Showing posts with label Võ Văn Kiệt. Show all posts
Showing posts with label Võ Văn Kiệt. Show all posts

2015/09/09

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC, ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Bài nầy tôi viết đã trên dưới 10 năm.  Bài cũ nhưng nội dung không cũ,
vẫn là một đề tài rất thời sự hiện nay.

Kính mời quý vị đọc.
(09/2015)

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC,
ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Định Nguyên

Hết chiến tranh đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa người VN với nhau vẫn chưa có hòa bình. Thống nhất đất nước đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa chính quyền và người dân vẫn còn một khoảng cách lớn. Hòa hợp hòa giải dân tộc là một ước vọng lớn lao và chính đáng tại sao không thực hiện được? Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc đã được nói đến lâu nay. Thời gian gần đây, chuyện nầy lại được đề cập khá rôm rả, từ chính quyền cộng sản Việt Nam đến các phong trào đấu tranh đòi tự do-dân chủ, các nhà trí thức trong nước; từ các các đoàn thể, cá nhân đến những cơ quan truyền thông báo chí hải ngoại đều nói đến.  Nhưng cho đến nay (và có thể còn lâu) chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc vẫn khó được thành hình.  Tại sao?  

Ai cũng thấy rằng hòa hợp hòa giải dân tộc chưa có vì giữa các thành phần dân tộc không có sự đồng thuận về cách thực hiện và ý nghĩa chính trị của nó. Sau chiến tranh, về địa lý, Dân tộc Việt Nam chia thành hai khối: khối quốc nội và khối hải ngoại; về chính trị cũng tạm chia ra hai phía: phía Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng những người ủng hộ họ và phía những người Việt Nam không chấp nhận chủ nghĩa công sản, chống nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Sự khác biệt về địa lý không quan trọng bằng sự khác biệt về chính trị, và đây mới là vấn đề mấu chốt giải thích tại sao chưa có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Phải chăng vì người Việt chống cộng sản, đặc biệt là người Việt Nam hải ngoại, còn mang hận thù sâu sắc, quyết tiêu diệt cộng sản cho được, không chịu hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền trong nước dưới bất cứ hình thức nào?  Hay mục đích hòa hợp hòa giải dân tộc của chính quyền và đại khối dân chúng còn quá khác biệt nên không thể dung hợp được?

Đúng là tại hải ngoại, có những phần tử chống cộng cực đoan, chủ trương tiêu diệt cộng sản cho bằng được, không chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp hòa giải nào với cộng sản Việt Nam. Với họ, ai nói đến hòa hợp hoà giải là “tay sai Việt cộng”, là “thân cộng”.  Cùng hàng ngũ chống cộng nhưng ai không nói như họ, không làm như họ cũng đều bị họ chụp mũ cộng sản hết, có khi họ dùng những lời lẽ rất thô tục, hạ cấp. Đây là một thực tế tệ hại tại hải ngoại không ai đủ khả năng giải quyết, nó đã làm cho sinh hoạt cộng đồng ngày càng tan rã, không tập hợp được sức mạnh để “nói chuyện” với cường quyền trong nước.  Khi được hỏi: “Tiêu diệt Việt cộng bằng cách nào” thì không ai trong số họ trả lời được! Họ chỉ biết bày tỏ ý chí nhưng không có cách nào để biến ý chí ấy thành hiện thực, lại còn cản trở những nổ lực chống cộng sản khả thi khác.  Những người nầy không hề có ước vọng hòa hợp hòa giải dân tộc.  Nhưng thành phần nầy chỉ thiểu số, đã già nua, tuy cũng là một trở ngại cho hòa hợp hòa giải dân tộc nhưng không đáng kể.  Trở ngại chính cho hòa hợp hòa giải dân tộc là đường lối, chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam!

Điều kiện để có hòa hợp hòa giải dân tộc là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của mọi thành phần dân tộc để cùng phục vụ đất nước trong tinh thần tự do, dân chủ.  Đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ có chủ trương như thế. Để thống trị Việt Nam, họ đã thi thố toàn là THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ VÀ BẠO LỰC, chưa bao giờ họ có THIỆN CHÍ VÀ THỰC TÂM với các thành phần dân tộc khác trong mọi việc liên quan đến đất nước.  Vì thế các thành phần Việt Nam thuần tuý chống chủ nghĩa cộng sản, chống thực dân Pháp, vì cả tin, lần lần bị họ tiêu diệt gần hết.   Đây là một thực tế lịch sử, không cần phải dài dòng liệt kê.  Từ Chính Phủ Liên Hiệp chống Pháp đầu tiên đến vụ Trăm Hoa Đua Nở (Nhân Văn Giai Phẩm)…ở miền Bắc; từ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau là CP/CMLTCHMNVN) đến chiến dịch lùa tất cả quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào tù sau 1975 đều thể hiện rõ thủ đoạn chính trị và bạo lực của họ.  Nếu vì thế kẹt cần phải nói chuyện hay hợp tác với ai, Việt cộng không bao giờ từ bỏ âm mưu:  nhận diện kẻ thù để từ từ trừ khử hoặc sử dụng qua giai đoạn rồi giải thể hoặc vô hiệu hóa. Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc hiện nay, có thể nói mà không sợ lầm lẫn rằng họ không hề có ước vọng hàn gắn mọi vết thương chiến tranh và hận thù mà chỉ tung ra những chiêu bài, những phủ dụ để quy tất cả về một mối dưới sự lãnh đạo của họ.  Nghị quyết 36 của họ cũng chỉ nhằm mục đích xâm nhập và thâu tóm các cộng đồng Việt Nam hải ngoại, không phải là một thiện chí nhằm xóa bỏ mọi ngăn cách, dị biệt giữa họ và đồng bào hải ngoại. Làm sao có được hòa hợp hòa giải dân tộc?!

Nếu họ, kẻ thắng trận, là một chính quyền vì dân vì nước (chứ không phải vì đảng), coi mọi thành phần dân tộc khác, kể cả những người bại trận, như anh em một nhà, đừng dùng bạo lực để trừng trị, đừng lấy hận thù mà đối xử thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ lâu.  Một việc xẩy ra trong trại cải tạo làm tôi nhớ mãi.  Sau hơn ba năm vào trại, mọi tâm tư tình cảm đã tạm lắng đọng, mọi sinh hoạt đã có vẻ bình thường thì bỗng nhiên vào năm 1979, tại trại cải tạo An Điềm (Quảng Nam-Đà nẵng) không khí sinh hoạt trở nên nghiêm ngặt khó thở.  Cán bộ thì hằm hằm, súng đạn tua tủa, hạn chế mọi sự đi lại, lục soát và tịch thu tất cả thuốc men, thực phẩm, gia vị khô của tù. Tù thì lơ láo lo sợ, chẳng biết chuyện gì xẩy ra.  Sau vài ngày có tin lọt vào: “Trung cộng đánh Việt cộng tại biên giới phía bắc”!  Tù chuyền tai nhau tin nầy và tỏ vẻ “phấn khởi” lắm.  Phấn khởi vì thấy phe cộng sản đánh nhau.  Phấn khởi vì mình có thể được giải thoát.  Nhưng chừng một tuần hay mười ngày sau, một “cán bộ trung ương” vào trại nói chuyện thì tình hình thay đổi hẳn. (Tôi không biết cán bộ nầy là ai, nhưng thấy cách tiếp đón và dàn chào của ban quản trại, tôi đoán ông nầy cũng cao cấp lắm).  Khi tất cả tù nhân đã ngồi răm rắp phía dưới, người cán bộ nầy và phái đoàn xuất hiện trên sân khấu trang trí ảnh ông Hồ, vải trải bàn, cờ, khẩu hiệu toàn màu đỏ. Việc đầu tiên cán bộ nầy làm trước mặt cả ngàn tù nhân là đuổi tất cả võ trang và quản giáo có nhiệm vụ giữ trật tự và bảo vệ ông đi chỗ khác chơi! Ông nói lớn (cốt cho tù nghe): “Các anh trại viên dưới kia cũng là anh em một nhà, đâu phải kẻ thù mà các đồng chí tập trung đông đảo và lằm lằm súng đạn coi dữ dằn quá vậy? Thôi, các đồng chí về nghỉ đi, tôi cần tâm sự riêng với anh em trại viên”!  Ôi chao, đã hơn ba năm ròng rã bị kềm kẹp, bị sỉ nhục, bị hành hạ đủ thứ bây giờ nghe câu nói ngọt ngào ấy, thấy thái độ thân thiện ấy của “cán bộ trung ương” anh em tù hết sức xúc động.  Sau một hồi tâm tình toàn chuyện anh em một nhà, máu đó da vàng, con Rồng cháu Tiên…ông ta đi thẳng vào vấn đề: “Báo cáo các anh rõ là bọn bành trướng Trung quốc đang xâm lược nước ta.  Chúng xua hàng chục sư đoàn vượt biên giới tàn phá đất nước ta, giết hại nhân dân ta.  Quân và dân ta đang chống trả mãnh liệt, gây cho chúng tổn thất nặng nề…
Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu.
Chắc các anh cũng biết rồi, Tàu là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta, đã đô hộ dân tộc ta trên một ngàn năm, hiện nay chúng lại đang trắng trọn xâm lược nước ta thêm một lần nữa. Cùng là con dân Việt Nam, tôi nghĩ các anh cũng không thể tha thứ bọn bá quyền cướp nước nầy.  Bây giờ nếu Đảng cần, các anh có sẵn sàng cầm súng ra mặt trận chống ngoại xâm không?” Hội trường đang im ắng bỗng nhốn nháo như vỡ chợ.  “Một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên…” lúc đầu còn rụt rè nhưng sau đó gần cả ngàn tù nhân đứng lên la lớn “Tôi tình nguyện”! “Tôi xung phong”!  Biên giới giữa cán bộ và tù trong giây phút nầy gần như không còn.  Làn ranh giữa kẻ chiến thắng và người chiến bại tiêu tan.  Ý thức hệ giữa cộng sản và tự do biến mất... Mọi Người Việt Nam có mặt hôm đó “bừng bừng khí thế” sẵn sàng cùng nắm tay nhau chống giặc Tàu xâm lăng!  Nhưng, chuyện tù cầm súng chống ngoại xâm không bao giờ xẩy ra.  Điều tôi muốn nói ở đây là tình yêu nước thương nòi luôn tiềm ẩn trong lòng mọi người Việt Nam bất luận chính kiến và thành phần xã hội, dân tộc.  Tôi tin là cộng sản Việt Nam cũng biết như thế.  Nếu có thực tâm và thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc, họ đã khai thác điều nầy sớm, ngay sau ngày “giải phóng” Miền Nam thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ ba chục năm nay, không cần phải đợi đến giờ nầy mới kêu gọi, và kêu gọi cũng chẳng ai tin.  Những người có kinh nghiệm với CS giải thích rằng “cán bộ trung ương” nầy đã thực thi thủ đoạn chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh động lòng yêu nước của anh em tù nhân để tránh “nội công” có thể xẩy ra trong khi đang phải đối đầu với “ngoại kích” tại vùng biên giới.  Sau khi tình hình ổn định, đa số anh em phải “đền tội” trên dưới một thập niên mới được “khoan hồng”. Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu. Đây là điều xúc phạm nặng nề đến tình cảm quê hương, dân tộc thiêng liêng nhất của tất cả người Việt Nam.  Nếu chủ nghĩa cộng sản đem lại tự do, bình đẳng, cơm no áo ấm cho mọi người Việt Nam thì cũng được đi, nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại.  Ở đâu có cộng sản, ở đó có áp bức và đói nghèo.  Dù muốn hay không cũng phải công nhận kinh tế Việt Nam, so với hai thập niên trước, đã tiến bộ vượt bực.  Do đâu?  Do “đổi mới”!  Không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam giải thích hiện tượng nầy như thế nào, tại sao “đổi” thì khá, không “đổi” không khá?  Người ngoài ai cũng thấy “cộng sản pha loãng” ít độc hại hơn “cộng sản đậm đặc”, cái mới hiện nay phải tốt hơn hẳn cái cũ (chủ nghĩa cộng sản giáo điều) mới được như thế.  Sự tốt đẹp và hay ho của chủ nghĩa cộng sản ở chỗ nào?  Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn “kiên trì” theo chủ nghĩa cộng sản, “quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa!  Theo tài liệu phổ biến công khai trên thế giới hiện nay, từ ngày xuất hiện trên trái đất, chủ nghĩa cộng sản đã cướp đi mạng sống của trên dưới một trăm triệu sinh linh.  Nhân danh chủ nghĩa nầy, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã tàn sát cỡ một triệu người Việt Nam vô tội!  Tại Liên Sô và Đông Âu, nơi được coi là cái nôi của chủ nghĩa cộng sản, người ta loại bỏ chủ nghĩa nầy vì tội ác diệt chủng và chống nhân loại của nó. Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm vận dụng thủ đoạn chính trị và bạo lực để buộc dân tộc Việt Nam chấp nhận con đường đó.  Đây là điều cực kỳ phi lý, cực kỳ phản động.  Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc của họ cũng theo điều kiện phi lý và phản động nầy nên các thành phần Việt Nam khác không thể chấp nhận được.

Trong bài viết “Nan đề nào? Nan đề cho ai?”, nhà thơ, nhà văn, nhà đấu tranh cho tự do-dân chủ nổi tiếng trong nước Tiêu Dao Bảo Cự đã viết: “Hòa giải hòa hợp dân tộc không phải là chuyện độc quyền của nhà nước cộng sản khi họ đề ra chủ trương này.  Thời gian gần đây, ai nói đến hòa giải hòa hợp thường bị những người chống cộng quy ngay là tay sai cộng sản, ủng hộ cộng sản.  Thế thì cộng sản đã chiếm thế thượng phong vì tự nhiên họ được thêm rất nhiều đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn” (Talawas và Đàn Chim Việt).  Tôi xin có ý kiến hơi khác:  Để có được hòa hợp hòa giải dân tộc mọi bên phải có thiện chí, nhưng không có thiện chí nào quan trọng, có tính quyết định, bằng thiện chí của giới cầm quyền.  Hơn ai hết, nếu không nói độc quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là kẻ tỏ thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc trước vì họ là thế  lực chính trị mạnh nhất (có thể nói là không có đối thủ), đang nắm chính quyền, có đủ khả năng và điều kiện để kết hợp mọi thành phần dân tộc NẾU họ làm cho người khác tin được chủ trương nầy của họ là vì tình cảm dân tộc, vì nhu cầu sinh tử của quốc gia, không phải là một cạm bẩy chính trị để  khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác.
Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước!  Làm sao “xóa bỏ hận thù” và “đoàn kết” khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố “Yêu nước có nhiều cách”, (không cần phải “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam. Nhưng gần đây ông lại nói: “Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng”!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!
Trong nước, ngoài chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đa số dân chúng đang mãi mê kiếm sống, kiếm tiền bằng mọi cách; trí thức thì cầu an, cam phận; thông tin báo chí thì chỉ là công cụ của đảng; một số lãnh đạo các tôn giáo, rất ít trí thức cùng các cựu đảng viên cộng sản thức thời và can đảm lên tiếng thì bị trù dập, bắt bớ tù đày…Ai đủ khả năng thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc?  Hải ngoại, tuy là đối lực chính trị đáng ngại nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ai đủ tư cách, khả năng và thẩm quyền để làm chuyện nầy?  Hòa hay chiến là do kẻ đang thủ đắc vũ khí, chiếm thế thượng phong tỏ thái độ và thiện chí trước.  Người tay không yếu thế mà tỏ thái độ cầu hòa trước thì chỉ là sự đầu hàng!  Có hai loại hòa hợp hòa giải dân tộc: trá hình và thật sự.  Không hiểu ông Tiêu Dao Bảo Cự nói đến loại hòa hợp hòa giải dân tộc nào, loại cùng nhau quy phục dưới trướng cộng sản Việt Nam hay loại bình đẳng dân tộc? Và loại nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam “được thêm rất đông đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn”?

Khi nói đến hòa hợp hòa giải dân tộc, không phải người Việt Nam chống cộng nào cũng tẩy chay.  Ngoài một thiểu số chống cộng theo cảm tính, đại đa số người Việt Nam vẫn mong ước có hòa hợp hòa giải, nhưng phải có bình đẳng dân tộc mới được.  Nhóm chủ trương “không hòa hợp hòa giải với Việt Cộng bất kỳ dưới hình thức nào” có thể bị chê là phi thực tế, nhưng khó mà trách họ khi họ không chấp nhận hòa hợp hòa giải kiểu đầu hàng.  Điều kiện phải có trước khi nói chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc là cộng sản Việt Nam phải thay đổi chủ trương.  Nếu họ vẫn duy trì những thủ đoạn chính trị để khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác, sẽ không bao giờ có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Ngược lại nếu họ từ bỏ bạo lực, chấm dứt sự lật lọng, chứng tỏ thiện chí bằng những việc làm cụ thể, chấp nhận và tôn trọng những thành phần dân tộc khác thì hòa hợp hòa giải dân tộc sẽ đến.  Hiện nay, có thể nói, vì đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với Việt Cộng nên không ai còn dám tin họ nữa. Muốn lấy lại niềm tin nơi mọi người, Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự mình trả lại cho dân tộc Việt Nam những thứ quyền, những thứ tự do mà họ đã tước đoạt bấy lâu nay.  Một khi chính quyền đã tôn trọng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng…, nghĩa là có sinh hoạt dân chủ, đa nguyên thì mới có thể nói chuyện hòa hợp hòa giải trong tinh thần bình đẳng dân tộc được.

Vậy, chừng nào có được hòa hợp hòa giải dân tộc thật sự?

Nhìn về sinh hoạt chính trị trong nước, không khó khăn tí nào để nhận biết “thiện chí” của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Để tổ chức Hội Nghị APEC, và để vào được WTO, họ “nuôi” những cá nhân, đoàn thể đấu tranh, làm như Việt Nam có tự do dân chủ để đánh lừa các chính khách quốc tế, kể cả Tổng Thống Mỹ. Nhưng sau khi tổ chức thành công Hội Nghị APEC và vào được WTO họ ra tay “thịt” các thành phần yêu nước nầy! Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước! Làm sao “xóa bỏ hận thù” và “đoàn kết” khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố “Yêu nước có nhiều cách”, (không cần phải “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam.  Nhưng gần đây ông lại nói: “Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng”!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!

Ngoại trừ những người Việt Nam cộng sản vong quốc, chỉ có những kẻ ngu mới nghe lời chiêu dụ của cộng sản. Chúng ta nhất quyết cùng nhau đấu tranh kiên trì và mạnh mẽ để buộc CSVN chấp nhận những thành phần dân tộc khác.  HHHG chỉ có thể xẩy ra trên tinh thần dân chủ đa nguyên, không thể xẩy ra dưới trướng của ĐCSVN được! 

 Định Nguyên

Khai Dân TríĐịnh Nguyên

2014/05/08

Ván cờ… lật ngửa

Ván cờ… lật ngửa
Nguyễn An Dân

Chốt đầu đã qua sông chiếu tướng
Với việc đem dàn khoan thăm dò dầu khí vào sâu trong hải phận Việt Nam từ cuối tháng 4/2014, Trung Quốc đã đi nước cờ “đem tốt qua sông vỗ mặt tướng”. Ông bạn láng giềng “16 vàng 4 tốt” đã chạm mạnh vào thể diện và an ninh quốc gia của Việt Nam, bất chấp những tuyên bố và ký kết của 2 ông to nhất hai nước, Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng. Hai ông này đã ký vào thỏa thuận “Những Nguyên Tắc Cơ Bản Chỉ Đạo Gỉai Quyết Vấn Đề Trên Biển Giữa Hai Nước” vào ngày 15/10/2011, đó là chưa kể đến DOC và những thỏa thuận, hiệp định, tuyên bố…khác.
Nước cờ hiểm
Muốn xét nước cờ hiểm này cùa Trung Quốc phải đặt nó vào bối cảnh chính trị của hai nước để thấy rõ hơn vì sao Trung Quốc “đẩy chốt qua sông” bằng dàn khoan dầu cắm ngay trước “lỗ mũi” Việt Nam, một nước cờ vỗ mặt tướng trực diện.
Bên cạnh những lợi ích kinh tế mang lại từ việc bành trướng Biển Đông mà ai cũng biết, còn có quy luật chính trị trong nước cờ hiểm này. Bên trong Trung Quốc đang có nhiều vấn đề rối loạn, từ việc đòi ly khai của Tân Cương, Tây Tạng, đến hậu quả của cuộc thanh trừng phe nhóm Chu Vĩnh Khang- Bạc Hy Lai đang còn âm ỉ. Nội tình chính trị bên trong Trung Quốc đã vào giai đoạn căng thẳng đến nỗi Tập Cận Bình phải lên tiếng “Tân Cương, Tây Tạng không được phép tách rời khỏi Trung Quốc”. Rồi sự căng thẳng vì làm phật lòng các nguyên lão Giang Trạch Dân, Hồ Cảm Đào trong chiến dịch “bắt cả ruồi và hổ” mà Tập Cận Bình đang chủ trì, nhằm tiến công liên minh chính trị Chu Vĩnh Khang-Bạc Hy Lai.
Dưới sức ép căng thẳng từ bên trong như thế, quy luật tất yếu của chính trị đã và phải diễn ra là hướng ra bên ngoài. Có thể thấy hàng loạt những hành vi gây hấn về biển đảo và lãnh hải của Trung Quốc kéo dài từ Nhật Bản, Philipin, MaLaysia, Indonesia…hy vọng làm giảm đi căng thẳng bên trong. Và đến cao trào và lộ liễu nhất là vi phạm trắng trợn vào lãnh hải Việt Nam qua nước cờ dàn khoan.
Dĩ nhiên Thái Bình Dương và Biển Đông không phải là một ván cờ chỉ một mình Trung Quốc tự bày bố. Nhật Bản, Philipin… bị lôi kéo vào vòng tranh chấp cũng không hiền lành gì. Họ vốn có một đồng minh thân cận và hùng mạnh là Mỹ nên họ phản ứng quyết liệt, và nhiều lần những nước cờ “chốt qua sông” của Trung Quốc với các nước đó đã không hoàn toàn thành công, do phản ứng cứng rắn của các tay cờ kia và sự dè chừng của tay cờ Trung Quốc trước đồng minh của họ là Mỹ. Và cuối cùng con chốt đầu của Trung Quốc chọn Việt Nam để thực hiện lần nữa nước đi qua sông vỗ mặt tướng. Và dĩ nhiên Việt Nam khác với các tay cờ khác trong bàn cờ quốc tế, đó là yếu nhược hơn các tay cờ khác, và cũng không có đồng minh nào đủ mạnh bên cạnh mình hiện nay để làm chùn bước tay cờ láng giếng “16 vàng 4 tốt” nham hiểm kia. Thế là nước chốt đầu vỗ mặt bằng dàn khoan dầu đã đem lại hiệu quả chính trị bước đầu như mong muốn của tay cờ Trung Quốc.
Dựng lại một tay cờ có chút bản sắc
Không bàn đến những sự gắn bó hay mâu thuẫn trong quá khứ, chỉ xét từ giai đoạn mà tay cờ Việt Nam tự hô hào là mình “đổi mới” từ năm 1991 đến nay, thì hội nghị Thành Đô năm 1992 đã đưa tay cờ Việt Nam từ vị thế tương xứng, bình đẳng trong cuộc chơi trở thành phụ thuộc và đàn em của tay cờ láng giềng Trung Quốc.
Sự gắn bó phụ thuộc đó từ sau hội nghị Thành Đô 1992 đã trở nên toàn diện trong tất cả các mặt, từ vĩ mô như chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc gia… cho đến những món hàng lặt vặt như quả dưa hấu, trái ớt mà người dân ăn hàng ngày cũng phải nằm chờ cho đến hư thúi ở cửa khẩu hai nước.
Và từ 1 quốc gia tự hào với truyền thống dựng nước và giữ nước, chưa bao giờ tay cờ Việt Nam yếu nhược và bị hạ nhục như lần này. Đây là hậu quả tât nhiên của việc nhà cầm quyền là đảng cộng sản đã tự đặt chính quyền, dân tộc và quốc gia vào vị trí đàn em bất chấp trong lịch sử và quá khứ, các thể chế phong kiến Việt Nam và cả chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trước đó luôn tự nâng cao mình lên ngang hàng với tay cờ Trung Quốc.
Bên cạnh sự “tự buông cờ” (như tự buông đao) sau hội nghị Thành Đô làm Việt Nam đã thua trong ván cờ Đông Dương với Trung Quốc, còn có một bàn cờ lớn hơn. Đó là ván cờ giữa Mỹ và Trung Quốc, ván cờ Thái Bình Dương và Biển Đông mà Mỹ đã dày công gây dựng qua việc hình thành khối Asean và kiên trì lôi kéo Việt Nam cùng tham gia.
Sự kiên trì của Mỹ và các đồng minh Phương Tây cuối cùng cũng đã có hiệu quả nhất định. Hàng ngũ các tay cờ bạc nhược của Việt Nam cuối cùng cũng xuất hiện một tay cờ có bản sắc, đó là Võ Văn Kiệt. Dù không hoàn toàn kiểm soát được thế trận, tay cờ Võ Văn Kiệt cũng có những nỗ lực và vùng vẫy nhất định, hầu đưa Việt Nam thoát bớt được ảnh hưởng tai hại của hội nghị Thành Đô, nhằm tạo dựng bản sắc lại cho tay cờ Việt Nam trong bàn cờ khu vực và thế giới.
Phát triển kinh tế xã hội, dù chậm và không ổn định, là một trong nhiều hiệu quả tương đối thành công của chiến lược “dùng kinh tế để chuyển hóa chính trị” mà tay cờ Võ Văn Kiệt đại diện Việt Nam lúc đó đã hợp tác với Mỹ và Phương Tây để thực hiện. Kết quả nhất định đó là đưa đất nước thoát ra khỏi cảnh khốn đốn chạy ăn từng bữa trong nền kinh tế bao cấp duy ý chí cộng sản. Dù trong nền kinh tế thị trường nửa vời người dân cũng được nâng cao mức sống phần nào, để từ đó tự giải phóng một phần về dân trí, gây sức ép và tác động đến các tay cờ bạc nhược trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam. Nhờ đó, ngày hôm nay dân chúng đã không còn để bị bưng tai bịt mắt bởi sự hô hào phỉnh phờ của nhà cầm quyền. Dân chúng đang mạnh mẽ vùng lên chỉ trích sự bạc nhược yếu kém của chính quyền.
Trong quan hệ với Mỹ, dù tầng lớp lãnh đạo của Việt Nam từ 1975 đến nay chưa bao giờ coi Mỹ là đồng minh, nhưng Mỹ vẫn coi quốc gia và dân tộc Việt Nam là 1 đồng minh quan trọng trong bàn cờ Châu Á- Thái Bình Dương của họ. Do đó từ vài thập niên nay Mỹ vẫn kiên trì tác động vào các tay cờ Việt Nam để từ một Võ Văn Kiệt tìm ra một Nguyễn Tấn Dũng và những người trẻ hơn sắp tới, hậu thuẫn cho những tay cờ mới này để một lần nữa chuyển hóa Việt Nam từ một chư hầu sang đối đầu với Trung Quốc. Tôi cho rằng đến hôm nay Mỹ đã gần thành công, như tôi đã nhận xét trong bài viết “Bàn về ý kiến của GS Tương Lai”. Biến cố dàn khoan có thể là một giọt nước làm tràn ly nước đã đầy, càng giúp xoay chuyển Việt Nam sang thái độ dứt khoát “thoát Trung”, dù đây là một quyết định khó khăn, chứa đựng nhiều nguy cơ đổ vỡ khó lường.
Nhìn trở lại tình hình mấy năm qua, tay cờ Nguyễn Tấn Dũng trong những nước đi kế thừa tay cờ Võ Văn Kiệt, đến hôm nay đã thành công trong việc “phản phé” lại đàn anh Trung Quốc, và đã làm đàn anh Trung Quốc mất mặt. Thế là đàn anh Trung Quốc trừng phạt, mà những hành động như bắt giữ tàu đánh cá, cắt cáp, tổ chức cấm đánh cá Biển Đông… cho đến đóng cửa biên giới, treo dưa hấu, xoài, thanh long… ở cửa khẩu Việt Nam-Trung Quốc chỉ là những đòn răn đe dằn mặt trước khi đưa dàn khan đến vùng biển Việt Nam.
Những cú đá chân ngầm dưới bàn cờ
Từ khi tay cờ Nguyễn Tấn Dũng lộ diện và dẫn dắt bàn cờ Việt Nam, tuy cũng có mang lại hiệu quả nhất định trong việc “thoát Trung” nhưng cũng không phải suông sẻ. Sự lệ thuộc sâu sắc và toàn diện của Việt Nam trong một thời gian lâu dài, mà đỉnh điểm là nước chốt hạ “hội nghị Thành Đô” 1992, cũng gây ra nhiều cản trở lớn. Việt Nam lại không chỉ được dẫn dắt hoàn toàn bởi tay cờ Nguyễn Tấn Dũng, mà còn nhiều tay cờ khác có quyền lực và ảnh hưởng còn ghê gớm hơn anh Ba Dũng. Những tay cờ đó là do Trung Quốc gây dựng và yểm trợ, càng làm bàn cờ Việt Nam rối ren hơn. Ngoài việc dàn trận để tham gia bàn cờ khu vực và quốc tế, thì trong nội bộ thế trận của Việt Nam, sự mâu thuẫn về đường lối “ tiếp tục là chư hầu” của các tay cờ kia và “thoát Trung” của tay cờ Nguyễn Tấn Dũng đã gây ra hỗn loạn và trì trệ. Nội tình Việt Nam lâm vào cảnh rối ren ở ngay tầng cấp lãnh đạo cao nhất, “kẻ làm người phá”, lúc thế này lúc thế khác. Còn dân chúng, vừa là nạn nhân, vừa là nhà quan sát, đã hứng chịu và chứng kiến hết thảy sự yếu kém lộ ra, khi các tay cầm cờ mâu thuẫn về đường lối. Liệu dân chúng cuối cùng có đứng lên dứt khoát ủng hộ đường lối “thoát Trung”?
Và nếu có, có còn kịp không? Tay cờ đàn anh Trung Quốc, thấy mình dần dần không còn kiểm soát được bàn cờ do đàn em tại Việt Nam nắm giữ kể từ khi Nguyễn Tấn Dũng đăng nhiệm, đã ngầm đá chân đàn em dưới gầm bàn, khích động những tay cờ đàn em này để cản phá nhóm Ba Dũng. Dĩ nhiên dân chúng không thấy được những cú đá ngầm này, nhưng khi nó thể hiện ra thành những cú đạp, cú đánh và đàn áp vũ trang thô bạo của chính quyền vào mặt và thân thể người dân tham gia biểu tình “thoát Trung” thì dân chúng thấy hết. Và những cái đạp công khai vào mặt người biểu tình là một bằng chứng hiển nhiên cho thấy đã có những cú đá ngầm khích động dưới gầm bàn kia.
Nhưng những tay cờ Việt-Trung “vừa là đồng chí vừa là anh em” kia đã quên đi một điều quan trọng, đó là sự trưởng thành nhanh chóng của quần chúng, cùng với quyết tâm “thoát Trung” của tay cờ Nguyễn Tấn Dũng đã dần dần phát huy hiệu quả vì nó mang tính logic khách quan và tất yếu. Do đó hiệu quả của những cú khích động ngầm của người đồng chí phương Bắc đã giảm hiệu quả đi đáng kể. Hành vi bành trướng của Bắc Kinh ngang ngược lộ liễu quá. Hội Nghị Thành Đô 1992 không còn có thể trói buộc được ai. Trung Quốc đến hôm nay đã hiểu ra rằng những tay cờ mà họ gây dựng và ủng hộ đã không còn hiệu quả chiến lược nữa. Tay cờ Trung Quốc đành sổ toẹt và tung hê hết thảy. Tấm mặt nạ tình anh em Trung-Việt “đời đời bền vững”, đính bằng “16 vàng 4 tốt”, đã rớt xuống. Tay cờ Trung Quốc quyết định đưa chốt qua sông vỗ mặt tướng. Khi những khích động và cầm nắm ngấm ngầm không còn hiệu quả nữa thì công khai uy hiếp là quy luật đương nhiên.
Dĩ nhiên Trung Quốc không chỉ dằn mặt tay cờ Việt Nam, mà còn qua đó thăm dò thái độ của tay cờ đối thủ mạnh nhất của mình là Mỹ, một ná hai chim, vừa đe dọa Việt Nam vừa thăm dò phản ứng của Mỹ. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ bàn trong giới hạn quan hệ Việt-Trung.
Hậu quả từ nước cờ vỗ mặt tướng vào bàn cờ chính trị Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam, vốn dĩ là thành phần duy nhất, độc tôn bày bố bàn cờ Việt Nam lâu nay, đã chịu một hậu quả nặng nề trước nước cờ vỗ mặt tướng này của Trung Quốc. Vốn dĩ từ lâu ai cũng hiểu bàn cờ Việt Nam cũng do Trung Quốc bày bố là chính kể từ cuộc chiến Nam Bắc 1954, nhưng ít ra trước hội nghị Thành Đô 1992, tay cờ Liên Xô cũng còn một phần ảnh hưởng nên mới có cuộc chiến biên giới 1979. Nhưng sau sự tan vỡ của Liên Xô, và sau Thành Đô thì Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào Trung quốc. Vì chọn tư thế và hành vi sai lầm kéo dài từ hội nghị Thành Đô 1992, Đảng cộng sản đã không tìm được cho đất nước và dân tộc một đồng minh tốt và lâu bền. Ngày hôm nay đảng đã gánh chịu hậu quả do mình mang lại, đánh mất lòng tin ở nhân dân, ở quốc tế, đưa Việt Nam vào tình thế nguy hiểm chưa từng có. Chưa bao giờ thể diện và an ninh quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng như lần này, khi nội lực đã không có mà đồng minh thật sự và mạnh mẽ để giúp đỡ mình cũng không có.
Bên cạnh hậu quả mất an ninh quốc gia, đẩy đảng cộng sàn Việt Nam vào thế kẹt, nước cờ vỗ mặt tướng này còn thâm độc hơn nữa. Nó có khả năng làm phá sản thế cờ cải cách chính trị của tay cờ Nguyễn Tấn Dũng. Những tay cờ khác do Trung Quốc dựng lên tại Việt Nam có lý do để chỉ trích và dẹp bỏ Nguyễn Tấn Dũng, dẹp bỏ chiến lược “thoát Trung”. Họ sẽ một lần nữa hô hào là thế cờ cải cách chính trị quá sớm trong khi chưa đủ mạnh sẽ làm mất an ninh quốc gia và mất đảng, trong khi họ quên rằng chính tư thế chư hầu và phụ thuộc của họ mới là nguyên nhân sâu xa của hậu quả hôm nay. Các nhóm lợi ích chính trị trong đảng, đứng trước nguy cơ mất hết, cũng có thể liên kết lại để phá hoại đường lối thân Mỹ, kiên quyết dẹp bỏ kế hoạch của Nguyễn Tấn Dũng, để đổi lấy việc dàn khoan kia tạm lui về. Từ đó họ mị dân là ta đã thành công trong việc dẹp bỏ dàn khoan để có lý do tiếp tục duy trì độc quyền cai trị nhân dân.
Cái khó hiện nay của tay cờ Nguyễn Tấn Dũng trong việc đối phó đòn hiểm “chốt qua sông vỗ mặt tướng” là Việt Nam chưa hoàn toàn được Mỹ và phương Tây tin cậy. Quốc tế cũng chưa có được niềm tin là ông ta đã nắm giữ được quyền lực tuyệt đối, nắm giữ 100% thế cuộc Việt Nam. Vì thế, nếu trong tình hình hiện nay Nguyễn Tấn Dũng có kêu gọi sự ủng hộ của các tay cờ đồng minh thì chưa hẳn sẽ được ủng hộ. Chính ông ta cũng chưa chứng minh được bằng những hành động cụ thể trước các đồng minh tương lai là ông ta là người cầm trịch tại Việt Nam.
Ở trong nước cũng vậy, đến bây giờ quần chúng nói chung cũng chưa hoàn toàn tin tưởng vào tay cờ Ba Dũng. Quần chúng Việt Nam vốn dĩ đã bị nhà cầm quyền cho ăn bánh phỉnh nhiều lần nên đâm ra nghi ngờ và hoang mang tất cả. Họ đang dần dần có thêm nhiều thông tin, cộng với kinh nghiệm xương máu. Họ e ngại Việt Nam từ độc tài đảng trị sẽ chuyển sang độc tài gia đình trị khi Nguyễn Tấn Dũng nắm hết quyền lực, và Việt Nam sẽ rơi vào một bi kịch từ “vua tập thể” chuyển sang “vua độc tài” và vẫn mặc lớp áo cộng sản và xã hội chủ nghĩa không tưởng.
Trên bàn cờ Biển Đông hiện nay, tư thế Việt Nam là như thế. Một quốc gia bị thua cuộc, từ tay chơi ngang cơ trở thành chư hầu. Tay cờ quan trọng nhất, được kỳ vọng có thể đứng ra ứng phó tình hình thì còn bị nghi ngờ, và có khả năng bị triệt hạ bất kỳ lúc nào bởi những tay cờ “đồng chí” khác. Và khi mà quyền lợi và sự tồn vong của đảng còn được đặt trên an ninh quốc gia và dân tộc.
Dàn khoan và phong trào dân chủ Việt Nam
Tầm nhìn rộng và hành động “rộng” của lực lượng dân chủ lúc này cần hơn bao giờ hết. Phải nhìn sự việc trong thế cờ quốc gia, khu vực và quốc tế. Những người dân chủ cần phải tiến hành hai bước đi song song, đó là tiếp tục vận động ủng hộ dân chủ hóa Việt Nam, và biết phối hợp với các miếng đòn đánh của tay cờ Nguyễn Tấn Dũng trong chiến lược chung: vừa bảo vệ an ninh lãnh thổ vừa “thoát Trung”. Đừng để rơi vào thế cờ phục sau nước cờ dàn khoan của Trung Quốc. Đó là thế cờ dàn xếp để dàn khoan lui về nhằm đổi lấy sự an toàn giả tạo tạm thời nhưng kèm theo đó là sự phá sản của chiến lược “thoát Trung” vĩnh viễn. Dù Nguyễn Tấn Dũng có thật sự hành động để mang lại dân chủ cho Việt Nam hay không, nhưng chiến lược “thoát Trung” của ông ta cũng mang lại cho lực lượng dân chủ những lợi ích gián tiếp và cấp thời cần thiết: một không gian hoạt động rộng mở hơn. Một mặt chúng ta biết đấu tranh và khắc phục những hạn chế trong bản thân phong trào dân chủ, một mặt chúng ta phải biết phát huy tối đa ưu thế có được từ lợi ích gián tiếp này.
Nghe đâu nội bộ cao tầng của đảng cộng sản Việt Nam thực sự đang “xám mặt” và “đau hết cả đầu” trước nước cờ dàn khoan này. Giá như họ đừng thỏa hiệp ngầm dưới gầm bàn với Trung Quốc để quay qua đá vào mặt dân biểu tình “thoát Trung” thì đến hôm nay đâu đến nỗi phải “xám mặt” như thế./.

Nguyễn An Dân (8/5/2014)

Khai Dân TríNguyễn An Dân