Showing posts with label A Di Đà Phật. Show all posts
Showing posts with label A Di Đà Phật. Show all posts

2016/03/26

Ảo Ảnh Của Tâm

Ảo Ảnh Của Tâm

Đối với quỷ sứ, cung trời là địa ngục còn địa ngục là thiên đàng.
Đối với thiên thần, cung trời là thiên đàng còn địa ngục là địa ngục.
Cùng một thứ mà kẻ thì gọi là thiên đàng, người thì gọi là địa ngục. Vậy thì cung trời và địa ngục đều giả, không thực.
Cũng lại như thế. Một kẻ ăn chơi đàng điếm mà nhốt nó vào tu viện thì đúng là nhốt nó vào địa ngục. Nhưng sau một thời gian thấy quen, rồi yêu thích rồi cuối cùng nhận ra đây mới chính là thiên đàng.
Một vị tu hành đạo đức bị đưa vào chốn ăn chơi đàng điếm thì đúng là nhốt ông ta vào địa ngục. Nhưng sau một thời gian thấy quen, rồi yêu thích rồi cuối cùng nhận ra đây mới chính là thiên đàng.
Chính vì thế mà trong Kinh Viên Giác, Đức Phật đã giảng dạy cho Bồ Tát Thanh Tịnh Tuệ, “Này thiện nam tử: Trí tuệ, ngu si đều là Bát Nhã. Địa Ngục, Cung Trời đều là Tịnh Độ. Chúng Sinh, Quốc Độ đều đồng một pháp tính, Vô Minh, Chân Như không khác cảnh giới...”
Khi Tâm ở thể Chân Như tức nhìn vạn vật bằng Phật nhãn thỉ Thiên Đàng hay Địa Ngục - Chúng sinh hay Quốc Độ (đất Phật)…nói rộng ra vạn vật đều đồng nhất thể. Còn khi Tâm động và nhìn sự vật bắng “tục nhãn” thì thấy có sai biệt, tức thấy địa ngục, cung trời, chúng sinh quốc độ. Từ sai biệt này mà nảy ra Đúng-Sai, Thương-Ghét.

Bạn ơi,
Con người thường nhìn sự vật qua lăng kính của cảm xúc. Khi yêu thích thì gán cho nhãn hiệu thiên đàng, khi chán ghét thì gán cho nhãn hiệu địa ngục.
Muốn sống hạnh phúc thì cùng lúc phải chặt đứt hai vọng tưởng điên đảo về cung trời và địa ngục. Câu chuyện sau đây là bản minh họa rõ nét về những vọng tưởng điên đảo của Tâm mình:
 
"Đêm ấy là đêm rằm. Mặt trăng chiếu sáng lung linh cả một vùng. Tại nơi giang đầu, một đôi tình nhân yêu nhau lần đầu. Giữa đêm trăng sáng, họ đưa nhau ra đây tình tự, thề non hẹn biển. Còn đêm nào tình tứ hơn đêm nay? Người con trai khẽ nắm lấy bàn tay người con gái, âu yếm nói:
-Em yêu ơi ! Hãy nhìn ánh trăng kia, ánh trăng lung linh, mờ ảo. Đêm nay là đêm diễm lệ. Mảnh trăng đẹp tuyệt trần kia là nhân chứng cho mối tình bất diệt của chúng ta. Trăng đẹp như tình ta đẹp. Trăng xinh như mộng ta xinh !

Nhưng tại nơi giang hạ, ngay lúc đó, một đôi tình nhân vì tình đời ngang trái, ngày mai họ phải vĩnh viễn xa nhau. Họ ra đây để từ tạ nhau lần cuối. Người con trai đau khổ nắm lấy tay người con gái, nói:
-Em yêu ơi! Trăng đêm nay sao úa màu, tàn tạ? Dường như trăng đang lịm chết để chia xẻ với đêm chia ly vĩnh biệt của đôi ta. Trăng ơi, sao trăng ảm đạm thế? Trăng vương màu tang như cuộc đời lạnh giá, vô vị của anh từ đây phải vĩnh viễn xa em !
Cũng ngay lúc ấy, một bác nông phu, nhà ở gần mé sông, bước ra ngoài sân. Bác ngửa mặt lên trời, ngắm nhìn mặt trăng một hồi rồi chép miệng, nói:
-Chà, cái con trăng quầng sáng có pha màu hồng như thế kia thì năm nay coi chừng mất mùa đa!

Cũng ngay lúc ấy, tại một thành phố tương đối thanh bình, nhân mùa Trung Thu, các em bé vui vẻ rước đèn đi chơi và cùng nhau ca hát:
Ánh trăng trắng ngà.
Có cây đa to.
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ.
Cuội ơi ta nói Cuội nghe...
bằng cả tâm hồn ngây thơ, trong trắng. Các em chẳng thắc mắc gì về Chị Hằng, Chú Cuội ngoại trừ lồng đèn và bánh kẹo.

Cũng ngay vào lúc ấy, tại một đài thiên văn, một khoa học gia đang dùng viễn vọng kính để quan sát mặt trăng. Ông chẳng hề có ý nghĩ mảnh trăng diễm lệ như đôi tình nhân ở đầu sông. Ông cũng chẳng thấy trăng úa màu như đôi tình nhân ở cuối sông. Ông cũng chẳng thấy dấu hiệu nào chứng tỏ năm nay sẽ mất mùa như bác nông phu. Dĩ nhiên già rồi, ông đâu còn đi rước đèn Trung Thu nữa cho nên đâu có quan tâm tới Chị Hằng, Chú Cuội. Ông đang  lặng lẽ quan sát quỹ đạo của mặt trăng để tính đường bay chính xác cho chiếc phi thuyền dự tính phóng lên vào cuối năm nay. Mặt trăng đối với ông chỉ là một vệ tinh bay quanh trái đất và có thể có vị trí chiến lược trong cuộc Chiến Tranh Tinh Đẩu (Star Wars).

Vậy thì bạn ơi,
-Xin đừng vẽ rồng vẽ rắn thêm cho cuộc đời vốn đã rối ren.
-Xin đừng đeo kính màu để bàn tán về thiên nhiên phong cảnh của một bức tranh.
-Xin đừng bình luận thêm về những vấn đề đang làm nhức đầu thiên hạ. Xin hãy "Dẹp bỏ cổ họng, môi, lưỡi " (1) như một thiền sư đã nói nếu bạn muốn tâm hồn an tĩnh. 
-Hãy nhìn đời như một tấm gương.
-Tấm gương nhìn người đẹp nhưng không nói gì.
-Tấm gương nhìn người xấu nhưng không nói gì.
-Xin đừng nhìn người xấu để nói rằng tâm hồn người đó xấu.
-Xin đừng nhìn người đẹp để tưởng rằng tâm hồn người đó đẹp.
-Xin đừng nhìn người giàu sang mà tưởng tâm hồn họ thánh thiện.
-Xin đừng nhìn người ăn mày mà tưởng rằng họ không có Phật tánh. (2)
-Xin đừng nhìn người giàu sang mà tưởng tâm hồn họ thanh cao.
-Xin đừng nhìn vào ngôi nhà tranh vách đất mà tưởng nơi đó không có tình thương.
-Xin đừng nhìn vào những nụ hôn nồng cháy qua phim ảnh, tài tử ci-nê, công chúa hoàng tử, người mẫu, đám cưới… mà cho đó là lâu đài hạnh phúc.
-Xin đừng nhìn một cậu thanh niên đẹp trai ăn nói ngọt ngào mà cho đó là người chồng lý tưởng.
-Xin đừng nhìn một cô người mẫu chân dài yểu điệu mà cho đó là người trong mộng.
-Xin đừng nhìn vào chiếc xe sang, bộ quần áo đắt tiền với những dự án đồ sộ mà tưởng nơi đó tín nhiệm để rồi bị lừa bạc tỷ.
-Xin đừng nhìn vào nơi thờ phượng Thần Linh huyền bí mà tưởng nơi đó thánh thiện.
-Xin đừng nhìn vào chốn vui chơi, ồn ào náo nhiệt mà tưởng nơi đó là hạnh phúc.
-Xin đừng nhìn vào nơi vắng vẻ thanh tịnh mà cho là buồn chán.

Chính Tham-Sân-Si khiến cái Tâm, cái Nhìn, cái Nghe, cái Thấy, cái Suy Nghĩ của người ta bị méo mó từ đó chỉ nhìn thấy ảnh ảo hay hình ảnh giả tạo mà không nhìn thấy thực tướng tức hình ảnh thật.
Chư Phật, chư vị Bồ Tát, A La Hán vì không bị nhiễm vào Tham-Sân-Si cho nên tâm không dao động. Vì tâm không dao động cho nên nhìn thấy thực tướng của muôn loài.

Hãy ghi nhớ lời Phật dạy:
-Hạnh phúc do nơi Tâm mình mà không do đời tô vẽ.
-Thanh thản do nơi Tâm mình chứ không do cảnh ở chung quanh.
-Thánh thiện và bợn nhơ do nơi Tâm mình mà không do thần linh ban tặng.
-Giải thoát do nơi Tâm mình mà không do nghi lễ. 
-Trói buộc do nơi Tâm mình chứ không phải sợi dây.
-Tội lỗi do nơi Tâm mình chứ không phải do sự lên án của người đời. Bởi vì sự lên án của người đời nhiều khi do hận thù và thương-ghét.
-Không một ai - kể cả Thần Linh Màu Nhiệm - có thể làm cho người khác trở nên thánh thiện và không một ai - kể cả Thần Linh Màu Nhiệm - có thể làm cho phẩm hạnh người khác trở thành hoen ố. (3)
-Không một ai có thể làm cho mình trở nên có phẩm hạnh dù trên mình đeo đủ thứ kim cương, ngọc ngà, châu báu đắt giá nhất, hoặc các chức vụ, quyền thế cao nhất trên thế gian này. Phẩm hạnh cao quý nhất là đạo đức. Mà đạo đức cao quý nhất là làm việc thiện và trang bị tâm mình bằng tâm Phật.

Bạn ơi,
-Không một ai có thể đem lại hạnh phúc – trong khi chính mình lại không muốn kiến tạo hạnh phúc cho mình.

Bạn ơi,
Muốn sống với chân hạnh phúc xin hãy chặt đứt mọi vọng tưởng điên đảo. Khi vọng tưởng điên đảo chấm dứt thì Chân Tâm sáng tỏ.
-Khi Chân Tâm sáng tỏ thì sẽ nhìn thấy vạn vật ở thể chân như.
-Khi nhìn thấy thể chân như của vạn vật thì không còn ảo tưởng.
-Khi không còn ảo tưởng thì bạn sẽ không còn vọng động.

Bạn ơi,
Thế giới càng văn minh, nhu cầu vật chất càng nhiều, con người càng sống với ảo tưởng. Ảo tưởng về sự giàu sang, về trí thức, về vẻ đẹp, về tài năng, về đức độ, về quyền uy, về chân lý, về sự thánh thiện. 
-Rất nhiều người mang ảo tưởng là mình thánh thiện nhưng thực ra họ chẳng thánh thiện gì cả.
-Rất nhiều người mang ảo tưởng là mình giàu sang nhưng thực ra họ chỉ là thứ “trưởng giả học làm sang”.
-Rất nhiều người mang ảo tưởng là mình quý phái nhưng thực ra trên đời này chẳng có gì gọi là quý phái. Quý phái giống như chiếc áo khoác ngoải. Cửi ra thì mọi người đều trần trụi như nhau.
-Rất nhiều người mang ảo tưởng là mình đẹp nhưng thực ra họ chẳng có gì đáng để chiêm ngưỡng.

Khi không còn ảo tưởng hoặc “viễn ly” được điên đảo mộng tưởng, con người sẽ sống bình dị, khiêm tốn, không hoang phí, không đua đòi, không say mê quyền lực, không còn muốn đè đầu người khác. Đó là một cuộc sống vô cùng an lành.
Hãy ”hành thâm” tức nghiền ngẫm, dùng trực giác, trí tuệ  để hiểu và thực chứng Bát Nhã Tâm Kinh thì lúc đó hành giả sẽ: “Vô hữu khủng bố. Viễn ly điên đảo mộng tưởng.” Khi đã “viễn ly’ được điên đảo mộng tưởng thì Niết Bàn sẽ hiện ra tức thì như lời Phật dạy “chân thực bất hư”.

Vậy thì:
Một khi đã biết con người luôn luôn nhìn sự vật chung quanh mình bằng cái Vọng-Tâm-Thương-Ghét thì trước một biến động của thế giới, của đất nước, của cộng đồng và thậm chi của làng xóm -  xin hãy để tâm mình lắng đọng, suy nghĩ cho chín chắn rồi mới hành động thì sẽ tránh khỏi sai lầm, gây khổ đau cho chính mình và cho người khác.
Thế giới ngày hôm nay đại loạn chỉ vì đã vô minh mà lại còn vọng động. Một trong những thảm họa của Vô Minh là, cho rằng mình tuyệt đối đúng, mình là chân lý, tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất, quốc gia mình phải bá chủ thế giới.
Trong Kinh Viên Giác, Đức Phật dạy rằng “Cái Vô Minh này không có thực thể”. Bằng thiền định, bằng trí tuệ Bát Nhã hành giả có thể phá vỡ màn vô minh.

Đào Văn Bình
(California ngày 26/3/2016)

(1) Thiền Luận của Đại Sư Suzuki, bản dịch của Trúc Thiên
(2) Kinh Pháp Cú:
“Chỉ có ta làm điều tội lỗi.
Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tranh điều tội lỗi.
Chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch.”
(3) Mới đây nhất tại Hoa Kỳ, một người ăn mày sống vô gia cư (homless) nhặt được một cái ví trong đó có 3300 đô-la,  đã đem tới sở cảnh sát trả lại vì ông ta thấy đây không phải tiền của ông. Hai nông dân nghèo ở Nghệ Tĩnh nhặt được 300 triệu đồng đã đem trả lại cho chủ nhân.

Khai Dân TríĐào Văn Bình

2015/09/13

Tìm về chú Đại Bi

 Tìm về chú Đại Bi

- Nhập đề lung khởi:
Nhà tôi trước kia ở trên mặt đường ngay đầu một con hẻm nhỏ dẫn từ đường Cô Bắc sang tới cuối đường Đề Thám cận với đường lớn Trần Hưng Đạo. Tuy là xóm hẻm nhưng theo tôi nhớ cũng có trên 100 ngôi nhà chen chúc nhau vào lúc ấy. Xóm càng nghèo càng đông là chuyện thường thấy ở khắp nơi, mà có người thì có những lễ nghi của quan hôn tang tế. Chuyện bắt đầu từ lúc nào thì tôi không nhớ nhưng hễ trong xóm có người qua đời do tuổi tác, bệnh tật, nạn tai hay chiến tranh thì đều đặt quan mượn ngay trước cửa nhà vì đó là chỗ trống rộng rãi duy nhất để mọi người tụ họp. Tiếng khóc, nhạc đám ma, người đến điếu viếng an ủi, kẻ góp nhặt phúng góp giúp tang gia. Ma chay dĩ nhiên phải rước thầy về làm lễ cầu siêu, hòa lẫn trong tiếng mõ đêm khuya, tiếng chuông khánh sáng là giọng trầm bổng u oán của các thầy với những từ ngữ lạ hoắc đại để như " bà dô bà ra, lật y mông" mà tôi chẵng hiểu gì ở lứa tuổi đó. Có lần, sau buổi tụng tôi có đánh bạo hỏi thầy và sau nầy trên đường đời với nhiều vị thầy khác nữa thì được trả lời gần gần như nhau. " Đó là chú của nhà Phật, bất khả tư nghì không thể nghĩ bàn, nói ra thì mất đi sự linh ứng. " Lúc nhỏ thì tôi tin lắm.

- Dẫn nhập:
NGÔN NGỮ là tiếng nói của một nhóm người, khảo cứu ngôn ngữ qua 3 khía cạnh chuyên môn như hình thái (forms), ngữ nghĩa (meaning) và ngữ cảnh (context) là chuyện của các nhà chuyên môn Linguistic, tôi chỉ hiểu đơn giản rằng có tiếng nói thì có ÂM THANH. Loại âm thanh đơn hay đa trầm hay bổng đó (hình thái ) được một nhóm người đều đồng ý đặt định cho sự vật gì hữu hình (cảnh) hay một loại tâm trạng xúc cảm vô hình nào (nghĩa). Tóm lại, tiên quyết của ngôn ngữ là tiếng động là âm thanh.

VĂN TỰ là chữ viết, phân tích cùng khắp rồi cũng chỉ đến kết luận là hình thức " ký hiệu hay lối vẽ lại âm thanh " để người có cùng kiến thức được đặt định như mình có thể phát ra tiếng đó hoặc âm thanh đó.

- Vào bài:
Sau một thời gian tìm hiểu, tôi được biết thêm bài chú các thầy thường tụng đó có tên gọi rất dài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni do ngài Bồ tát Quán Thế Âm tuyên chú trước hội các chư Phật chư Bồ tát.
 

Không mang ý nghĩa riêng tư nào, khi tìm hiểu thêm, chúng ta thấy xuất thân ngài Quán Âm không như đức Phật Thích Ca hoặc như chư thánh tăng sau này. Ngài chỉ hóa hiện ra trong kinh điển và tượng thờ nơi các chùa mà không có chứng cứ nào cho thấy ngài xuất hiện trong thế gian thực tại này. Nói cho rõ hơn, ngài không có một lý lịch rõ rệt về quê quán, cha mẹ, nơi tu đạo, lúc mất hoặc xá lợi gì để lại cho chúng sanh phàm trần. Ngài chỉ xuất hiện trong kinh điển Bắc tông và sẽ linh ứng mãi khi còn có người tụng niệm.

Bài chú Đại Bi lúc đầu được ghi chép bằng văn tự Sanskrit hay còn gọi là Bắc Phạn. Các nhà ngôn ngữ học ngày nay tìm thấy nhiều tài liệu để chứng minh rằng Sanskrit thuộc hệ ngôn ngữ Indo-Iranian và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ Indo-European nguyên thủy lúc đầu. Rất nhiều các từ của Âu Châu và Anh ngữ ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Sanskrit hay nói như các nhà Linguistic thời đại này thì Sanskrit is the root of all languages. ( Sanskrit là rể nguồn của nhiều nền ngôn ngữ khác ). Điều này dĩ nhiên dấy lên làn sống tranh cãi giữa các chú Âu Châu và các cụ Á Châu nhưng không thuộc về phạm vi bài biết này.

Trung Hoa vào thế kỷ thứ bảy khi mà đại sư Huyền Trang thỉnh tam tạng kinh điển từ Thiên Trúc về. Sau đó , tuy ốm đau và lớn tuổi, ngài đã ra sức dịch thuật và giới thiệu đến hậu thế cùng với công phu bao đời của các vị uyên thâm sau như ngài Nghĩa Tịnh v.v... để có phần Hán Tạng phong phú hiện nay. Truớc ngài Huyền Trang, cũng đã có những vị như Ngài Cưu Ma La Thập, ngài Bồ Đề Lưu Chi, nhưng phần dịch thuật của các ngài lại không được đón nhận nhiều.  

- Đặt vấn đề:
Vậy ta được biết, bài chú mà chúng ta tụng niệm hằng ngày trước tiên có xuất xứ từ Sanskrit Bắc Phạn, sau đó được dịch sang Hán ngữ và cuối cùng được dịch sang tiếng Việt Nam. Nhưng dịch làm sao mà ta không hiểu một câu nào? Thậm chí đến một chữ cũng không. Vấn đề ở đâu? và tại sao ta cần phải hiểu nghĩa lý trong đó, mọi người trì tụng rầm rì cả ngàn năm nay có sao đâu?

Còn nhớ trước năm 75 chúng ta được đọc các tác phẩm văn chương của Nga, Đức, Nhật v.v... qua các bản dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh của các dịch giả Việt Nam mà vẫn hiểu rõ ràng từng câu từng chữ. Tuy người Pháp cho rằng traduire c'est trahir - dịch tức là phản. Nhưng nếu cho rằng dịch một ngoại ngữ từ một ngoại ngữ thứ hai hoàn toàn không thể hiểu được thiếu phần chính xác ở đây. Bằng chứng rõ ràng là ta đọc và hiểu được qua tiếng Việt các tác phẩm như " Chiến tranh và hòa bình " Bác sĩ Zhivago" " Câu chuyên dòng sông" v.v...

- Suy diễn vấn đề:
Dịch thuật theo tôi chỉ là giải thích sự biến đổi âm thanh từ HÌNH THÁI quy định trước của nhóm người này qua một loại HÌNH THÁI âm thanh quy định của nhóm người khác sao cho họ ( 2 nhóm người ) cùng hiểu phiên phiến như nhau về NGHĨA và CẢNH. Nhưng nếu trong ngôn ngữ của nhóm này không có loại âm thanh đó thì sao? Do đó, từ sự phiên dịch chúng ta có thêm việc phiên âm là lối phát ra âm lơ lớ tạo ra được âm thanh gần như của phía bên này nhưng không có nghĩa cảnh gì của phía bên kia.

Thí dụ dể hiểu và gần với chủ đề bài này nhất tôi xin tạm dùng các chữ ngoại quốc như Washington - France - Italy - Turkey v.v... chẵng hạn. Ngày nay, chúng ta nhìn văn tự trên ( vốn là ký hiệu theo lối alphabet ) thì có thể đọc thẳng các từ trên do " vẽ lại đúng âm thanh". Nhưng với người Trung Hoa trước đây thì không thể được, trước hết họ không được huấn luyện để đọc ra các ký hiệu đó, tiếp nữa âm thanh của họ không có những hình thái đó để họ vẽ lại.

Như có đề cập ở trên, không phiên dịch được thì họ đành phải phiên âm, tức là mượn những ký hiệu nào có âm thanh gần gân phiên phiên lơ lớ như vậy để vẽ lên mà không mang bất cứ Nghĩa hay Cảnh nào trong trường hợp này.

Đây là hình vẽ các âm thanh trên và âm người Trung Hoa có thể phát ra mà ký hiệu alphabet ghi lại được:

华盛顿 huá shèng dùn 法蘭西 fǎ lang xī 意大利 yì dà lì 土耳其 tǔ ěr qí
Khi vẽ như vậy, người Trung Hoa có thể đọc lên các từ trên rất gần với nguyên âm, nhưng khi Hán Tự của Trung Hoa sang đến Việt Nam thì được chuyển đổi thành Hán Việt là hệ thống có cùng hình thái-ngữ nghĩa-ngữ cảnh như bên Trung quốc nhưng lại có lối phát âm địa phương khác nhau. Điều này cũng không khó hiểu lắm khi hiện nay Trung Hoa có khoảng 300 ngôn ngữ khác nhau tuy cùng phát âm trên một chữ viết từ khi nhà Tần thống nhất, mãi đến gần đây đã được lối chữ bính âm hay dể hiểu hơn một lối vẽ mới đơn giản hơn dần thay thế lối vẽ phồn thể nhiều nét. Như vậy, một chữ viết ra của Hán ngữ có gần 300 âm địa phương phát ra khác nhau. 

Hệ Hán-Việt khi đọc lên Hán tự lại có các âm khác rất nhiều so với âm Hán-Trung nên chúng ta đọc nên các âm sau đây:

Hoa Thịnh Đốn Pháp Lan Tây Ý Đại Lợi Thổ Nhỉ Kỳ

Dĩ nhiên, những âm trên hoàn toàn là tối nghĩa, không mang một ý thức hay ý tứ nào, nó chỉ giúp ích cho người Trung Hoa mượn đọc các âm ngoại khác mà không dùng cho người Việt đọc lên mang theo một ý nào. Không thể nào dịch Washington là nơi hoa khốn đốn rơi thịnh đầy, không dịch được France là hoa Lan trồng theo phương pháp ở hướng tây, v.v...

Cuối cùng, chỉ có hành động từ một phiên dịch chuyển thể sang một phiên dịch khác là rõ ràng và sáng nghĩa, ngược lại ta cũng thấy được sự vô ý sự cẩu thả hay nói nặng hơn là hành động mông muội của việc lấy phiên âm từ một ngoại quốc chuyển sang một loại phiên âm khác hay từ phiên âm chuyển sang phiên dịch càng tệ hại hơn.

Người xưa có nói, làm thầy thuốc phạm sai lầm thì giết một mạng người, làm chính trị sai lầm giết một dân tộc nhưng làm văn hóa sai lầm thì giết cả một thế hệ.

Trong những bài kinh Phạn được phiên âm sang tiếng Hán rồi lại phiên âm lần thứ nhì qua tiếng Hán-Việt tối nghĩa trên, đây không những là giết một thê hệ mà trên ngàn năm qua đã giết cả một nền đạo học tâm linh của biết bao thế hệ người Việt. Tệ hại nhất, là hàng tăng chúng với kỹ thuật hiện đại ngày nay lại không tìm hiểu nghiên cứu để phục hồi lại ý tưởng thâm diệu ban đầu của kinh tạng, chẳng những vậy, y cứ trên hàng cư sĩ không hiểu rõ đạo, các thầy giảng dạy tùy hứng tùy tâm trí sở kiến của các thầy đến với người nghe rõ ràng là đem hạ kinh điển chư Phật xuống ngang hàng với kiến thức không thể nghĩ bàn của bản thân mình.

Phật pháp thậm thâm vi diệu cứ như thế được một số tăng chúng vô minh lợi dụng. Sau đây sẽ dùng một câu rút từ bài chú đại bi bằng tiếng Sanskrit với các phiên dịch qua tiếng Anh tiếng Việt tiếng Trung cùng với các phiên âm của Hán-Trung và Hán Việt để chúng ta dễ dàng theo dõi và nắm giữ mạch của bài viết cũng như quý vị chú ý nhất vào phần phân câu và ngắt đoạn, do phiên âm không hiểu lời kinh nên người Trung Hoa đã ngắt thành 84 câu với những lời giải thích mơ hồ, lời chú nghĩa hoàn toàn sai nguyên nghĩa và còn sai quấy hơn trong việc y vào 84 câu mà chế bậy xuất tượng ra 84 hóa thân của đức Quán âm mà mỗi câu là một hình tướng khác nhau trong khi nguyên văn vốn chỉ có 36 câu.

Sanskrit : Namo ratna-trayāya Namo āriyā - valokite - s'varāya
Hán Trung văn tự : 南無 喝囉怛那哆囉夜耶 南無. 阿唎耶 婆盧羯帝. 爍缽囉耶
Hán-Trung âm: nā mo hē là dá nà duō là yè yé nā mo a lī yé wó lú jié dì shuò bō là yé
Hán Việt đọc từ Trung Văn: Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da Nam Mô A Rị Da Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da

Tìm hiểu từng phần đoạn cổ kinh trên, ta lần lượt hiểu ra:
Namo hay còn được viết hoặc phát âm là Namah hay Namas có nghĩa là Thành kính hưóng về...
Ratna: là châu báu quý giá hay còn được gọi là Bảo theo Hán Việt
Tra: từ gốc có nghĩa là ba hay Tam của Hán Việt, ở đây chúng ta nghe thấy các âm Tri của Latin, Tres của Tây Ban Nha, Trois của Pháp hay Three của Anh Ngữ.
Trayaya ở đây có nghĩa là thể trạng 3 không tách rời nhau.
Ariya: là đấng thanh khiết, đấng huệ trí
Valokite còn đọc là Avalokite có nghĩa là sự tự tại
S'varāya hay còn đọc là s'varay (sound) chứ không phải là svaha (hail) có nghĩa là âm thanh chứ không có nghĩa là một lời chào mừng như nhiều người lầm tưởng.

Vậy nguyên văn của Namo ratna-trayāya Namo āriyā valokite s'varāya có nghĩa hết sức rõ ràng là Thành kính hướng tâm đảnh lễ ngôi Tam Bảo, thành kính hướng tâm đảnh lễ đấng tự tại và âm thanh.

Ta biết thêm do từ danh hiệu của ngài Avalokite Svaraya mà người Trung Hoa tôn ngài là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm hay Quán Âm. Cũng xin nói rõ thêm, danh từ Svaraya Quán Âm được thêm vào kinh điển sau thế kỷ thứ bảy chứ trước đó chưa hề xuất hiện. Có thể tín ngưỡng thiên hạ thấy ngài tự tại quá không được nên mới giao cho việc quán sát âm thanh để cứu độ chúng sanh.

Dưới đây là toàn bộ bài Chú Đại Bi với âm Hán Việt và lời chú giải, phần viết đậm nhạt vốn chỉ là ngắt câu cho mỗi nghĩa, nhưng được viết chung để nối ý vào nhau.

Câu 1
Namo ratna-trayāya Namo āriyā-valokite-s'varāya
Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da
( thành kính đảnh lể ngôi tam bảo)
Nam Mô A Rị Da Bà Lô Yết Đế Thước Bát Ra Da
( thành kính đảnh lể đức Quán Tự Tại - đức Quán Thế Âm )
 

Câu 2
Bodhi-sattvāya Maha-sattvāya Mahā-kārunikāya
Bồ Đề tát đỏa bà da ma ha tát đỏa bà da ma ha ca lô ni ca da
( bậc bồ tát giác ngộ hữu tình - bậc đại sĩ - bậc đại bi tâm )
 

Câu 3
Om sarva rabhaye sudhanadasya
Án Tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả
( tán thán việc quy y nhất thiết thánh chúng và chánh pháp tùy thuộc )
 

Câu 4
Namo skritva imam āryā-valokite-s'vara ram dhava Namo narakindi hrih
Nam mô tất kiệt lật đỏa y mông a rị da bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà Nam mô na ra cẩn trì hê rị
(Sau khi hoàn tất việc đảnh lể đấng Quán tự tại quán âm đại từ tâm địa tiếp đến thành kính đảnh lể bậc đại chí thánh, bậc hiền thiện tôn giã )


Câu 5
Mahā-vadha-svā-me
ma ha bàn đa sa mế
( Phóng ra ánh sáng đại quang minh )


Câu 6
Sarva-arthato-s'ubham ajeyam Sarva-sata
Tát bà tát bà a tha đậu du bằng a thệ dựng Tát bà tát đa na ma bà tát đa
( khiến cho hết thảy chúng sanh nhất thiết được vô ưu vô tỷ bỉ vô tham và trong sạch diệu tịnh.)


Câu 7
Namo-vasat Namo-vāka mavitāto
na ma bà tát đa Na ma bà dà Ma phạt đạt đậu
( từ đó, hướng tâm đảnh lể quy y bậc thiện hữu tình, quy y bậc đồng tử mà Trời và người đều hằng mong thân cận.)


Câu 8
Tadyathā: Om avaloki-lokate-
đát điệt tha Án. A bà lô hê Lô ca đế
( Thần chú tuyên ra: Hợp nhất thể đại đồng với Quán Tự Tại )


Câu 9 & 10
karate-e-hrih Mahā-bodhisattva Sarva sarva Mala mala
Ca ra đế Di hê rị Ma ha bồ đề tát đỏa Tát bà tát bà Ma ra ma ra
( từ người phát đại bi tâm đến nhất thiết các đại giác hữu tình như hoa thanh tịnh vô nhiễm lan ra khắp nơi chốn. )


Câu11 & 12
Mahi Mahi ridayam Kuru kuru karmam .
Ma hê ma hê rị đà dựng
( phát đại tự tại tâm hăng hái thường tạo nên các thiện nghiệp)


Câu 13 & 14
Dhuru dhuru vijayate Mahā-vijayati Dhara dhara dhrinis'varāya
Cu lô cu lô yết mông Độ lô đồ lô phạt xà da đế Ma ha phạt xà da đế Đà la đà ra Địa rị ni Thất Phật ra da
( mới có năng lực độ thoát khỏi các triền phược và vượt thắng lên được, phải ráng sức duy trì cho có được tâm kiên cố dũng mảnh tự tại)


Câu 15
cala cala mama vimala muktele
Giá ra giá ra Mạ mạ phạt ma ra Mục đế lệ
( lâu dần khiến cho biến hóa dẫn đến sự giải thoát vô nhiễm )


Câu 16 & 17
Ehi ehi s'ina s'ina ārsam prasari vis'va vis'vam prasaya .
Y hê di hê Thất na thất na Ra sâm Phật ra xá lợi Phạt sa phạt sâm Phật ra xá da
( nương theo đó mà thực hiện hoằng pháp hởi vị Pháp vương tử chủ của hòa bình 


Câu 18 & 19
Hulu hulu mara Hulu hulu hrih
Hô lô hô lô ma ra Hô lô hô lô hê lỵ
( tiếp tục tu hành , tiếp tục làm sạch thân và làm sạch tâm - thanh tẩy thân tâm )


Câu 20 & 21
Sara sara Siri siri Suru suru Bodhiya Bodhiya Bodhaya Bodhaya
Ta ra ta ra Tất rị tất rị Tô rô tô rô Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ Bồ đà dạ bồ đà dạ
(Kiên cố lên, dũng mảnh lên, rực rỡ lên không thôi không gián đoạn. Giác ngộ, giác ngộ mau hỡi người có căn cơ chứng giác.


Câu 22 & 23 &24
Maitreya narakindi dhrish-nina bhayamana svāhā Siddhāya svāhā
Di đế lỵ dạ Na ra cẩn trì Địa rị sắc ni na Bà dạ ma na Ta bà ha Tất đà dạ Ta bà ha
( với tâm đại từ đại bi khi người đã thành tựu, có được danh tiếng cũng do tâm từ bi đó )


Câu 25 & 26 & 27
Maha siddhāya svāhā Siddha-yoge-s'varaya svāhā Narakindi svāhā
Ma ha tất đà dạ Ta bà ha Tất đà dũ nghệ Thất bàn ra dạ Ta bà ha Na ra cẩn trì Ta bà ha
( thành tựu do tâm đại từ bi phát ra, thành tựu trong việc giải thoát tương ứng với vạn pháp, thành tựu trong đức hạnh )


Câu 28 & 29 & 30
Māranara svāhā S'ira simha-mukhāya svāhā Sarva mahā-asiddhaya svāhā
Ma ra na ra Ta bà ha Tất ra tăng a mục khê da Ta bà ha Ta bà ma ha a tất đà dạ Ta bà ha
( thành tựu trong diệu nghĩa vô cấu, thành tựu không ai có thể sánh khi nói ra có sức thuyết phục, thành tựu ai có thể sánh trong tất cả các ý nghĩa sâu sắc )


Câu 31 & 32
Cakra-asiddhāya svāhā Padma-kastāya svāhā .
Giả kiết ra a tất đà dạ Ta bà ha Ba đà ma kiết tất đà dạ Ta bà ha
(thành tựu không ai sánh trong chuyễn Pháp luân , thành tựu không ai sánh trong đóa sen đỏ tượng trưng cho diệu tịnh nghiệp )


Câu 33 & 34
Narakindi-vagalāya svaha Mavari-s'ankharāya svāhā
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ Ta bà ha Ma bà rị thắng yết ra dạ Ta bà ha
( thành tựu trong việc trở thành đức Thế Tôn, thành tựu trong đem uy đức của mình tạo ra tính nhiệm cho mọi người )


Câu 35
Namo ratna-trāyāya Namo āryā-valokite-s'varaya svāhā
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da Nam mô a rị daBà lô kiết đế Thước bàn ra dạ Ta bà ha
( thành kính đảnh lễ ngôi tam bảo, thành kính đảnh lễ đức Quán Tự Tại - đức Quán Thế Âm )


Câu 36
Om Sidhyantu mantra padāya svāhā
Án. Tất điện đô Mạn đà ra Bạt đà gia Ta bà ha.
( tuyên chú: hiệp nhất các thành tựu trên viên mãn, đạt được sự viên mãn thành tựu đó qua trì tụng lời chân ngôn này)

- Kết:
Bài viết này sẽ khiến mất lòng nhiều người, tôi nhận thức được điều này trước khi ngồi viết ra. Một việc cả ngàn năm đương nhiên được mọi người nhìn nhận thì không thể chỉ trong khoảnh khắc với vài trang giấy thì có thể thay đổi được giá trị và ý nghĩa của nó.
 

Tôi viết để ... chơi với tôi, với những ai muốn chơi theo.
Tôi không chơi với anh Trung Hoa chuyên gia lừa gạt từ vật chất đến tín ngưỡng và tâm linh.
Tôi không treo 84 bức tranh Tàu vẽ hóa thân các vị tiên Trung Hoa và gọi là Quán Thế Âm.
 

Dịch thuật của tôi còn nhiều sai sót nhưng ít ra tôi không tụng lảm nhảm " bà dô bà ra " và nghe dạy cứ tin là được vì đức Phật không hề dạy ta những điều đó.

Cuối cùng, ai không thích, xin hãy ... bất khả tư nghì.

Huỳnh Bá Hinh
(09/2015)

Khai Dân TríHuỳnh Bá Hinh

2015/08/26

HÀNH TUNG SƯ VC GIÁC ĐẲNG

HÀNH TUNG SƯ VC GIÁC ĐẲNG

Kính thưa quý Phật tử,

Đã có nhiều email, thư từ cùng những lời khen tặng tài năng Phật pháp cũng như năng khiếu của TT Thích Giác Đẳng, không phải kể từ ngày ông nhậm chức Quyền chủ tịch Văn Phòng 2 VHĐ mà trước đó Phật tử vùng Houston, Dallas chúng tôi ai cũng biết, cho nên tôi không làm mất thì giờ nhắc những tính đặc biệt của một nhà sư.

Anh em chúng tôi từng chú ý là không có một vị tăng nào đi nhiều như TT Thích Giác Đẳng, thầy rời chùa Pháp Luân nhiều mà chúng tôi thường không biết thầy đi đâu? Gặp ai ? Làm gì? Thầy hoạt động năm châu, bốn bể xứ nào cũng có dấu chân của thầy. Tự hỏi thầy làm gì ? Lợi lạc gì cho Phật tử tại Hoa Kỳ và cho GHPGVNTN trong những chuyến đi âm thầm này?

Đêm nằm gác tay lên trán, đau lòng xót dạ cho nguời ở lại, cho HT. Quảng Độ bị quản thúc trong một căn phòng nhỏ hẹp mà CS lưu manh đày đoạ Đức Tăng Thống và tăng ni trong nuớc. Hải ngoại thì CS thao túng chia rẽ cộng đồng Việt Nam tỵ nạn. Nào là hai hội Không Quân, hai Chu Văn An, hai Hai Bà Trưng, hai Phan Thanh Giản, hai Võ Bị Thủ Đức, hai Phật giáo Hoà Hảo. 3, 4 GHPGVN.

Ai có chút trí tuệ cũng biết tại sao? Con nít sinh đẻ ở Mỹ thì không biết nên chúng nghĩ : the more the merrier ! Xứ tự do. Nhưng chúng ta đã đi tù tới khòm lưng, mất nhà, mất mắt, mất tay, mất chân, có anh còn mất vợ con thì làm sao chấp nhận thủ đoạn của CS, làm sao các anh quên miết ? Nó chia rẽ để cai trị, nó chia rẽ để tiêu diệt.

Hội nhau 5, 7 anh em uống trà rồi nghĩ tới trường hợp TT Thích Giác Đẳng.

Bây giờ nói về Thầy Giác Đẳng: 5 anh em của Thầy đều đi tu, 4 người được đưa ra nước ngoài đào tạo, ai cũng có cao học, ai cũng có chùa to, Phật tử nhiều, đệ tử hâm mộ, sùng bái.

Em trai của thầy là TT. Thích Trí Tịnh có cái chùa đồ sộ ở San Petersburg, Florida. Năm nay nhân dịp lễ Dâng Y, thầy Trí Tịnh mời ba ông sư bên VN qua chơi, truớc khi về VN, ba ông nhờ một Phật tử đưa ra hãng bán xe (Toyota dealer) mua ba chiếc xe đem về VN ?

Xin thưa, chưa có sư nào thuộc về GHPGVNTN theo thầy Quảng Độ được đi ra ngoại quốc, chỉ có sư Quốc Doanh đi mà thôi.

Thử nhìn đám tang sư Thích Giác Nhiên, búng một cái tóc là cả trăm tăng ni Phật tử được cấp visa theo ngài về Vietnam để đám ma tổ chức "hoành tráng" tại Saigon.

Tháng 7 vừa qua, Thầy Giác Đẳng rước 3 ông sư bên VN qua nhân dịp anh của thầy là thầy Thích Trí Chơn từ Ấn Độ sang để mở khoá tu học Phật Pháp tại chùa Pháp Luân thành phố Houston. Họ ở hotel Mỹ để tránh mắt người tỵ nạn CS. Trong những ngày đó, thầy Giác Đẳng đưa thầy Thích Trí Chơn đi giảng chung với sư quốc doanh ở Thiền Viện Mây Từ ?

Ai cũng biết đó là trung tâm của nhóm Phật tử theo thầy Quốc Doanh sáng lập. Chưa bao giờ có một vị sư nào xuất thân từ Văn Phòng II VHĐ hay GHPGVNTN đến Mây Từ giảng cả. Chỉ có Phật tử của GHPGVNTN đến nghe vì Văn Phòng II không giảng pháp ở chùa, vì Phật tử khao khát học Phật Pháp. Không ai ngạc nghiên hay trách Phật tử khi biết thành viên của GHPGVNTN của ngài Quảng Độ lại đi nghe Phật pháp từ những giảng sư thuộc Giáo Hội Quốc doanh.

Xin hỏi thầy Giác Đẳng, chúng tôi biết ông là một TT có tất cả những gì mà một nguời xuất gia bình thường không có. Đức Tăng Thống giao cho Ông chức vụ cao nhứt trong hàng tu sĩ tại Hải ngoại. Ngoài này HT. Thích Hộ Giác truyền thừa cho ông ngôi chùa Pháp Luân và những Phật tử đã từng theo ngài.

Vì sự kêu gọi của GHPGVNTN và HT. Thích Quảng Độ mà Phật tử ở hải ngoại mới bỏ ra tiền tài, tinh thần, vật chất và thì giờ để cùng ông đi vận động xin tiền tạo dựng Ngôi Chùa Chung cho Văn Phòng II VHĐ.

Chùa vừa ra mắt tăng ni, Phật tử xong, là thầy đi miết. Đi không ai biết thầy đi đâu mà về thầy cũng không bỏ chút thì giờ ra giảng pháp, cứ như vậy mà chùa Phật Quang trở thành một cái nhà bất an. Hàng trăm người tới dự Lễ Khánh thành. Nay rút xuống vài chục người trong lễ Phật Đản hay Lễ Huý Nhật Đức Cố Đệ tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang ! Mỗi chủ nhật có chừng một chục, mười lăm người ! Người ta đến thì bị sư cô của thầy hỏi han tò mò xem như chúng tôi là người của CS hay tay sai của Viên Lý. Bạn bè HO của tôi bên Denver cho biết sư cô ở chùa Phật Quang chưa thọ đại giới, mới là Sa di ni thôi, vậy mà thầy Giác Đẳng luôn luôn giới thiệu ni cô là Sư cô. Phải chăng để nâng cao thầy. Cũng như cô giáo Chi Huệ bên Dallas hay đi sát cạnh thầy, thầy giới thiệu cô là giáo sư. Chức vụ thầy phải cần nguời có bằng cấp cao đế phục vụ thầy ư ?

Tôi biết thầy Giác Đẳng tham vọng, nhưng dài dòng để nhắc cho thầy nhớ là thầy ở một địa vị cao lắm. Điều tôi muốn hỏi đây là động lực nào đưa thầy vào ngõ bí để thầy không khâm tuân VHĐ ? Thà không báo cáo tài chánh để rồi phải từ chức Quyền Chủ Tịch Văn Phòng II VHĐ. Chúng ta ai cũng biết từ Quyền chủ Tịch đến Chủ tịch không bao xa và một ngày nào Đại Lão HT. Thích Quảng Độ ra đi, thầy sẽ lên cao như diều gặp gió.


Động lực nào đưa đẩy thầy làm tan nát Văn phòng II VHĐ ? Hay chính thầy làm cho Văn Phòng II tan nát?


Mong thầy và Nhóm Riêng của thầy tự hỏi nhau, tự trả lời. Và trả lời cho chúng tôi được biết.


A Đi Đà Phật.


Tâm Thảo Huỳnh Ngọc Hiếu

Khai Dân TríTâm Thảo Huỳnh Ngọc Hiếu

2015/06/07

THÔNG ĐIỆP PHẬT ĐẢN 2559

THÔNG ĐIỆP PHẬT ĐẢN 2559
của Đức Đệ Ngũ TăngThống Thích Quảng Độ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư tôn Giáo phẩm, Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức Tăng Ni
Kính thưa toàn thể Phật giáo đồ trong và ngoài nước,


Thưa quí liệt vị,

Phật Đản là ngày trọng đại hằng năm nhắc nhở Phật giáo đồ khắp năm châu Nhớ Phật, nhớ lại bản thệ độ sinh cao cả và hùng tráng mà Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni phát nguyện gần ba nghìn năm trước.

Đạo Phật truyền vào nước ta đã trên hai nghìn năm, là truyền vào tinh thần phục vụ chúng sinh, trải xuống đất nước con đường ngộ nhập Phật tri kiến. Bất cứ ở đâu, thời đại nào, năm tháng sống của người con Phật là nhịp đập thời gian của từng hơi thở chuyển hoá bản thệ độ sinh ấy.

Với truyền thống này mà người Phật tử cùng với nhân dân nước Việt đóng góp đắp xây văn hiến, dựng nước và giữ nước thông qua hàng trăm cuộc kháng chiến suốt mười thế kỷ đầu Bắc thuộc, để dựng lên một Quốc gia Đại Việt tự chủ tự cường vào thời Lý.

Dân tộc Việt Nam thực hành đạo Phật vì đạo Phật là chìa khoá mở ra một thế giới an lạc, hạnh phúc, với lòng bao dung, khoan hoà, và từ bi vô hạn, mở ra một xã hội người, với sự tôn trọng, bảo vệ con người trong sự chia sẻ đồng đều từ vật chất tới giác ngộ. Trên quan điểm con người tự do, có văn hiến, Dân tộc và Phật giáo đã hợp thành thể thống nhất cho sự bảo vệ và cứu độ con người.

Thế nhưng lịch sử càng đi tới, thì con người Việt càng bị thụt lùi vào nơi lăng nhục, khổ đau, áp bức do những chính quyền vọng ngoại xa lìa gốc Việt gây ra. Sáu mươi năm qua, liên tục trong cuộc chiến tranh thừa sai và tranh chấp ý thức hệ là thời đại điển hình cho sự vùi dập con người Việt xuống đáy tầng khổ nhục không lối thoát, làm cho người Việt có thân người nhưng không được làm người. Vì đó mà chiến tranh chấm dứt từ bốn mươi năm vẫn chưa có hoà bình và thống nhất trong lòng người. Bao lâu một chính quyền lấy con người làm phương tiện, chưa xem con người làm cứu cánh, thì dân tộc còn điêu linh, đất nước còn nô lệ.

Cho nên, ngày có hàng trăm triệu người trên thế giới tổ chức Đại lễ Phật Đản, người Phật tử Việt Nam trong hay ngoài nước hãy lắng lòng Nhớ Phật, nhớ lại bản thệ độ sinh cao cả của Đức Bổn Sư, để biến mình thành lực lượng HOÁ GIẢI.

Hoá Giải để nâng cao phẩm giá con người  tự chủ dân tộc làm nền tảng cho sự phục hồi nhân cách và văn hoá, hầu đối phó với mọi cuộc xâm lăng, từ lãnh thổ tới tư tưởng, đang làm tha hoá nhân tâm suốt sáu mươi năm qua.

Xin chư liệt vị hãy tăng trưởng tín tâm, kiên trì giới hạnh, lấy tinh thần Lục hoà dẹp phá những lục đục gây từ vô minh và vị ngã, để xây dựng Đạo pháp và quê hương.

Trong giây phút thiêng liêng của ngày Đại lễ, xin chư tôn Giáo phẩm, Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức Tăng Ni, cùng toàn thể Phật giáo đồ trong và ngoài nước, hãy dành một phút mặc niệm cho các vị Thánh Tử Đạo, và những ai đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền Dân tộc, xiển dương Đạo pháp.

Không lúc nào bằng lúc này, sự đoàn kết vị tha của Tăng, Ni, Phật tử sẽ có yếu tố quyết định cho công cuộc Hoá Giải cứu khổ trừ nguy.

Nam Mô Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Thanh Minh Thiền Viện, Saigon Ngày Phật Đản
Đệ Ngũ Tăng Thống,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

Khai Dân TríThích Quảng Độ

2015/04/05

Thế Nào Là “Trú Dạ Lục Thời An Lành”?

Thế Nào Là “Trú Dạ Lục Thời An Lành”?

Trong mọi khóa lễ,
Chư tăng ni, Phật tử đều cầu xin:
Trú dạ lục thời an lành”.
Tức ngày đêm hai mươi bốn tiếng an lành.
Nhưng an lành là gì?
Chiến tranh không phải an lành.
Bao vây, cấm vận, lật đổ là thảm họa của an lành.
Đem nhau ra Liên Hiệp Quốc tố cáo nhau là tạo thêm nghiệp nặng sâu dày,
Và giết chết sự an lành.
Đánh bom tự sát dù với bất cứ lý do gì đều không phải an lành.
Chặt đầu người cô thế bị bắt cóc,
Sao có thể hãnh diện được chứ?
Chiến thắng gì ở đây?
Máy bay không người lái ngày đêm rình rập phóng hỏa tiễn,
Dân lương thiện thác oan sao có thể an lành?
Xâm lấn biên giới, biển đảo người ta,
Thì …chiến tranh đã tới cửa nhà của anh.
Sao có thể gọi an lành?
An lành không chỉ bằng lời nói.
Không chỉ bằng cầu nguyện.
Muốn có an lành phải yêu mến an lành.
Phải được giáo dục về an lành.
Phải tâm tâm niệm niệm an lành.
Và phài làm chuyện an lành.
Sáng thức dậy thường nói câu “Tôi mong ước một ngày an lành”.
Khi ra đường hãy nhìn mọi người như người thân của mình.
Xe lớn nhường xe nhỏ,
Xe nhỏ nhường người qua đường, xe máy.
Phải nhìn người già như chú bác, cha mẹ của mình.
Phải nhìn em bé như cháu con thơ dại.
Đừng hung hăng, lái ầu, lái bừa.
Đừng uống rượu.
Rượu vào rồi thì xe tới nghĩa trang.
Đi đâu mà vội mà vàng?
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây? (Ca dao)
Một phút bất cẩn,
Xe văng xuống vực,
Đâm phải lề đường,
Lao vào xe khác.
Bao người oan thác.
Cầu siêu sao cho hết?
Mình chết đã đành.
Nhưng,
Vợ thành góa phụ đời dang dở.
Con mất cha côi cút cả đời.
Mẹ nhớ con mỏi mòn nước mắt.
Chưa phải 70 mà oan thác.
Thì đâu phải chuyện an lành.
Khi vào công trường.
Hãy cất tiếng chào thân thiện.
Chào anh, chào chị, chào tất cả.
Chúng ta đều là công nhân vất vả.
Đem mồ hôi đổi lấy bát cơm.
Không có gì phải vội vã.
Nhiệm vụ trên giao cố làm cho tốt.
Cầu cống, đường xá mới khánh thành mà đổ sụp.
Làm tổn thương danh dự quốc gia.
Tổn hại công quỹ.
Rồi điều tra, truy tố.
Sao có thể gọi an lành?
Giàn giáo, giàn xây, giàn xi-măng cốt thép.
Kỹ sư ở đâu sao không kiểm tra từng giờ từng phút?
Coi tính mạng người còn rẻ hơn bèo.
Cúi đầu nhận tội không gì hơn sửa chữa.
Hứa về sau đừng tái phạm lỗi lầm.
Vào công sở,
Câu đầu tiên là “thượng tôn luật pháp”.
Thương em anh để trong lòng
Việc quan anh cứ phép công anh làm” (Ca Dao)
Đừng tham ô đừng bòn rút của công.
Tai vách mạch rừng.
Cây kim bọc giẻ.
Hễ bất hợp pháp, gian ngoan là có ngày ra vành móng ngựa.
Hễ đứng đó thì không một ai ngửa mặt.
Gia đình ở nhà tủi hổ biết là bao.
Thanh liêm dù nghèo nhưng yên ổn.
Đói cho sạch rách cho thơm” cổ nhân dạy thế.
Tới bệnh viện là nhớ ngay câu “từ mẫu”.
Tiêm chủng ngừa phải cẩn thận bác sĩ ơi!
Ở Mỹ này mà chữa bệnh kiểu rỡn chơi.
Đi “gỡ lịch” vài chục năm trong nhà đá.
Nếu không chắc phải hỏi ngay y tá.
Nhìn tới lui xem đúng thuốc hay không?
Uống nhầm thuốc còn nước bơm cứu chữa.
Thuốc tiêm rồi thì Thần Chết cứu mà thôi!
Bất cẩn giết người là ngộ sát.
Là mất bằng là lương tâm cắn rứt.
Cắn rứt cả đời sao có thể an vui?
Xin nhớ cho;
Cẩn thận là niềm vui.
Và trách nhiệm là an lành chắc chắn.
Tới trường học xin nhớ câu “tiên học lễ”.
Là cái nôi giáo dục của con người.
Bao kỹ sư, bác học ở đây thôi.
Sao biến nó thành một nơi đáng sợ?
Cô giáo túm tóc nhau đánh đòn hội chợ.
Nữ học sinh phang ghế bạn tơi bời!
Muốn đánh lộn sao không tới lò luyện võ.
Ra đứng đường, gia nhập đảng lưu manh.
Chuyên cướp giật và bán buôn ma túy.
Cửa Khổng sân Trình là nơi cao quý.
Ra trường rồi còn nhớ bạn khôn nguôi.
Là nơi giáo dục để nên người.
Thầy cô cũ, giờ con thương  nhớ quá.
Xưa ông Châu Trí  đốt lá đa để học mà thành kẻ sĩ.
Bao danh nhân Việt dùng đom đóm làm đèn.
Sao giờ đây trường học quá văn minh.
Nhưng lại biến thành nơi đáng sợ?
Là tu sĩ nhớ diệt tham-sân-si trước đã.
Giới luật nghiêm Phật di giáo nằm lòng.
Thì trú dạ lục thời mới an lành.
Tiếp nữ thí chủ tại nơi buồng ngủ,
Hẹn hò nơi khách sạn, casino.
Thì sớm muộn hình cũng lên Internet.
Rồi om sòm phiền lòng giáo hội.
Cứ  chống đỡ hoài thì chỉ toàn phiền não.
Cảnh sát tới điều tra ôi danh dự đâu còn?
Tại hải ngoại này nhất sư, nhất ni, nhất tự.
Không ai chịu ai và gây quỹ liên miên.
Xưa Phật Tổ ăn mày đi chân đất.
Mà khắp Trời, Người phải tán thán bằng hoa.
Nay tăng ni xe cộ đắt tiền.
Điện thoại thì iPhone, iPad.
Sung sướng thế mà chẳng thấy ai thành Phật.
Rồi tối đến thì ngồi đếm bạc.
Làm MC ăn nói lung tung.
Có tụng niệm cũng chỉ là lấy lệ.
Tâm bợn nhơ sao có thể cứu đời?
Lời Chư Tổ còn ghi hay quên hết?
Hàng trí thức dần dần xa lánh hết.
Muốn cuộc sống an lành sao đua nhau nhậu nhẹt?
Mời bạn về, bạn hóa quỷ râu xanh.
Ăn nhậu đâu phải chuyện an lành.
Không nói tục thì cũng thành đâm chém.
Thói nhậu nhẹt xin hãy cùng bỏ bớt.
Giờ của dân ngồi nhậu để làm gì?
Không móc ngoặc thì cũng là đút lót.
Cần bỏ thói đam mê cờ bạc.
Trò rủi may tàn hại đời người.
May mà thắng thì của thiên trả địa.
Hễ thua rồi thì trộm cắp, sát nhân.
Kinh khủng lắm tứ đổ tường, bài bạc.
Yêu cuồng loạn, lên lầu tìm cái chết.
Mà chết rồi thần thức có yên không?
Công mẹ cha dưỡng dục thuở lọt lòng.
Công đất nước tính ra đâu phải nhỏ?
Vậy yêu quá cũng sẽ là nguy hiểm.
Chẳng an lành mà cũng chẳng ra chi.
Mình chết rồi cô, cậu ấy ra đi.
Vui duyên mới tháng ngày rồi quên hết.
Đời còn trẻ sao không nuôi mộng lớn?
Vào phòng trà nhảy nhót suốt thâu đêm.
Lắc, xì-ke theo giọng hát cuồng điên.
Cảnh sát tới cúi đầu trông hổ thẹn.
Đời đốt đi trong tối tăm thấp kém.
Thật đáng thương cho những kẻ mê mờ.
Bạn ơi,
Đời này là một bài thơ.
Một bải thơ rất đẹp,
Khi chúng ta biết dệt.
Và dệt bằng tơ sợi an lành.
Ngả nón chào người là dấu hiệu hòa bình.
Nói năng lễ độ là yên lành.
Nói lời thơm thảo là an lành.
Biết nói lời “cám ơn” là yên lành.
Không biết nói ”cám ơn” có khi rắc rối.
Cũng cần phải biết nói lời “xin lỗi”.
Và cũng cần lịch sự.
Thấy người lầm lỡ thì mỉm cười nói “không sao cả”.
Lên thang máy, xe buýt nhường chỗ cho người tàn tật, người già.
Lịch sự là an lành và mình tăng thêm giá trị .
Hỉ xả là an lành.
Chân thật là an lành.
Không kiêu căng phách lối là an lành.
Không nói lời bông đùa cũng an lành.
Bàn tán chuyện người là mua thù chuốc oán.
Cũng cần bỏ ngay thói quen phỉ báng.
Bồi thường người bại sản tán gia.
Không khoe khoang của cải, nữ trang là tốt nhất.
Tránh mạng vong và đưa giặc cướp tới nhà.
Nhớ  làm việc trong tinh thần trách nhiệm.
Hiểu được nhân quả  là trở nên lương thiện.
Không hơn thua trong lời nói sẽ an lành.
Không dính líu vào chuyện tào lao vô bổ là khôn khéo.
Gái ăn mặc hở hang là ngu dại.
Không bị khinh chê thì cũng tàn hại một đời. (*)
Xin nhớ cho tư cách của con người nằm trong y phục.
Không tạo khổ đau cho người khác là không tạo Nghiệp.
Giữ gìn môi trường sạch mới an lành.
Không chế đổ giả là bán buôn lương thiện.
Thuận mua vừa bán, không mánh mung, chặt chém.
Cứu giúp mọi người là nuôi dưỡng Tâm lành.
Hạ bớt tự ngã và khiêm cung, khiêm tốn.
Cho đến nhẫn nhục,
Tất cả đều  an lành.
Niệm Phật trong mọi tình huống để tâm địa bình ổn thì mọi chuyện đều an lành.
Một ngày an lành là một ngày không ganh đua, cãi lộn.
Không bị ai chửi và cũng không chửi rủa ai.
Một ngày an lành là một ngày không chơi games và tránh xa ma túy.
Một ngày an lành là ngày tụ họp gia đình.
Do đó kiên trì giáo dục, không đánh đập, mắng chửi cháu con là tốt nhất.
Một ngày an lành là một ngày vui chồng vợ.
Nhỏ nhẹ bảo ban, trìu mến nhau, nâng đỡ.
Đó là niềm hạnh phúc gia đình.
Vợ chồng cảm thông và chịu đựng lẫn nhau là nhà có phúc.
Không mắng nhiếc, cằn nhằn, trách móc là xây lầu đài lý tưởng.
Mẹ chồng nàng dâu muôn đời lủng củng.
Thiếu khôn ngoan thì oan trái tới liền.
Một ngày an lành là một ngày không ốm đau, thương tật.
Không bị người ta đánh đập.
Do đó phải cẩn thận từng bước đi, từng động tác.
Một ngày an lành là một ngày không dính dấp chuyện lợi danh.
Phải luôn luôn cảnh giác với lòng tham.
Vậy thì chớ tranh giành lợi lộc.
Một ngày an lành là một ngày không lôi thôi với cảnh sát.
Phải lấy câu “ tuân thủ luật pháp” nằm lòng.
An lành là ngày có một giấc ngủ thật ngon.
Sống không phiền não là Tiên trên đời. 
Bạn ơi,
Hãy suy nghĩ về sự an lành,
An lành trên đường phố.
An lành nơi trường học.
An lành chốn công trường.
An lành nơi lễ hội.
An lành khắp mọi nhà.
An lành trong hơi thở.
An lành trong giấc ngủ.
An lành trong từng ý nghĩ.
Hãy trân quý sự an lành như trân quý mạng sống của mình.
Và sau hết,
An lành cũng chính là Cung Trời hay Cực Lạc,
Là lời cầu xin tha thiết cùa con người. 

Đào Văn Bình
 (California ngày 5/4/2015)

(*) Một thống kê tại Thái Lan cho hay trong các phụ nữ bị hãm hiếp, phần lớn là vì ăn mặc hở hang, váy ngắn quá.

Khai Dân TríĐào Văn Bình