một vùng có đặc quyền sanh sát trong tay, hét ra lửa; đồng thời ông Diệm cũng tích cực phục vụ cho ý đồ của Vatican (Công giáo hoá miền Nam); thay vì phục vụ cho quyền lợi tối thượng của Quốc gia và Dân tộc !
Về nguyên lý chánh trị : Một khi lật đổ một chế đồ nào đó mà người ta cho là XẤU, thì đương nhiên người ta phải thay thế vào đó bằng một chế độ mới TỐT đẹp hơn. Thí dụ như Quân Đội lật đổ nền Đệ I CH với bản Hiến pháp y chang Hiến pháp CS Hànội, chỉ có độc viện Dân Biểu và không có Tối Cao Pháp Viện; thay vào đó nền Đệ Nhị CH với một bản Hiến pháp mới có Lưỡng viện Quốc hội, Tối Cao Pháp Viện, Giám Sát Viện và có thêm vị Thủ Tướng.
Đó mới gọi là làm Cách Mạng.
a)- Nhưng
ngược lại, ông Diệm lật đổ vua Bảo Đại phong
kiến; ông ta lại thay vào đó bằng
chế độ độc tài Cần Lao Công giáo, gia đình trị vô cùng khắc nghiệt
! Ông ta đã cố tình lén lút duy trì Dụ
số 10 của vua Bảo Đại (thay
vì thay thế bằng một đạo luật mới) cho phép ông ta duy trì độc tôn Thiên Chúa Giáo và độc
tôn Đảng Cần Lao, gia đình ông tha hồ
tham nhũng, tha hồ đàn áp nhân dân như đã thấy ! Dụ Số 10 cũng
giống y hệt Điều 4 Hiến pháp VC !
b)- Những
ai lý luận cho rằng dưới thời ông Diệm cuộc sống tự do, ấm no, sung sướng hơn
miền Bắc… là luận điệu rất ấu trĩ và ngu dốt. Dưới chế độ Diệm người dân không bao giờ có
được 2 chữ TỰ DO khi phải “Suy Tôn Ngô Tổng Thống” và bị kềm kẹp bởi Dụ
Số 10 phi dân chủ, bất hợp pháp.
D.- ÔNG DIỆM LÀ MỘT KẺ PHẢN QUỐC :
Điều khẳng định trước tiên ông Diệm là một kẻ Vô Tổ Quốc, khi ông ta vừa lên làm Tổng thống liền hủy bỏ ngay ngày nghĩ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương hằng năm. Không công nhận Quốc Tổ Hùng Vương bởi vì ông ta là một kẻ cuồng tín tôn giáo, chỉ tôn thờ có Vatican. Nhưng Vatican thì lại là tên trùm xâm lược, luôn “đồng hành” với mọi chế độ độc tài CS để giữ đạo. Ông Diệm và Vatican chỉ LỢI DỤNG người Mỹ để lên nắm chánh quyền tại miền Nam. Sau khi củng cố được thế lực Công Giáo và thế lực Đảng Cần Lao vững mạnh, ông Diệm sẽ đuổi Mỹ để bắt tay với miền Bắc, cả 2 miền chung sống hoà bình: Miền Nam do nhà Ngô và Đảng Cần Lao Công giáo trị muôn năm; còn miền Bắc thì do Hồ Chí Minh và Đảng CS thống trị đời đời... Bằng chứng: ông Diệm đi đêm với CS Hànội và bị QLVNCH lật đổ năm 1963.
Có một số người u mê cứ nghĩ rằng dưới chế độ ông Diệm người dân được ấm no hơn miền Bắc, nhưng có khi nào quý vị ấy nghĩ ngược lại rằng : Nếu nhà Ngô không độc tài sắt máu; nếu nhà Ngô không tham nhũng, thâu tóm toàn bộ nền kinh tế quốc dân vào trong tay gia đình và Đảng Cần Lao… thì người dân miền Nam lẽ ra đã được hưởng một nền tự do hạnh phúc gấp 10 lần như thế hay không ?! Cái quý nhứt của con người là Tự Do. Vì có Tự Do là có tất cả. Nhưng gia đình ông Diệm đã cướp mất cái TỰ DO cao quý nhứt của người dân rồi, thì còn gì nữa để mà nói ?!
Vả lại ở dưới mọi chánh thể thực sự tự do, người dân có quyền thay đổi vị lãnh đạo qua các cuộc bầu cử. Nhưng dưới các chế độ độc tài người dân không có cái quyền lựa chọn thiêng liêng đó. TT Diệm đã ở hết 2 nhiệm kỳ bầu cử đầy gian lận. Ông ta lại còn sửa Hiến pháp để tiếp tục ở lại nhiệm kỳ ba. Sau nhiệm kỳ 3, chắc rồi lại tới phiên Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn lên thay… Người dân miền Nam đã mất quyền lựa chọn, bị đẩy vào chân tường. Cách mạng tức nhiên phải bùng nổ !!!
Điều chúng tôi có thể khẳng định rằng : Nếu không phải Diệm, một kẻ cuồng tín công giáo (chỉ chấp nhận có Công giáo), một tên chối bỏ tổ tiên,(không công nhận Quốc Tổ Hùng Vương), một tên tay sai Vatican (định Công giáo hoá miền Nam và bắt tay CS đuổi Mỹ)… mà là một vị Nhân Sĩ nào khác, làm Thủ tướng thay Diệm năm 1954, thì VẬN HỘI MỚI của miền Nam đã sớm trở thành hiện thực. Bởi vì ông Diệm đã có một cơ hội thuận lợi từ năm 1955-1959 đầy ổn định, miền Nam được Hoa Kỳ và Thế giới Tự do viện trợ ào ạt, trong khi CS bận lo tiếp thu và tái thiết miền Bắc, chưa có thời gian để “chiếu cố” tới miền Nam. Và rồi lịch sử VN có lẽ đã rẽ sang một lối khác tốt đẹp hơn (như Nam Hàn, Đài Loan vẫn tồn tại), thay vì phải trả một cái giá quá đau thương vào năm 1975 !?
Chính chế độ Diệm và Vatican, đã làm cho miền Nam mất đi một Vận Hội Mới, một cơ hội bằng vàng nói trên. Bao nhiêu tiền viện trợ vô điều kiện của Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do đổ vào miền Nam, nhưng một phần lớn đã chui vào túi riêng của giòng họ Ngô Đình và bè lũ đảng Cần Lao !
E.- ÔNG DIỆM ĐẺ RA MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM.
Trong âm mưu “đuổi Mỹ” ra khỏi VN, phá kế hoạch SEATO của Hoa Kỳ bao vây Trung Cộng, là làm thế nào để phát động chiến tranh du kích, rồi kéo dài chiến tranh, để làm cho người Mỹ phải bị tiêu hao nhiều tiền của và sinh mạng quân lính, để họ bị sa lầy… cuối cùng đành phải bỏ của chạy lấy người. Do đó, Diệm và CS Hànội bắt tay nhau âm thầm khai sanh ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, qua các thủ đoạn như sau :
Sau khi đất nước vừa bị chia đôi, hàng trăm ngàn người dân miền Nam theo kháng chiến đã không chịu tập kết ra miền Bắc mà xin ở lại miền Nam. Thay vì ông Diệm phải mở ra chánh sách “chiêu an” để tranh thủ sự ủng hộ của những người nầy; ngược lại, ông Diệm lại cho phát động “Chiến dịch Tố Cộng” khủng bố bắt bớ họ và gia đình họ, buộc phải chạy vào bưng biền. Đó là những phần tử tiên phong thành lập ra MTGPMN. Kế tiếp, ông Diệm lại đàn áp, bắt cóc, thủ tiêu đối lập, tiêu diệt các Đảng phái Đại Việt, VNQDĐ, Dân Xã Đảng, Cao Đài, Hoà Hảo… khiến những người này cũng chạy vô bưng theo MTGPMN…
Cho nên chúng tôi khẳng định rằng : Miền Nam Việt Nam mất bởi vì do ông Diệm khai sanh ra MTGPMN. CS Hànội thành lập được MTGPMN là do sự “tiếp tay” của ông Diệm. Xin hãy nhớ, tháng 12-1960 thành lập MTGPMN và họ đã phong cho LS Nguyễn Hữu Thọ cái chức CHỦ TỊCH trong khi ông nầy đang bị ông Diệm giam lỏng tại Tuy Hoà. Thế nhưng bất thần một năm sau, ông Diệm “bí mật” thả ông Thọ vào bưng (năm 1961).
Hãy xem Đài Loan và Nam Hàn cũng trong hoàn cảnh bị chia cắt. Thế nhưng tại sao Trung Cộng không thể thành lập được MTGP Đài Loan; và tại sao Bắc Hàn cũng không thành lập được MTGP Nam Hàn ? Có phải vì 2 quốc gia trên áp dụng đúng thể chế Dân Chủ Tự Do, không độc tài Cần Lao Công Giáo trị, gia đình trị như ông Diệm ? Hỏi tức trả lời.
Sau khi ông Diệm bị hạ bệ năm 1963, nhưng cái “di sản” MTGPMN vẫn còn nguyên và mỗi ngày càng mạnh thêm do ông TT Thiệu cũng là con Chúa Vatican, vẫn cố tình kéo dài chiến tranh. Và mặc dù người Mỹ đã vận động để có thêm quân tăng viện từ các Đồng Minh Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Thái Lan… gởi quân tham chiến nhưng cũng không thắng được CS ! Cuối cùng nguời Mỹ chán nản phải bỏ của chạy lấy người, bỏ lại hơn 58 ngàn đứa con của họ và hàng trăm tỷ đô la vỗ béo cho dòng họ các chiên Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu !
Tóm lại : Nguyên nhân VNCH mất là do Ngô Đình Diệm, tên tội đồ của Dân Tộc đã khai sanh ra MTGPMN. Rõ ràng vì có MTGPMN mà VNCH bị mất !
F.- HAI TÊN TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC :
Lịch sử Việt Nam thời cận đại quả thật là đại bất hạnh đã khai sanh ra 2 tên ĐẠI PHẢN QUỐC là Hồ Chí Minh (miền Bắc); và Ngô Đình Diệm (miền Nam). Từ căn bản, cả 2 chế độ Hồ và Ngô đều là độc tài man rợ phi dân tộc, phản dân hại nước, tay sai ngoại bang.
*HỒ CHÍ MINH và Đảng CS thần phục Đảng CS Đệ Tam Quốc tế. Sau khi CS Liên Xô tan rã năm 1990, Đảng CSVN lại quay sang thần phục CS Tàu, cam tâm bán nước cho Tàu… qua Mật Ước Thành Đô năm 1990, và đang từ từ sát nhập nước VN vào Hoa Lục tới năm 2020 phải cho xong.
*NGÔ ĐÌNH DIỆM thần phục Vatican. Hiến pháp miền Bắc có Điều 4 Hiến Pháp trao toàn quyền lãnh đạo đất nước cho Đảng CS. Còn Hiến Pháp VNCH ở miền Nam mệnh danh là tự do dân chủ, không cho phép “độc tài đảng trị” như miền Bắc. Thế nên ông Diệm mới “ăn cắp” Dụ Số 10 của vua Bảo Đại, lén lút đem dùng vì sợ người Mỹ biết được sẽ cúp viện trợ. Ông Diệm xử dụng Dụ Số 10 để độc tôn Thiên Chúa Giáo, đồng thời tiêu diệt hết Đảng Phái Quốc Gia tại miền Nam, để dọn đường bắt tay với CS Hànội, đuổi Mỹ sống chung hoà bình với miền Bắc. Cả 2 miền giữ nguyên trạng cùng theo chế độ trung lập, phi liên kết như ở Lào và Cambốt.
Trên đây là tất cả SỰ THẬT LỊCH SỬ. Sự thật lịch sử chứng minh rằng cả 2 tên Hồ Chính Minh và Ngô Đình Diệm đều là TỘI ĐỒ của DÂNTỘC./-
GÓPGIÓ 18-6-2014
| Khai Dân Trí | Góp Gió |
Subscribe to:
Comments (Atom)

