30 THÁNG 4: NHÂN VÀ QUẢ
DuyenSinh
DyenSinh@Live.com
—————
Khi
những người lính Mỹ đánh trận trở về sau cuộc chiến, họ bị khinh bỉ, bị
sỉ nhục. Nước Mỹ bị mất hết thể diện đối với thế giới. Tại sao vấn đề
lại được đưa lên trang giấy trắng mực đen thêm một lần nữa? Bởi vì Chiến
Tranh Việt Nam thật ra là “Chiến Tranh Tôn Giáo”. Một cuộc chiến kích
động do Vatican, một tên điếm trong Sách Khải Huyền, chương 17 và 18.
Avro Manhattan
Vietnam: Why did we go?
DẪN NHẬP:
Khi Hồi
Giáo Ottoman phát xuất từ Thổ Nhĩ Kỳ, tràn ngập Ấn Độ, lan tràn sang
Đông Nam Á, tạo thành nhiều quốc gia Hồi Giáo mới như Chiêm Thành,
Mallacca… rồi đánh thẳng qua Âu Châu, đã đánh thức châu Âu về những vùng
đất phì nhiêu châu Á. Năm 1494, tòa thánh La Mã ký hiệp ước Treaty of Tordesillas
với hai đế quốc thực dân Ca-tô Rô-ma giáo đầu tiên là Bồ Đào Nha
và Tây ban Nha. Theo hiệp ước này, giáo hoàng La Mã Alexander
VI sẽ phân định
làn ranh cơ bản trên quả địa cầu, chỉ rõ nơi nào thuộc về Ca-tô Rô-ma
giáo Bồ Đào Nha đánh chiếm, và nơi nào thuộc về Ca-tô Rô-ma giáo Tây
Ban Nha đánh chiếm. Làn ranh bắt đầu bằng một cột mốc tưởng tượng, một
trăm dặm về phía Tây đảo Azores và Cape Verde. Hiệp ước nhấn mạnh: “Tất
cả các vùng đất phía Tây Nam thuộc về Tây Ban Nha. Tất cả các vùng đất
phía Đông thuộc
về Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có quyền đánh chiếm đất đai của
bất cứ quốc gia nào nằm trong vùng phân chia của Vatican, ngoại trừ một
ngoại lệ là quốc gia đó đã có hơn phân nửa đất đai thuộc chủ quyền của
Ca-tô Rô-ma giáo La Mã1, và bất cứ nơi đâu trên quả địa
cầu mà hai đế quốc Bồ Đào Nha hoặc Tây Ban Nha cắm được lá cờ của họ,
thì nơi đó Vatican được cắm cây thánh giá của Vatican.
Năm 1510, Bồ Đào Nha, dưới sự chỉ huy của đô đốc Afonso de Albuquerque, đánh chiếm được Goa (một phần Ấn Độ)2 Năm sau, năm 1511, Afonso de Albuquerque đánh chiếm được Malacca3, một tiểu quốc nằm trên eo biển Mã Lai. Cũng năm 1511, Tây Ban Nha bắt đầu các chuyến thám hiểm Philippines, nhưng cho tới năm 1571, họ mới hoàn toàn chiếm được Philippines. Họ không chiếm được Philippines sớm vì có sự tranh dành thuộc địa với Bồ Đào Nha, mặc dù Vatican đã phân định ranh giới để đánh chiếm. Tất cả những bản đồ tại Á châu vào thời buổi đó được các nhà truyền giáo vẽ một cách khái quát. Có rất nhiều ghi nhận không được rõ ràng, hoặc cố tình vẽ sai để tranh dành thuộc địa, đưa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào ngững cuộc xô xát, đôi khi còn bắn giết lẫn nhau.
Malacca là trung tâm buôn bán nô lệ của Vatican. Ngay sau khi chiếm được Malacca, Afonso de Albuquerque bắt tất cả dân cư ngụ trên bán đảo phải tới khai lý lịch với hắn. Sau khi kiểm soát lý lịch từng người, Albuquerque cho tống giam tất cả những người đạo Hồi. Những người đạo Hồi là những người đầu tiên tại Á châu bị buôn bán làm nô lệ, hoặc bị giết4, trong khi tất cả người của tôn giáo khác được tha để trở về nguyên quán của họ. Đây là một chuyện lạ lúc đó không ai hiểu tại sao!
Năm 1520, Tomé Pires, một đại sứ chính thức của Bồ Đào Nha được gởi tới Trung Quốc. Pires, cùng với nhiều người Bồ Đào Nha khác bị Hoàng Đế Minh Thành Tổ (Yongle Emperor) giam trong ngục tối, chờ ngày đem ra chém đầu, đã viết lại lời trăn trối: “Sự nghiệp của tôi là cuộc Thập Tự Chinh của Ca-tô Rô-ma giáo chống lại Hồi giáo và giá trị sự nghiệp của tôi là chết dưới bàn tay của người Trung Quốc” (My cause was that of the Catholic religion's Crusade against Islam and it was worth dying at the hands of the Chinese for my cause)3. Lá thư trăn trối của Tomé Pires làm cho Trung Quốc phải bừng tỉnh cơn mê.
Sự việc đã trở thành rất rõ ràng là người Bồ Đào Nha không có ý định đánh chiếm Malacca vì tham vọng thống trị thương mại, hoặc để làm trung tâm kiểm soát thương mại châu Á. Trái lại, họ đã làm đảo lộn hệ thống chính trị, kinh tế, và thương mại châu Á bằng cách đưa châu Á vào “chiến tranh tôn giáo giữa Ca-tô Rô-ma giáo và Hồi giáo đã kéo dài hàng trăm năm qua”.
Hồi giáo
Ottoman phát xuất từ Thổ Nhĩ Kỳ, tràn ngập Ấn Độ, rồi tràn
lan qua Đông Nam Á, đã bị Vatican đặt ba tiền đồn ngăn chận.
Tiền đồn thứ nhất là Goa5 tại Ấn Độ, để trừng phạt
Hồi giáo và Dị giáo qua hình thức “Tòa Án Dị Giáo”. Tiền
đồn thứ hai là Philippines để án ngữ bành trướng Hồi giáo,
chuẩn bị xâm nhập tôn giáo quy mô vào Đông Dương; và chuẩn bị
phá sập bức tường Phật giáo tại Trung Quốc, Nhật Bản, và Đại
Việt. Tiền đồn thứ ba là Malacca, một pháo đài kiên cố ngăn
chận thương mại Hồi giáo trên Ấn Độ Dương, đồng thời cũng để
làm một nhà kho tồn trử nô lệ. Malacca trong
thời gian này, đã trở thành một “trung tâm buôn bán nô lệ quốc tế” của Vatican.
Để trừng phạt những kẻ dám chống lại Vatican, người Hồi giáo là mục tiêu đầu tiên làm con dê tế thần cho Vatican về nhu cầu nô lệ trên khắp thế giới. Khi nô lệ Hồi giáo không cung cấp đầy đủ vì người Hồi giáo rất khôn ngoan, Vatican phải bước thêm một bước nữa, là “buôn bán nô lệ Phi châu”, mà hầu hết người Phi châu là những người vô tội trong cuộc chiến của Vatican. Malacca cũng là một địa điểm rất thuận lợi cho Albuquerque tới lui Phi châu để săn bắt hoặc mua nô lệ về bán lẻ.
Nhà truyền giáo Dòng Tên Francis Xavier (Jesuit missionary Francis Xavier) đã lui tới nhiều lần tại Malacca. Cùng lúc với sự cấu kết giữa Vatican và hai đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong Hiệp Ước Tordesillas, phân chia thế giới để đánh chiếm thuộc địa; cùng với hình ảnh Hồi giáo tại Malacca bị tàn sát hoặc bị buôn bán làm nô lệ sau trận tấn công của Albuquerque tháng 8 năm 1511; cùng với hình ảnh các cuộc “Thánh Chiến” (Crusades) liên tục xảy ra giữa Ca-tô Rô-ma giáo và Hồi giáo. Những hình ảnh vừa nêu trên rất rõ nét, rất đặc biệt cho thấy các giáo hoàng La Mã có một đường lối chính trị tuyệt vời. Tuyệt vời vì vừa san bằng hậu cần Hồi giáo và Dị giáo (Phật giáo và thờ cúng ông bà…) tại châu Á, cùng lúc tạo được một lợi tức khổng lồ do buôn bán nô lệ trên thị trường quốc tế.