Showing posts with label Văn Chương. Show all posts
Showing posts with label Văn Chương. Show all posts

2015/07/25

Một số từ Anh - Việt đối chiếu (Bổ túc)

Một số từ Anh - Việt đối chiếu (Bổ túc)

Do sự du nhập quá nhanh của văn hóa Mỹ vào Việt Nam qua tạp chí, phim ảnh, quảng cáo thương mại, ca nhạc, các chương trình giải trí cùng số lượng đông đảo người Việt từ Mỹ về thăm quê hương, làm ăn buôn bán... tiếng Việt có nguy cơ bị biến dạng. Sở dĩ tiếngViệt bị xâm hại là vì nó được dùng chen vào những từ Mỹ hoặc Pháp - mà những từ này đều có thể phiên dịch sang Việt Ngữ bằng những tiếng tương đương.

Khi đọc một đoạn văn lai căng, người đọc khó chịu, giống như đang ăn cơm mà cắn phải hạt sạn khiến phải nhổ miếng cơm ra. Tệ nạn này xảy ra khắp nơi, từ trong nước tới hải ngoại, kể cả các trang báo điện tử Việt Ngữ lớn như BBC và VOA. Sở dĩ có tệ nạn này là vì người viết hoặc người nói:

-Không rành tiếng Mỹ/Pháp cho nên không thể chuyển sang Việt Ngữ một cách chính xác.
-Không rành tiếng Việt cho nên phải dùng tiếng Mỹ/Pháp để thay thế.
-Do làm dáng, phải nói chêm tiếng Tây tiếng Mỹ cho nó oai, cho nó văn minh, kiểu nói tiếng Tây “ba rọi” ngày xưa.
-Mặc cảm với ngôn ngữ của dân tộc và cho rằng tiếng Việt thấp kém so với tiếng Tây, tiếng Mỹ.

Người Hoa Kỳ đã không để tiếng ngoại quốc phá nát ngôn ngữ của họ bằng cách dịch ngay sang Anh Ngữ bằng những tiếng tương đương, chẳng hạn như: Spring roll, Egg roll= Chả giò; Beep noodle= Phở; Pork noodle = Hủ tiếu; Fish sauce= Nước mắm; Shimp chip= Bánh phồng tôm;  Rice paper= Bánh tráng…tại sao chúng ta lại để tiếng Tây, tiếng Mỹ phá nát ngôn ngữ của chúng ta?

Sau đây là một số từ đã xuất hiện thường xuyên trên các trang báo điện tử, diễn đàn cho dù những từ này có thể chuyển sang Việt Ngữ bằng những tiếng tương đương và cũng rất thông dụng.

Việc sưu tầm này không hoàn hảo. Kính mong những vị còn tha thiết tới “tiếng Việt trong sáng” bổ túc thêm và hoàn chỉnh để chúng ta cùng nhau gìn giữ tính thuần khiết của văn chương và tiếng nói ViệtNam mà tiền nhân đã dày công vun đắp bao đời nay. 

Account: Theo từ điển Longman 2002, Account (danh từ) có hai nghĩa. Thứ nhất: Lời, bài viết mô tả, kể lại một biến cố, sự kiện, câu chuyện nào đó. Thứ hai: Chẳng hạn khi bạn tới ngân hàng và muốn gửi tiền vào ngân hàng tức bạn mở một Account tức một thỏa thuận , một hợp đồng (agreement) để ngân hàng giữ tiền và chuyển tiền cho bạn và người ta cho bạn một Account number tức số trương mục. Còn tiền gửi ở ngân hàng thì gọi là tài khoản. Chẳng hạn, bạn có thể nói, “Tôi có một số tài khoản tại ngân hàng Thụy Sĩ”. Nhưng khi công ty điện-nước, điện thoại v.v.. đồng ý cung cấp dịch vụ cho bạn, họ cũng cho bạn một Account number nhưng không thể gọi đó là số trương mục được - mà có thể gọi là: số giao kèo, số cung cấp dịch vụ. Hiện nay BBC và VOA tiếng Việt do một số bạn trẻ phụ trách - tiếng Việt và tiếng Anh đều kém cho nên đã gây thảm họa cho tiếng Việt. Chẳng hạn họ dịch bừa “Account number” thành “tài khoản” chẳng hạn như: Ông A, Bà B. có một “tài khoản trên Facebook”. Facebook chỉ là một loại diễn đàn, làm sao ông A, bà Ba có một “tài khoản” tức một số tiền trên đó được? Do đó phải nói là: “Ông A, bà B có một khoản/một phần trên Facebook.”  Còn “Account number” ở Facebook hoặc con số mà bất kỳ công ty cung cấp dịch vụ cho mình, có thể dịch là: Số giao kèo. 

Vì là một trang tin điện tử phổ biến toàn cầu và được nhiều người đọc, các bản tin dịch cẩu thả từ tiếng Anh sang tiếng Việt của BBC tiếng Việt đang góp phần  “tàn phá” tiếng Việt truyền thống và dịch sai các danh từ rất thông thường của tiếng Anh. Nếu các tác giả bài viết tiếng Anh giói tiếng Việt, đọc các bản dịch đó, họ sẽ “buồn năm phút” vì người dịch hoàn toàn dịch sai ý của họ. Rất tiếc cho thế hệ năm xưa làm việc cho BBC, VOA quá già hoặc chết hết cả rồi. Nay hậu duệ vì kém cỏi- thay vì xây đắp- lại tàn phá ngôn ngữ của cha ông. Buồn ơi, chào mi!

Accordion= Phong cầm. Harmonica= Khẩu cầm
Action Film: “Action film is a film genre in which one or more heroes are thrust into a series of challenges that typically include physical feats, extended fight scenes, violence ...” Theo định nghĩa này thì “Action Film” là “Phim đánh đấm”, hoặc “phim bắn giết” hoặc “kiếm hiệp Mỹ” chứ không phải “Phim hành động” bởi vì phim nào mà chẳng hành động. Chẳng lẽ các nhân vật trong phim ngồi như tượng đá từ đầu tới cuối sao?
Áp-phích: (Affiche) = Bích chương (dán trên tường). Bích nghĩa là tường, như bích báo= báo tường (dán trên tường), bích kích pháo ( súng cối) = bắn cầu vồng, bắn qua tường.
Atlas: Tập bản đồ (Một cuốn tập lớn trong đó có nhiều bản đồ)
ATM: Máy chuyển tiền tự động. (rút tiền hoặc gửi tiền)
Audio-visual: Âm thanh & hình ảnh chứ không có nghĩa là Nghe-Nhìn vì Nghe-Nhìn là động từ. Còn Audio-Visual là tính từ (adjective).

Băng rôn: (Bande de role) = Biểu ngữ.
Bikini: Áo tắm hai mảnh.
Bình ắc-quy: Bình điện. Sạc (Charge): Tiếp điện, nạp điện.
Blog: Trang tin chuyên đề/ trang chuyên đề. Cũng có người dịch là “Nhật ký phổ biến qua mạng lưới”.
Blogger: Người viết trang chuyên đề.
Blue: Màu xanh. Green: Màu xanh lá cây, màu lục. “Lục địa” là đất phủ bởi màu xanh lá cây (lục) hay màu cỏ. Hiện nay ở Việt Nam không phân biệt được thế nào là “xanh” (blue) thế nào là “xanh lá cây” (green). Tất cả đều gọi là “xanh”. Thí dụ: “Trồng cây xanh” (blue), “phủ xanh (blue) công viên”. Đúng ra phải viết: Trồng cây, trồng cây và phủ cỏ một công viên. Ở Mỹ này, nếu chúng ta gọi một nhà thầu đến và nói, “Tôi muốn phủ xanh căn nhà này.”, chắc chắn căn nhà của bạn sẽ là màu “blue” hoặc “xanh da trời”. Còn nếu bạn nói, “Tôi muốn sơn căn nhà màu xanh lá cây/màu lục.” Thì chắc chắn căn nhà của bạn sẽ là màu “green”.
Bonsai: Là Bồn Tài (Cây trồng trong chậu) tức cây cảnh/kiểng
Boot: Giày cao cổ, giày ống
Brand name: Hiện nay được dịch là  “thương hiệu” nhưng thực ra nó có nghĩa là “nhãn hiệu trình tòa” hay “nhãn hiệu cầu chứng” để kẻ khác, hãng khác không được phép sử dụng nhãn hiệu này.
Breaking news: Tin vừa mới nhận được, thường rất vắn tắt và thường là sự kiện quan trọng , chứ không phải bản tin đã được soạn sẵn với đầy đủ chi tiết.
Bunker: Hầm trú ẩn, hầm ngầm mà Việt Nam gọi là bong-ke.

Cabin: Buồng riêng trên tàu/buồng ngủ trên tàu.
Ca nô: Xuồng máy.
“Văn hóa ứng xử” mà phải nói, “cách cư xử” sao cho lễ độ, lịch sự, phải phép v.v..
“Văn hóa nói dối” mà phải nói, “thói quen nói dối”, “cố tật nói dối”, “bệnh nói dối”.

"Văn hóa đi trễ” mà phải nói, “thói quen đi trễ”, “bệnh đi trễ”.
“Văn hóa chửi thề” mà phải nói, “bệnh chửi thề”, “tật chửi thề” Thí dụ: Thằng cha/con mụ đó có tật hễ mở miệng ra là chửi thề. Do đó không thể nói, “Thằng cha/con mụ đó có văn hóa chửi thề”

“Văn hóa phong bì” mà phải nói “trào lưu, phổ biến”. Thí dụ: Bác sĩ nhận phong bì của bệnh nhân đã trở thành một trào lưu không biết ngượng/phổ biến của giới bác sĩ Việt Nam bây giờ.

“Văn hóa phóng uế” mà phải nói “thói quen phóng uế, xả rác.“ Thí dụ: Xả rác và phóng uế là thói quen bất trị của người Việt Nam bây giờ.” hoặc, “Hút thuốc xong liền quăng tàn thuốc lá xuống đất là thói quen đã thấm vào não trạng của người Việt Nam bây giờ.”

“Văn hóa nói dối” mà phải nói, “thói quen nói dối, cố tật nói dối”.”bệnh nói dối”. Chúng ta không thể nói, “Thằng cha, con mụ đó có văn hóa nói dối.” mà phải nói, “Thằng cha, con mụ đó có bệnh nói dối,”
“Văn hóa đi máy bay” mà phải nói, “ những điều nên làm và không nên làm khi đi máy bay”
Catwalk: Bục trình diễn thời trang. Trong nước không hiểu nghĩa của từ này nên dịch là “sàn Catwalk”. Dịch như thế thì chẳng ai hiểu gì cả.
Channel: 1. Băng tần (trong nước dịch là Kênh truyền hình). Thí dụ: “Đài truyền hình Fox News được phát hình trên băng tần 360”hoặc “Chương trình truyền hình CNN được phát hình trên băng tần 202”
   2. Channels (số nhiều) Cách, phương thức, ngõ ngách để gửi tin hoặc lấy tin hoặc thực hiện chuyện gì  đó. Hiện nay chữ “channels of communication” được BBC dịch là “kênh truyền thông” hoàn toàn không rõ nghĩa, mà phải dịch là “Các phương tiện truyền thông”. Chẳng hạn “diplomtic channels” không thể dịch là “kênh ngoại giao” mà phải dịch là “đường lối, ngõ ngách ngoại giao”. Ngõ ngách ở đây có thể là trực tiếp thương thảo hoặc qua mật đàm, hoặc nhờ một quốc gia đệ tam làm trung gian v.v..
Cherry: Trái anh đào.
Cholesterol: Độc tố trong máu (gây bệnh tim).
Clip: Đoạn băng ngắn, đoạn thu hình.
Composite: Hợp chất, vật liệu tổng hợp/hỗn hợp.
Copy: Bản sao, bản sao chép, rập khuôn. Người Tàu dịch là “phiên bản”. (Xin xem bất kỳ từ điển Anh-Hoa nào). Còn “version” là mô phỏng không như sao chép (copy) đúng 100%. Trong nước bất cứ cái gì cũng dịch là “phiên bản” dù đó chỉ là mô phỏng hoặc nhái (version).
Counterpart: Người đồng cấp, đồng nhiệm.
Crew: Trên máy bay gọi là “phi hành đoàn”. Trên tàu gọi là “thủy thủ đoàn”. Trong nước dịch là “tổ bay”, “thuyền viên”.
Culture: Có nhiều nghĩa, không phải lúc nào cũng có nghĩa là “văn hóa”. Văn hóa là một tổng hợp bao gồm rất nhiều lãnh vực của một xã hội như: Hội hè, nghi lễ, nghi thức, cách ăn mặc, ăn ở, cách nói năng, cách cư xử trong gia đình, ngoài xã hội…chẳng hạn như: văn hóa Trung Hoa, văn hóa Mỹ, văn hóa Việt Nam...qua đó chúng ta thấy sự khác biệt về lối sống giữa các quốc gia. Hiện nay hai chữ “văn hóa” được dùng tràn lan, sai nghĩa và trở nên dị hợm ở trong nước khi nói: văn hóa nói dối, văn hóa tham nhũng, văn hóa đi trễ, văn hóa chen lấn, văn hóa chửi thề, văn hóa phong bì…. Hai chữ “văn hóa” ở đây được dùng với ý xấu, ám chỉ cái gì đã trở thành cố tật thấm sâu vào não trạng và không sao thay đổi được nữa và được cả xã hội chấp thuận và làm theo. Trong khi “văn hóa” biểu tượng cho cái gì tốt đẹp đã được gạn lọc theo thời gian và là niềm hãnh diện vì là đặc trưng của một quốc gia. Theo từ điển Mỹ, “culture” ngoài nghĩa “văn hóa” còn có nghĩa khác như sau:
“The set of predominating attitudes and behavior that characterize a group or organization.” Theo định nghĩa này thì “culture” có nghĩa là: Lề thói, cách cư xử, trào lưu, phổ biến, một căn bệnh, cố tật…của một tập thể, một tổ chức, một nhóm người nào đó chứ không chung cho cả một dân tộc. Xin nhớ cho, văn hóa là đặc trưng-thường là tốt đẹp chung cho cả một dân tộc. Do đó không thể nói:

“Văn hóa ứng xử” mà phải nói, “cách cư xử” sao cho lễ độ, lịch sự, phải phép v.v..
“Văn hóa nói dối” mà phải nói, “thói quen nói dối”, “cố tật nói dối”, “bệnh nói dối”.
“Văn hóa đi trễ” mà phải nói, “thói quen đi trễ”, “bệnh đi trễ”.
“Văn hóa chửi thề” mà phải nói, “bệnh chửi thề”, “tật chửi thề” Thí dụ: Thằng cha/con mụ đó có tật hễ mở miệng ra là chửi thề. Do đó không thể nói, “Thằng cha/con mụ đó có văn hóa chửi thề”
“Văn hóa phong bỉ” mà phải nói “trào lưu, phổ biến”. Thí dụ: Bác sĩ nhận phong bì của bệnh nhân đã trở thành một trào lưu không biết ngượng/phổ biến của giới bác sĩ Việt Nam bây giờ.
“Văn hóa phóng uế” mà phải nói “thói quen phóng uế, xả rác.“ Thí dụ: "Xả rác và phóng uế là thói quen bất trị của người Việt Nam bây giờ.” hoặc, “Hút thuốc xong liền quăng tàn thuốc lá xuống đất là thói quen đã thấm vào não trạng của người Việt Nam bây giờ.”
“Văn hóa nói dối”mà phải nói, “thói quen nói dối, cố tật nói dối”.”bệnh nói dối”. Chúng ta không thể nói, “Thằng cha, con mụ đó có văn hóa nói dối.” mà phải nói, “Thằng cha, con mụ đó có bệnh nói dối,”
“Văn hóa đi máy bay” mà phải nói, “ những điều nên làm và không nên làm khi đi máy bay”

Cú đúp (bóng đá): Thắng hai bàn. Còn hat trick là thắng ba bàn.
Cup: Giải. Do đó người đoạt cúp là người đoạt giải.World Cup : Giải túc cầu/bóng đá thế giới
Cua-rơ (coureur trong xe đạp): Tay đua.

Debt ceiling: Mức nợ tối đa (không thể vượt qua giống như đã đụng tới trần nhà rồi) chứ không phải ” nợ trần”. “Nợ trần” khiến người đọc có thể hiểu là ”nợ đời, nợ trần thế, nợ trần ai”.
Depressed = (very sad):  Buồn nản, chán đời (trong nước dịch là trầm cảm). Chẳng hạn, khi gặp một tâm lý gia nếu chúng ta nói, “Tôi bị trầm cảm,” thì vị bác sĩ chưa rõ bệnh tình của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta nói,
“Tôi cảm thấy buồn nản, chán đời,” thì vị bác sĩ hiểu ngay bệnh tình của chúng ta.
Desktop: Máy điện tử để bàn.
Doping: Dùng thuốc kích thích.

Ebook: Sách điện tử
Email: Điện thư
Exchange Floor: Nơi giao dịch, mua bán chứng khoán. Ở Việt Nam dịch là “sàn chứng khoán”. Theo từ điển Longman 2002, chữ “Floor” có nhiều nghĩa. Ngoài nghĩa “sàn nhà, tầng” nó còn có nghĩa là một phần của tòa nhà của chính phủ dùng để hội họp hay điều trần mở ra cho công chúng. Chẳng hạn “Senate Floor” là trụ sở Thượng Viện Hoa Kỳ chứ không phải “Sàn Thượng Viện”. 

Fake: Giả. Hàng fake: Hàng giả, rởm, dỏm.
Fan:Những người hâm mộ, kẻ hâm mộ. Nếu hâm mộ một cách điên cuồng có thể gọi là “tín đồ” như trong lãnh vực âm nhạc chẳng hạn.
Flyer: Tờ quảng cáo hoặc truyền đơn. Có người dịch là “tờ bươm bướm”.
Freezing bank account= Phong tỏa một trương mục (không cho rút tiền hoặc trả tiền), chứ không phải “đóng băng” một trương mục.
Freezing of asset= Phong tỏa tài sản (không cho tẩu tán) chứ không phải “đóng băng” một tài sản. Chữ “freeze” mà dịch là “đóng băng” tức không rành tiếng Mỹ. Chữ “freeze” có rất nhiều nghĩa chứ không phải chỉ có nghĩa “đông lạnh, đóng băng” . Chẳng hạn, khi mình vô tình xâm phạm vào sân, vườn, nhà của người ta nếu chủ nhà la lớn, “Freeze!” tức “Đứng yên!” Nếu mình cứ bước tới người ta có thể rút súng bắn chết mình vì tội xâm phạm gia cư bất hợp pháp. Thảm họa này đã xảy ra tại Lễ Haloween khi một em bé Á Châu  đeo mặt nạ đi xin kẹo vào buổi tối, bước vào vườn nhà người của người ta. Khi nghe tiếng hô “Freeze!” (Đứng yên!) em bé không hiểu cho nên cứ bước vào, và bị bắn chết. 

Games: Các trò chơi (trên máy điện tử hay tại các nơi giải trí).
GDP: Tổng Sản Lượng Quốc Gia (Gross Domestic Product)
Ghost town: Thành phố bỏ hoang chứ không phải “thành phố ma”. Haunted house: Căn nhà có ma.
Xin nhớ cho “căn nhà ma quái” là căn nhà có dáng vẻ hay tỏa ra một không khí lạ lùng, đáng sợ chứ chưa hẳn là “căn nhà có ma” thường thấy trong các phim thần thoại, kinh dị, các phim trinh thám hoặc phim khôi hài như “Ba Thằng Ngốc” (The Three Stooges).
Guitar: Tây Ban Cầm.

Hacker: Kẻ ăn cắp hoặc phá hoại các dữ kiện của người khác qua máy điện tử, có thể tạm dịch là “tin tặc”.
Home page: Trang chính, trang nhất (không phải trang nhà). Ở Mỹ “home key” là các chữ trên bàn đánh máy mà các ngón tay sau khi vươn ra để đánh các chữ khác - đều trở về vị trí “home key” này. “Home room” là lớp học/giờ học đầu tiên của học sinh. Mọi giấy tờ của học sinh, hoặc hướng dẫn của giáo viên đều do “home room” phụ trách. Tại Hoa Kỳ, một giáo viên có thể dạy nhiều trường một lúc nhưng “Home school” là trường chính lưu giữ hồ sơ, giấy tờ cho giáo viên ấy. Các chữ “home” ở trên hoàn toàn không có nghĩa là “nhà”.
Hand made: Hàng làm bằng tay, thêu tay (không phải bằng máy)
Hard-war/Soft-ware: Đã được dịch và phổ biến thành: nhu liệu/cương liệu hoặc phần cứng/phần mềm tại hải
ngoại thập niên 1980 khi Việt Nam chưa “mở cửa” và kiến thức về điện tử còn rất hạn chế. Thực ra hai từ Hard-ware/Soft-ware không có nghĩa cứng hay mềm gì cả mà nó có nghĩa là Máy và Ứng Dụng (Của Máy). Chúng ta có thể từ từ điều chỉnh lại bằng cách viết như sau: Phần Máy (Hard-ware) &Phần Ứng Dụng (Soft-ware) lâu rồi sẽ quen. Khi đó chúng ta sẽ bỏ luôn các chữ Hard-war/Soft-ware và chỉ còn giữ lại phần tiếng Việt mà thôi.
Hot: Nóng. Nhưng có rất nhiều nghĩa, tùy trường hợp.
Hot news: Tin hấp dẫn.
Hot girls :  Những cô gái ăn mặc hở hang, khiêu dâm
Ăn mặc hot: Ăn mặc hở hang, khiêu dâm.
Hot seat: Không phải là “ghế nóng” mà là đang ở vào tình thế gian nan, vô cùng bất lợi. Ví dụ: He is in hot seat có nghĩa là: Ông ta ở vào tình thế vô cùng nan giải. Hot seat tiếng lóng còn có nghĩa là “ghế điện” dành cho tử tội.
Hot topic/ Hot issue: Không phải là “đề tài nóng” mà là những vấn đề đang được bàn cãi sôi nổi thường xuất hiện trong các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ.
Hot Items: Hàng bán chạy, hàng được ưa chuộng (theo mùa)
Bản nhạc ấy hot lắm: Bản nhạc vừa xuất hiện và được ưa chuộng, bán chạy, được hát nhiều.
Hot line: Không phải là đường dây nóng hay lạnh mà là “đường dây thông báo khẩn cấp” thường giữa vị nguyên thủ các quốc gia có vũ khí nguyên tử như Nga-Mỹ để tránh rủi ro.
Thị trường đang hot: Thị trường bán rất chạy (trái với ế ẩm)
Hot boy: Tiếng lóng Mỹ có nghĩa là đàn ông/con trai nổi tiếng về buôn bán xì-ke ma túy, đang bị cảnh sát theo dõi vì buôn bán, chuyển vận ma túy. Còn trong nước dùng với nghĩa khác thì tôi không rõ. 

Input/Output: Nhập lượng/ xuất lượng. hoặc Vốn/Thành quả. Trong nước dịch là đầu ra/đầu vào.
International Court of Justice: Tòa Án Quốc Tế. Hiện nay chữ này đang được phiên dịch là “Tòa Án Công Lý
Quốc Tế” như thế là không đúng, bởi vì: Court of Justice = Tòa Án chứ không phải “Tòa Án Công Lý”.
Internet: Liên mạng hoặc mạng lưới toàn cầu.

Laptop: Máy điện tử cầm tay. Thực ra là để trên lòng (lap) khi đem ra phi trường, hoặc đi xa không có bàn.
Live music: Nhạc sống (do ban nhạc trình diễn chứ không phải nghe qua máy)
Live show: Chương trình trực tiếp (không phải thu hình xong rồi phát lại).
Logic: Thuận lý, hợp lý, lý đương nhiên (không cần tranh biện).
Lô cốt: Pháo tháp, đồn canh. Thời thực dân Pháp, chữ “Blockhaus”được phiên âm thành lô-cốt.
Logo:  Huy hiệu.

Marketing: Chiêu khách, quảng cáo để bán hàng, tìm cách để bán hàng, kéo khách hàng tới, quảng cáo bằng mọi cách để mở rộng một chiến dịch tranh cử chẳng hạn.
Mát-xa (Massage): Đấm bóp, nghề đấm bóp, tẩm quất.
Media: Truyền thông, nghành truyền thông bao gồm báo chí, đài phát thanh và truyền hình.
Meeting/ Mít-tinh: Cuộc biểu tình, buổi gặp gỡ, họp mặt, cuộc tập họp lớn.
Megaphone diplomacy/Microphone diphomacy =Ngoại giao theo kiểu ồn ào như họp báo, ra tuyên bố v.v.. chứ không phải âm thầm thương thảo để giải quyết vấn đề. BBC tiếng Việt - người dịch không biết nghĩa của từ kép này cho nên dịch là “ngoại giao micro”. Dịch như thế thì thà không dịch còn hơn.
Messenger: Sứ giả, người đưa tin
Militant: Các phần tử bạo động, các phần tử chủ chiến. Từ này đang được phiên dịch sang Việt Ngữ là “chiến binh” như thế là không đúng. Từ điển Mỹ định nghĩa “militant” như sau: “Combative and aggressive in support of a political or social cause: chẳng hạn như "militant Islamic fundamentalists"có thể dịch là “ các phần tử bạo động Hồi Giáo”.Trong bất kỳquốc gia nào, phần tử chủ trương bạo động đều được báo chí Mỹ gọi là “militant”.
Module: Cơ phận phụ, bộ phận rời. Chẳng hạn “nguyệt xa” là module- tức bộ phận phụ/rời của phi thuyền không gian. 

Nails: Tiệm Nails= Tiệm sơn móng tay, móng chân.Nghề Nails : Nghề sơn móng tay, móng chân.
Nude: khỏa thân, lõa thể.Ảnh nude là ảnh khỏa thân, lõa thể, cởi truồng.
Online: Trong nước dịch là “trực tuyến” là không rõ nghĩa. Online có hai nghĩa:
1) Connected to other computers through the Internet or available through the Internet=Liên kết qua mạng lưới hoặc đã sằn sàng nối kết (qua mạng lưới)
2) Directly connected to or controled by a computer=Trực tiếp nối hoặc điều khiển bới máy điện tử.
Như thế online interview không thể dịch là “phỏng vấn trực tuyến “ mà là “phỏng vấn qua hệ thống liên mạng” hay “phỏng vấn qua hệ thống máy điện tử”. 

Online shopping: Mua hàng qua mạng lưới/mua hàng trên mạng.
Oxygen: Dưỡng khí 

Partner: Người hợp tác, người hùn hạp, người đứng chung với mình (trong trận đấu quần vợt chẳng hạn). Hiện nay chữ partner đang được dịch là “đối tác” như thế là sai. Hợp tác với mình thì không thể gọi là “đối” được, khác với đối thủ, đối phương, đối đầu… Stratergic partnership= Hợp tác chiến lược. Conprehensive Partner-ship= Hợp tác toàn diện.
Penalty (bóng đá): Phạt đển
Persistent: Hiện nay hầu hết các bài viết ở trong và ngoài nước nói về lâp trường của Trung Quốc đối với Biển Đông đều dùng nhóm chữ “thái độ quyết đoán”. Theo tôi như thế là sai. Quyết đoán là khi thấy mình có lý, và tin tưởng rằng mình đúng và giữ nguyên lập trường. Còn khi sai, không có căn bản hợp lý, mà bảo thủ, giữ nguyên lập trường thì gọi là khăng khăng, nằng nặc, lì lợm. Do đó tôi đề nghị từ nay chúng ta bỏ không dùng nhóm chữ “thái đô quyết đoán” và thay bằng “Trung Quốc vẫn có thái độ khăng khăng hoặc “ nằng nặc”, “lì lợm”  trong việc khẳng định chủ quyền của mình ở Biển Đông”.
Photocopy: Sao, chụp lại.  Bản photo= bản sao, bản chụp đúng 100%. Tàu dịch là “Phiên bản”. Còn “version” là nhái, mô phỏng không đúng 100%. Trong nước “version”dịch là “phiên bản” hoàn toàn sai.
Piano: Dương Cầm.
Positive/Negative (Y Học): Trong nước dịch là “Dương tính” và “Âm tính” như thế không rõ nghĩa. Theo từ điển Longman: Positive/Negative= “A medical or scientific test that is show positive (rõ ràng) signs of what is being looked for” Như thế Positive phải dịch là= Có dấu hiệu bệnh gan, lao phổi, ung thư v.v…và Negative=Không có dấu hiệu bệnh tiểu đường, gan, lao phổi, ung thư….
Nhạc Rap= Có thể tạm dịch là “Nhạc gõ” (gõ lách cách để giữ nhịp) hoặc “Nhạc hát theo nhịp gõ”. Hoặc có thể dịch là “Hát bài chòi Mỹ” hay “Hát xướng lô-tô Miền Nam”

Real Estate Bubble: Đó là tình trạng: “Rapid increases in valuations of real property such as housing until they reach unsustainable levels and then decline.” Trong nước dịch là “bong bóng địa ốc” hoàn toàn không rõ nghĩa. Nó là tình trạng giá nhà đã tăng nhanh quá cao, bão hòa và bắt đầu đi xuống (vỡ như bong bóng).
Resort: Khu Resort là khu nghỉ mát, khu nghỉ dưỡng.

Sạc điện (Charge): Nạp điện. Binh ắc-quy: Bình điện
Scandal: Những vụ tai tiếng.
Sexy: Hấp dẫn, hở hang, gợi dục. Do đó “Một cô gái có thân hình sexy” là cô gái có thân hình hấp dẫn (gợi dục,
gợi sự ham muốn). Một cô gái ăn mặc sexy là cô gái ăn mặc hở hang, không đứng đắn…chẳng hạn như váy ngắn quá, áo hở ngực lồ lộ, hoặc váy mỏng/ quần mỏng lộ cả quân lót bên trong. Cô ấy có khuôn mặt sexy tức cô ấy có khuôn mặt lẳng lơ, đa tình.
Sốc (Shock): Bàng hoàng, sửng sốt, choáng váng (vì quá bất ngờ). Chữ  shock đang được dùng tràn lan trong nước dùng như một thứ kiểu cọ, thời trang, làm dáng. Chẳng hạn hàng được bán đổ bán tháo, bán với giá rẻ mạt được gọi là “giảm sốc (shock)”.
Show: Các buổi trình diễn văn nghệ. Bầu Show: Bầu ca nhạc. Người tổ chức nhạc hội.
Showbiz: Những buổi trình diễn/ giới thiệu thương mại.
Stress: Căng thẳng, căng thẳng thần kinh.
Style: Kiểu, kiểu cọ, lối. 

Tiêm vaccine: Trích ngừa, chủng ngừa.
Tít (Pháp=Titre) : Tiêu đề, nhan đề, tin hàng đầu,
Tomboy: Gái hiếu động, gái mà như trai.
Top: Đứng đầu, hàng đầu.
Top Ten: Mười người/quốc gia/hãng…đứng đầu v.v..
Tuổi Teen, các Teen: Chúng ta hãy xem người Mỹ đếm số từ 13 tới 19: Thirteen, fourteen, fifteen, sixteen, seventeen, eighteen và nineteen. Tất cả đều kết thúc bằng chữ teen. Như vậy “tuổi teen” là tuổi vị thành niên, dưới 20 tuổi.  Và “các teen” là các trẻ vị thành niên. Do đó “teen pregnant” có nghĩa là vị thành niên mang bầu/có thai - một tệ nạn của xã hội Mỹ bây giờ cho nên phải phát bao cao su sinh lý cho học sinh là như thế đó.
Tour du lịch: Chuyến du lịch, các chuyến du lịch.
-Tôi vừa đi tour Tôi vừa đi du lịch. Tôi vừa làm một chuyến du lịch.
-Cho tôi một vé đi tour Hạ Long= Cho tôi một vé du lịch Hạ Long.
Trading floor:  Nơi giao dịch, mua bán chứng khoán. Trong nước dịch là “sàn chứng khoán” như thế là sai vì chữ “floor” ở đây không có nghĩa là “sàn nhà”. Chẳng hạn trụ sở Thượng Viện của Hoa Kỳ cũng còn gọi là “Senate  Floor”. Theo từ điển Longman 2002 “floor” có nghĩa là phần của một tòa nhà của chính phủ nơi người ta thảo luận hoặc tham dự những phiên họp mở ra cho công chúng.
Tunnel: Đường hầm (đào dưới đất hoặc xuyên qua núi), tiếng Hán gọi là “địa đạo”. Chẳng hạn như : Đường Hầm Thù Thiêm, Đường Hầm Đèo Hải Vân, Đường Hầm Đèo Cù Mông. Xin nhớ cho “hầm” (bunker) khác  “đường hầm”. Nếu chúng ta nói, “Hầm Đèo Cả” tức là ở Đèo Cả có một cái hầm chứa cái gì đó, có thể là hầm trú ẩn, kho vũ khí hoặc căn cứ quân sự bí mật v.v..Còn nếu chúng ta nói, “Đường Hầm Đèo Cả” thĩ rõ ràng đây là một con đường ngầm dưới đất xuyên qua Đèo Cả chứ không phải là một kho chứa hoặc hầm trú ẩn v.v..
Tuýp, ống tuýp (Tiếng Pháp là tube): Ống sắt.
TV: Truyền hình, đài truyền hình. Trong nước có cái lạ là đài tiếng nói thì gọi là “phát thanh” trong khi đài truyền hình thì gọi là “phát sóng” thay vì “phát hình”. Theo tôi nghĩ, phát hình đúng hơn là phát sóng. Chẳng hạn; “Chương trình phát thanh được truyền đi trên làn sóng AM 1200.”, “Chương trình phỏng vấn/ca nhạc/phóng sự/tuyển lựa ca sĩ… sẽ được phát hình vào lúc…”

Vaccine: Thuốc chủng ngừa, trích ngừa
Version: Bản dịch, bản mô phỏng (hơi khác nguyên bản một tí), bài tường thuật, mô tả.
Violin/Violon: Vĩ Cầm.
Virus: Siêu vi trùng, siêu vi khuẩn, đã có thời dịch là “tinh độc” (cực nhỏ mà độc hại)
Visa/Passport: Xin visa tức là xin nhập cảnh. Xin passport là xin xuất cảnh.
Vô-lăng (Pháp =Volant): Tay lái. Lốp = Vỏ xe, vỏ bánh xe. Săm=Ruột xe, ruột bánh xe. Miền Nam trước đây nói rất gọn: “Thay vỏ ruột bánh xe” là ai cũng hiểu. Phanh=Thắng.

Xe hybrid: Xe chạy xăng và điện (Petroleum-electric hybrid vehicles)
Xe container: Xe vận tải lớn, xe tải lớn, xe thùng. Các container: Các kiện hàng, các thùng chứa hàng, Tàu Container: Tàu chở các kiện hàng/ Tàu vận tải lớn. Cảng container: Cảng bốc dỡ các kiện hàng lớn. 

Website: Trang mạng/trang thông tin điện tử.
World Cup : Giải túc cầu/bóng đá thế giới.

Đào Văn Bình
(California Tháng 03/2013 và bổ túc thêm vào 25/7/2015)

Khai Dân TríĐào Văn Bình

2015/01/14

Tiếng Việt Trong Nước Quá Nhiều Tiếng Lóng và Ngôn Ngữ Chợ Búa

Tiếng Việt Trong Nước Quá Nhiều Tiếng Lóng và Ngôn Ngữ Chợ Búa

Tiếng lóng (slang) là ngôn ngữ của các băng đảng, lưu manh côn đồ, cờ bạc, đĩ điếm, hoặc bọn du thủ du thực nói chuyện với nhau để không cho người ngoài biết hoặc che mắt cảnh sát, lực lượng an ninh, hoặc để tỏ ta đây “anh chị”, “hơn đời”. Trước năm 1975 cũng đã có khá nhiều tiếng lóng, chẳng hạn như:

-Cớm= cảnh sát. Cớm gộc= cảnh sát trưởng hoặc quan to.
-Ghế = gái
-Choạc= Chục
-Bò= Trăm
-Khứa= khách. Khứa lão= khách già, lớn tuổi
-Nhí (nhỏ) = Bồ nhí tức già rồi mà còn “chơi trống bỏi” tức cặp với cô gái/cậu trai nhỏ tuổi bằng con mình.
-Biến= Chạy đi
-Bỉ vỏ= Dân bỉ vỏ là dân cờ bạc
-Thổi= Lấy cắp
-Thuổng= Lấy cắp
-Khoắng= Vào nhà lấy trộm, trộm
-Cuỗm= Lấy đi. Thí dụ: Hắn cuỗm vợ của bạn hắn.
-Chôm/chôm chĩa= Lấy cắp. Chôm chĩa credit= Ăn cắp/cầm nhầm thành tích của ai.
-Xế hộp= Xe mới đắt tiền
-Ngầu= Hay, giỏi, đẹp, bảnh bao
-Chì: Gan lì
            
Ngay trong đại học, chẳng hạn như Đại Học Havard của Mỹ, cũng có rất nhiều tiếng lóng do sinh viên chế ra để nói chuyện với nhau, vừa nghịch ngợm (Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò) vừa để tỏ ra đây là “sinh viên” hay “Havard”. Dù do sinh viên hay Havard  chế ra, tiếng lóng không bao giờ được coi là ngôn ngữ chính của đất nước. Quý vị cứ mở bất cứ cuốn từ điển Việt Ngữ - dù xuất bản trước hay sau 1975 xem có tiếng lóng nào không?
            
Thế nhưng không hiểu sao ngày nay, báo chí trong nước, tiếng Việt xuất hiện quá nhiều tiếng lóng. Nếu không phải là tiếng lóng thì lại là loại ngôn ngữ “ đường phố” hay “chợ búa” của những người ít học. Đọc những bài báo có loại tiếng lóng hoặc ngôn ngữ “đường phố” chúng ta nhận ra ngay phần lớn xuất phát từ Miền Bắc chứ không phải Miền Nam.

Hiện nay, mạng lưới truyền thông của cả nước đều do những người “nói tiếng Bắc” nắm giữ. Có thể nói không sợ sai lầm rằng tiếng Việt bây giờ bị thống ngự bởi “tiếng Bắc” và giết chết loại ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lịch sự, dễ hiểu mà Miền Nam xây dựng trong 20 năm.
            
Xin nhớ cho ngôn ngữ, dù ở Đàng Trong hay Đàng Ngoài thời Trịnh-Nguyễn Phân Tranh và ngày nay Miền Nam hay Miền Bắc trong cuộc chiến “VietnamWar” thì cũng đều là tài sản chung của đất nước. Dù chính quyền có khả năng tác động tới ngôn ngữ nhưng ngôn ngữ của một đất nước không phải hoàn toàn do một chế độ hoặc chính quyền áp đặt hoặc chế ra. Ngôn ngữ của một dân tộc là sản phẩm đi lên từ cuộc sống - xây dựng bởi các học giả, khoa học gia, các giáo sư đại học, dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà văn hóa, tiểu thuyết gia, các nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo lỗi lạc cống hiến cho cuộc sống chung rồi được công chúng và hệ thống giáo dục chấp nhận rồi trở thành khuôn thước cho cả nước. Chúng ta không nên úy kỵ, dị ứng hay kỳ thị bất cứ ngôn ngữ của vùng, miền nào nếu nó hay, đẹp, giản dị, dễ hiểu. Đất nước càng phát triển thì ngôn ngữ càng phong phú thêm. Và chúng ta cũng phải có can đảm loại bỏ loại ngôn ngữ thô lỗ, chợ búa, lai căng, xúc phạm, bát nháo, bất lịch sự và thấp kém (do ít học) … ra khỏi gia tài ngôn ngữ Việt Nam…dù là trên bảng quảng cáo, các trang báo điện tử v.v…
            
Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng cần phải trong sáng, dễ hiểu. Sự tường thuật một biến cố không những trung thực mà còn phải đúng mức (decent) nữa. Khi quần chúng đọc một bản tin là muốn biết một sự kiện diễn ra như thế nào, chứ không phải  đọc chuyện tiếu lâm hay nghe anh hề diễu cợt trên sân khấu. Việc dụng tiếng lóng trong các bản tin làm người đọc khó chịu và liên tưởng tới tác giả có thể xuất thân từ giai cấp chợ búa hay băng đảng mới gia nhập làng báo.  Xin nhớ cho: “Văn tức là người”.
            
Nói như thế không có nghĩa là cấm không được sử dụng tiếng lóng. Trong các tác phẩm văn chương, chẳng hạn khi mô tả một mụ tú bà gọi điện thoại nói chuyện với một tên ma-cô giắt mối, hoặc băng đảng nói chuyện với nhau…thì việc sử dụng tiếng lóng là hợp lý và làm tăng tính hiện thực của tác phẩm. Thế nhưng để cho độc giả dễ hiểu, nhà văn cũng cần cước chú vì không phải ai cũng hiểu hết tiếng lóng.

Nghe một nhóm người nói chuyện với nhau bằng tiếng lóng mình đã khó chịu rồi. Nhưng không có gì kinh hoảng cho bằng nghe một cô hoa hậu, người mẫu hay một sinh viên mở miệng nói ra toàn tiếng lóng hay ngôn ngữ “đường phố” chứ không phải “Cửa Khổng sân Trình” tức ngôn ngữ của người được cắp sách đến trường. Xin nhớ cho ngôn ngữ biểu lộ trình độ giáo dục và tư cách của con người. Nhà đạo đức nói lời xâu xa nghĩa lý. Nhà giáo nói lời bảo ban nhỏ nhẹ. Mẹ hiền nói lời nhẹ như ru. Nhà tu hành nói lời cứu độ. Kẻ trí thức nói lời lịch sự. Người hiền lành nói lời chân chất. Bọn côn đồ nói lời dao búa. Bọn trộm cướp, xã hội đen nói với nhau bằng tiếng lóng. Bọn trọc phú nói lời kênh kiệu. Kẻ ác tâm nói lời cay nghiệt. Kẻ buôn gánh bán bưng giành giật miếng cơm manh áo từng ngày nói lời “đường phố”.

Dưới đây là một số những minh chứng cho việc sử dụng quá nhiều tiếng lóng và ngôn ngữ “chợ búa” của tiếng Việt trong nước bây giờ:

-Cà-phể đểu= Đây là loại ngôn ngữ “chợ búa”. Tại sao không nói “Cà-phê giả” cho đứng đắn và rõ nghĩa?
-Bôi trơn sổ đỏ= Hối lộ, đút lót để được cấp sổ đỏ. “Bôi trơn” là một loại tiếng lóng.
-Bảo kê sòng bài, bảo kê xe quá tải qua mặt trạm cân= Đỡ đầu/bao che cho sòng bài, đỡ đầu/bao che cho xe quá tải vượt trạm cân. Hai chữ “bảo kê” ảnh hưởng từ phim bộ loại đâm chém, bắn giết của Hồng Kông như : Bảo kê, bảo tiêu.
-Nhập viện= Có rất nhiều “viện”, nào là: Viện Kiếm Sát Nhân Dân, Viện Hàn Lâm, Viện Uốn Tóc, Kỹ Viện, Viện Ung Bướu, Viện Bào Chế, Viện Dưỡng Lão, Viện Mồ Côi, …vậy “nhập viện” là nhập “viện” nào? Do đó, một cách rõ ràng và đầy đủ nhất phải nói, “vào bệnh viện” hay “đưa vào bệnh viện”. Thí dụ: “Ông Nguyễn Văn A đã phải vào bệnh viện” hoặc “Người ta đã đưa nạn nhân vào bệnh viện.” hoặc “Tối qua cháu bé lên cơ sốt nặng cho nên gia đình đã phải đưa cháu vào bệnh viện.”
-Trạm trung chuyển: Nghe có vẻ cầu kỳ, khó hiểu. Tại sao không nói, “trạm chuyển tiếp” vừa giản dị vừa dễ hiểu?
-Tuyển quốc gia: Có biết bao nhiêu thứ “tuyển” như: Tuyển quân, tuyển phu, tuyển mỹ nhân, tuyển thủ, tuyển chọn, tuyển lựa tài tử, tuyển cử…vậy “tuyển quốc gia” là gì? Là tuyển chọn xem quốc gia nào tốt, đẹp…chăng? Xin thưa đây là lối viết tắt rất “bát nháo” ở trong nước bây giờ của đội tuyển quốc gia. Hầu như trong nước bây giờ các chữ: đội tuyển thanh niên, đội tuyển Việt Nam, đội tuyển Bình Dương… đều viết thành: tuyển thanh niên, tuyển Việt Nam, tuyển Bình Dương. Thật bừa bãi quá sức tưởng tượng!
-Phượt, dân phượt. Tôi đố bạn ở hải ngoại hiểu “phượt” là gì ? Xin thưa bây giờ nó có nghĩa là “du lịch” đó. Tôi có cảm tưởng chữ này dịch từ tiếng Miên mà ra?
-Chuyên cơ: Nghe có vẻ cầu kỳ, làm dáng và khó hiểu. Chữ “cơ” có nghĩa là máy móc. Vậy “chuyên cơ” có nghĩa là “máy móc đặc biệt” chứ hoàn toàn không có nghĩa “phi cơ” hay “máy bay” gì cả. Tại sao không dùng: Phi cơ đặc biệt, phi cơ riêng đã có từ lâu ở Miền Nam cho giản dị và dễ hiểu?
-Các họa sĩ biếm lo ngại sau vụ Charlie Hebdo: Đây lại là một lối viết tắt vô cùng cẩu thả. “Họa sĩ biếm” là họa sĩ gì? Đúng đắn nhất nên viết:  “Các họa sĩ vẽ tranh châm biếm lo ngại sau vụ Charlie Hebdo”
-Điều tra hợp tác xã chi khống tiền hỗ trợ nông dân: Chi khống là gì? Hai chữ này có vẻ địa phương hay đường phố hay là một loại tiếng lóng? Tại sao không nói “lập hồ sơ giả” cho rõ nghĩa? Nếu đúng thế thì tiêu đề sẽ là, “Điều tra hợp tác xã lập hồ sơ giả để lấy tiền hỗ trợ nông dân.”
-Mercedes-Benz trình làng mẫu xe tự lái cực “chất”: Cực chất là gì? Đúng là muốn viết gì thì viết và coi thường độc giả quá mức. Tại sao không viết, “Mercedes-Benz trình làng mẫu xe tự lái thật tối tân”, “Mercedes-Benz trình làng mẫu xe tự lái thật tiện nghi”. Đây là hậu quả của việc thiếu kiến thức cho nên bạ đâu viết đó.
-Huyền thoại đấm bốc Muhammad Ali đã được “giải bệnh”: Đây là một tiêu đề vừa chen tiếng Tây “ba rọi” (đấm bốc) vừa chế chữ, đùa rỡn một cách lố bịch. Được bệnh viện cho về sao có thể gọi là “giải bệnh” được?  Giải bệnh có nghĩa là chữa bệnh. Do đó tiêu đề đúng đắn phải là, “Huyền thoại quyền Anh Muhammad Ali đã rời bệnh viện” hoặc “Tay đấm huyền thoại Muhammad Ali đã rời bệnh viện”
-“Đại ca” mang súng “làm cỏ” đối thủ, bố bị chém chết, con nhận án tù”: Khi tường thuật một biến cố, phóng viên hay ký giả không được phép đùa rỡn mà phải dùng chữ cho đứng đắn. Hai chữ “làm cỏ” ở đây là tiếng lóng không nghiêm túc.  Hơn thế nữa hai chữ “đại ca” cũng thừa thãi, vô bổ. Tiêu đề đứng đắn nên là, “Đem súng định thanh toán chủ nợ, bố bị chém chết, con nhận án tù”
-Xét xử gã choai hiếp dâm trẻ em: Chữ “choai” ở đây không đứng đắn (có tính cách mỉa mai) cho một bản tường thuật về một sự kiện xã hội. Phóng viên hay ký giả không phải là “quan tòa” , “nhà đạo đức” hay một “anh hề” để phê phán, chế riễu bất cứ ai. Bổn phận của phóng viên là tường thuật - tức mô tả lại một cách đầy đủ, không thiên kiến, không nhận định riêng tư và bằng giọng văn mẫu mực. Không biết ông ký giả này có tốt nghiệp trường báo chí nào không và trường này dạy những gì?
-“Á hậu dính nghi án đập đá.” Thú thực, đọc tựa đề này tôi không hiểu ra làm sao. Tôi cũng thử đoán xem có phải cô này dính vào vụ “đập” hay “đá” ai đó (bạo hành). Thế nhưng khi đọc phần tin chi tiết mới biết cô á hậu này bị nghi là có cuộc sống trụy lạc, uống rượu và hút xì-ke ma túy nhưng đã được tác giả tường trình bằng loại tiếng lóng. Ngoài ra hai chữ “nghi án” hoàn toàn lạc điệu. Cô á hậu này có dính vào một vụ án nào đâu, mà có thể chỉ có cuộc sống bê tha thôi, sao gọi là “nghi án” được? Có thể nói, trình độ Việt ngữ của ông phóng viên này quá thấp đến nỗi không phân biệt được thế nào là “nghi ngờ” và thế nào là “nghi án”. Thật đáng buồn cho một nền báo chí như vậy!
-“Lương tiếp viên hàng không “khủng”hay “bèo?” Đây là lối nói của mấy tay mánh mung, buôn lậu đang ngồi ở một quán nhậu vỉa hè chứ không phải ngôn ngữ của báo chí “dòng chính” (mainstream).
-Kết cục buồn của bà nữ ĐBQH Châu Thị Thu Nga: Trời đất ơi! Đã “bà” rồi còn “nữ”. Đúng là loại tiếng Việt cẩu thả. Không biết tờ báo này có chủ nhiệm, chủ bút không? Hay có bài vở nào là cứ đăng bừa lên để chạy đua với báo khác mà chẳng để ý câu văn, nội dung ra sao? Đối với các hãng thông tấn quốc tế, các bản tin- dù do thông tín viên chuyên nghiệp gửi về, vẫn được chủ bút coi và duyệt lại trước khi phổ biến. Việc duyệt lại này được cước chú dưới bản tin. Có thể đây là một câu văn “để đời” cần đem vào sách giáo khoa để dạy học sinh. Nhưng cũng có thể ông nhà báo này quá cẩn thận. Đã dùng chữ “bà” rồi còn sợ người ta không hiểu và ngộ nhận là “đàn ông” cho nên phải thêm chữ “nữ” cho chắc ăn!
-Mồm không biết ngượng: Từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi chỉ nghe nói “Nói không biết ngượng” chứ chưa bao giờ nghe nói, “Mồm không biết ngượng”. Đúng là loại ngôn ngữ “đường phố” và vô cùng thô lỗ.
-Quan chức Việt Nam “xạc” nhà thầu Trung Quốc (VOA tiếng Việt): Đây cũng là một loại tiếng lóng để chỉ “khiến trách”, “la mắng” xuất xứ từ tiếng Pháp “charge” nếu nói chuyện riêng tư với nhau thì được, nhưng thiếu đứng đắn khi loan tin về một biến cố liên quan đến hai quốc gia.
-Việt Nam hạ giá tiền đồng (VOA tiếng Việt): Không biết người dịch bản tin này ra Việt Ngữ có phải là người Việt Nam không?  Hay ông ta là một ông Tàu hay ông Mỹ cho nên nó ngây ngô làm sao ấy. Cả 90 triệu dân Việt Nam không ai nói”tiền đồng” cả, mà họ chi nói “đồng bạc”. Do đó tiêu đề đúng là tiếng Việt phải là , “Việt Nam hạ giá đồng bạc”. Xin tác giả tiêu đề này nhớ cho: 1000 đồng là trị giá (mệnh giá) của đồng bạc. Tên của nó không phải là “đồng” mà tên của nó là “tờ giấy bạc Việt Nam ” hay “đồng bạc Việt Nam”.
"Rất ít xã hội ngày nay tin vào tôn giáo hơn 40-50 trước” (BBC tiếng Việt). Đây là câu văn dịch theo kiểu “mot à mot” cho nên làm người đọc nhức đầu. Câu văn bớt nhức đầu là, “Khác với 40, 50 năm trước, ngày nay xã hội tin vào tôn giáo ngày càng ít hơn.”
-“Năm 2015 sẽ kiểm tra về chất cấm trong thức ăn chăn nuôi”. Trời đất quỷ thần ơi! Các chữ “thực phẩm nuôi gia súc” đã có từ lâu lắm rồi sao không đem ra dùng mà lại còn chế ra “thức ăn chăn nuôi” nghe nó dị hợm làm sao ấy.
-“Chính thức chốt phương án nghỉ Tết Nguyên Đán dài 9 ngày” Đây chỉ là quyết định của chính phủ cho phép nghỉ chín ngày trong dịp Tết Nguyên Đán mà dùng toàn những danh từ đao to búa lớn như “chốt”, “phương án” giống như một kế hoạch hành quân, phục kích. Muốn đơn giản và tránh nhức đầu, chỉ cần viết,
“Thủ tướng chính thức quyết địnhTết Nguyên Đán nghỉ 9 ngày ”
-“Sao Barca khiêm tốn mừng chiến thắng không tưởng” và “Chiến thắng không tưởng của đội bóngChelsea”.

Với tiêu đề này, người viết thực sự không hiểu nghĩa của hai chữ “không tưởng” và “không thể tưởng tượng được”. Không tưởng (utopian) là một ảo tưởng không thể xảy ra và sẽ không bao giờ xảy ra. Thí dụ:
“Hắn là con của một gã ăn mày lang thang giữa chợ nhưng lúc nào cũng mơ kết hôn với công chúa. Đúng là chuyện không tưởng.”
“Trung Quốc mơ chiếm hết Biển Đông, đánh gục nước Mỹ rồi trở thành siêu cương thống trị thế giới. Đúng là giấc mơ hão huyền, không tưởng.

Còn “không thể tưởng tượng được” (unbelievable,unimaginable) có nghĩa là chuyện đã xảy ra nhưng ngoài dự liệu, ước mơ hay tiên đoán của mình. Thí dụ:
 “Thật không thể tưởng tượng được một em bé sáu tuổi có thể nhảy xuống nước cứu người chị sắp chết đuối.” “Thật không thể tưởng tượng được một vị sư ở Ấn Độ nhịn ăn sáu tháng mà vẫn khỏe mạnh.”
“Thật không thể tưởng tượng được đội Đức hạ đội Ba Tây 5-1 trong trận chung kết 2014.”

Do đó, hai tiêu đề trên chính ra phải viết như sau: 
“Danh thủ Barca khiêm tốn mừng chiến thắng mà chính anh cũng không ngờ”
“Chiến thắng không thể tưởng tượng nổi của đội bóng Chelsea”

Tóm lại người viết tiêu đề này hoàn toàn không phân biệt được nghĩa của hai chữ “không tưởng” và “không thể tưởng tượng nổi” nhưng lại cố “sáng chế”, làm ra vẻ rành tiếng Việt lắm nhưng thực tế trái ngược.

-“Cuộc đua xe đạp Xuyên Việt 2014 Cúp Quân Đội diễn ra đầy kịch tính.” Đọc tiêu đề này tôi có cảm tưởng cuộc đua diễn ra một cách tếu và hài hước như trên sân khấu. Nhưng khi đọc kỹ nội dung thì thấy cuộc đua đã diễn ra sôi nổi, nhiều màn bứt phá, bám đuổi với kết quả thật bất ngờ…nhưng đã được ông phóng viên nào đó phang cho một câu “đầy kịch tính” giống như chuyện đùa ở trên sân khấu.

-“Trận bóng đá giữa Than Quảng Ninh và Đồng Tháp diễn ra đầy kịch tính.” Là người mê đá bóng từ nhỏ, tôi thật sự không hiểu một trận đá banh đầy kịch tính là trận đá banh như thế nào? Phải chăng đó là một trận đấu đầy diễu cợt, trình diễn lộ liễu, có pha chút khôi hài, tếu nữa? Chẳng hạn như thủ môn nhào ra bắt bóng nhưng thực tế chỉ là biểu diễn và cố tình để bóng lọt lưới? Hoặc hàng hậu vệ cố tình đốn ngã trái phép một cầu thủ đối phương trong vòng cấm địa dù bóng không có gì nguy hiểm để phải chịu phạt đền… rồi nhe răng cười? Hoặc hàng hậu vệ đứng nhìn không chịu truy cản đối phương để họ dẫn bóng khơi khơi và ghi bàn? Nếu đúng thế thì đây là một trận đấu có sắp xếp trước giống như kiểu bán độ chứ làm gì có “kịch tính”? Do đó tiêu đề đúng đắn nhất nên là, “Trận đấu giữa Than Quảng Ninh và Đồng Tháp giống như được dàn xếp trước.” hoặc: “Quảng Ninh- Đồng Tháp: Một trận cầu hết sức lạ lùng.“ Hiện nay tại Việt Nam bất cứ sự kiện thể thao nào có cái gì là lạ như quá hào hứng, thắng đậm, thua đau, nhiều màn đi bóng hấp dẫn đều được “phang” cho một câu “ đầy kịch tính”. Đúng là một sự “sáng tạo” chữ nghĩa vô cùng bừa bãi. Xin hãy đọc:
-Solo và Bolero đêm chung kết 4 đầy kịch tính.
-Đua xe đầy kịch tính theo phong cách ‘Fast &Furious’.
-Hai vụ bắt cóc con tin đầy kịch tính đang diễn ra tại  Pháp. (Nếu người Pháp đọc được bản tin này chắc họ sẽ vô cùng phẫn nộ vì đã diễu cợt nỗi đau của họ)
-Giá vàng kịch tính ngay những ngày đầu năm mới. (Tôi thật sự không hiểu giá vàng lên xuống có kịch tính hay không? Giá vàng lên-xuống cũng giống như thị trường chứng khoán, thời tiết - sáng nắng chiều mưa, làm sao tiên đoán được và làm sao có kịch tính? Các cụ ngày xưa nói không sai, “Đã dốt thường hay nói chữ.”
-“Mặt mộc mới nhất của sao Việt.” Thật không thể tưởng tượng nổi là người ta có thể gọi mặt cô gái chưa trang điểm là “mặt mộc”. Đồng ý “gỗ mộc” là gỗ chưa sơn phết gì cả. Nhưng khi ứng dụng cho con người cũng cần phải nên ý nhị. Tại sao lại không thể nói, “Da mặt chưa trang điểm/da mặt tự nhiên của cô A, cô B…”
-“Soi da xấu-đẹp của kiển nữ Hàn khi để mặt mộc.” Ngoài vấn nạn “mặt mộc”, trong nước bây giờ, khi chú ý đến người nào, phân tích , tìm hiểu chuyện gì, đồ vật gì…cũng đều dùng chữ “soi’ hay ‘săm soi’ ”. Chẳng hạn  như “Săm soi chuyên cơ của Tổng Thống Obama.” Đây là một loại Việt ngữ thật quái đản. Tại sao không nói, “Thử ngắm nhìn làn da của các kiểu nữ Đại Hàn khi chưa trang điểm.” hoặc, “Tìm hiểu phi cơ riêng của Tổng Thống Obama.” hoặc “Phi cơ riêng của Tổng Thống Obama có gì đặc biệt?” Hai chữ “săm soi” làm người ta liên tưởng tới một người cầm cái que chọc chọc vào đâu đó. Còn chữ “soi” làm chúng ta liên tưởng tới một người cầm chiếc đèn pin chiếu vào mặt người ta.
-“2 bé trai sành điệu ăn mặc cực ngầu gây sốt.” Chữ “ngầu” là tiếng lóng ý chỉ “đẹp,bảnh bao” chỉ nên xử dụng trong lúc nói chuyện thân tình, riêng tư. Còn khi phổ biến trên báo chí là thiếu nghiêm túc.
-“Lác mắt xem người Nhật gói quà đẹp từng chi tiết.” Hai chữ “lác mắt” là ngôn ngữ “hơi thấp”. Một cách đứng đắn và lịch sự, nên viết, “Ngạc nhiên trước nghệ thuật gói quà đẹp, tỉ mỉ của người Nhật.”
-“Phát cuồng siêu xe sang chảnh tựa ngôi nhà di động.” Tôi tự hỏi không biết câu văn này có phải là tiếng Việt hay không? Đây là một tiêu đề quái dị, xử dụng ngôn từ “đường phố” văn bất thành cú.
-“Để sở hữu eo thon.” Tức cười thật! “Để có eo thon” vừa giản dị, vừa thuần tiếng Việt không chịu nói, lại chen vào hai chữ “sở hữu” để chứng tỏ ta đây giỏi chữ Nho. Đúng là lối viết rởm đời. Ngoài ra lại còn “mục sở thị “ nữa chớ! “Chính mắt nhìn/tận mắt nhìn” không chịu nói, lại bắt chước tiếng Tàu lạ hoắc!
-“Công an phát hiện trên xe có một cá thể hổ đã chết.” Trời đất quỷ thần ơi! Một con hổ không chịu nói mà lại nói “một cá thể hổ”. Đúng là loại tiếng Việt điên khùng. Nếu loại tiếng Việt điên khùng này phổ biến rộng rãi thì sẽ có loại ngôn ngữ như sau:
-Mẹ tôi vừa đi chợ mua một cá thể gà.
-Nhà tôi hôm qua mới ăn một cá thể cá.
-Bữa tiệc thật linh đình, có tới cả chục cá thể heo quay.
- “Sân Long An bùng nổ, hơn 10.000 vé bị thổi bay”: Ý của người viết muốn nói, sân vận động Long An như muốn nổ tung. Mười ngàn vé bán hết trong chớp nhoáng. Nhưng khi dùng chữ “bị thổi bay” khiến người đọc có cảm tưởng 10,000 tấm vé bị ai lấy cắp. Chữ “thổi” trong chốn giang hồ là “ăn cắp”, chẳng hạn bọn trộm cắp nói chuyện với nhau, “Tao vừa “thổi” được một chiếc xế hộp” tức “Tao vừa ăn cắp được một chiếc xe đắt tiền.”
-“Top quán lẩu, nướng vỉa hè giới trẻ Hà Nội thích nhất”. Tôi đố các bạn hiểu câu văn chen tiếng Mỹ ” ba rọi”, lủng củng và trình độ rất thấp này. Một cách rõ nghĩa và đứng đắn, tiêu đề nên viết, “Giới trẻ Hà Nôi ưa chuộng lẩu, thịt nướng vỉa hè.”
-“Món ngon Đà Nẵng tại Hà Nội, quán nào ổn?”. “Ổn” ở đây là ổn định, xong rồi hay cũng khá ngon? Không ai hiểu nổi câu văn bí hiểm này.
-“Toàn cảnh Sapa tuyết rơi lãng mạn qua ống kính dân phượt”. Tuyết, hoặc phong cảnh không thể “lãng mạn”. Lãng mạn là tình cảm ướt át của trai gái. Nhưng cảnh tuyết rơi có thể “gợi cảm” cho người ngắm, nhiếp ảnh gia…Ngoài ra giọng văn đang có không khí “lãng mạn” nhưng tác giả lại thêm vào chữ “phượt” làm người đọc cụt hứng. Chúng ta có thể góp ý với tác giả với vài câu như sau:
-Tuyết Sapa vô cùng gợi cảm trước ống kinh của lãng tử.
-Tuyết rơi êm đềm trên đỉnh Sapa.
-Tuyết Sapa làm tâm hồn du lịch trở nên lãng mạn.
-“Thay mới vũ khí trên tuần dương hạm hạt nhân Nakhimov”. Thay vì viết, “Thay vũ khí mới trên tuần dương hạm Nakhimov”. Hiện nay, do dịch thuật từ báo chí ngoại quốc, trong nước đã xuất hiện loại tiếng Việt “đổi đời” phá hủy ngôn ngữ truyền thống Việt như: “Nga vừa đóng mới bốn tàu ngầm”, “xây mới mấy căn hộ”.  Đúng văn phạm phải viết, “Nga vừa đóng thêm bốn tàu ngầm” và “Vừa xây thêm mấy căn nhà.” Viết như thế đương nhiên người đọc hiểu là đóng thêm tàu chiến mới, xây thêm căn nhà mới rồi. Xin nhớ cho, xây thêm hoặc đóng thêm đương nhiên là nhà mới, tàu mới. Không ai đóng tàu cũ, xây thêm nhà cũ cả. Do đó, thêm chữ “mới” là thừa. Tuy nhiên câu văn dưới đây, chữ “mới” không có nghĩa là “mới hay cũ” mà là “vừa mới”, ý chỉ thời gian. Thí dụ: “Mẹ mới mua cho anh em chúng tôi mấy bộ quần áo.”
-“Ngỡ ngàng với cô gái bán kẹo hát hay hơn ca sĩ,” Ngỡ ngàng là tình cảm rất bất ngờ, không ưng ý, không đúng như dự đoán hay ước vọng của mình. Thí dụ: “Sau 25 năm xa cách, từ Mỹ trở về, tôi thật ngỡ ngàng không nhận ra cô nữ sinh khả ái năm xưa nay trở thành một bà già tiều tụy.” hay, “Tôi thật ngỡ ngàng và xấu hổ khi cô ta tự xưng là á hậu nhưng mở miệng nói ra toàn tiếng lóng và ngôn ngữ thô tục “. (Vì tôi cứ ngỡ rằng cô ta đẹp đẽ như thế thì lời ăn tiếng nói phải lễ độ và lịch sự)

Còn ở đây, thấy một cô gái bán kẹo mà hát hay hơn ca sĩ, chúng ta ngạc nhiên hoặc thích thú- tự hỏi sao có chuyện lạ như vậy chứ chẳng “ngỡ ngàng” gì cả. Xin tác giả bài này đọc thêm các tiểu thuyết giá trị của Việt Nam hoặc kiếm thày/cô dạy Việt Ngữ hỏi, lúc đó sẽ hiểu rõ nghĩa của hai chữ “ngỡ ngàng”.

Ngoài ra, trong nước bây giờ, để kiếm sống, các tờ báo thường xuyên cho đăng những hình ảnh quảng cáo cho các cô người mẫu, hoa hậu với những lời chú thích rất ngây ngô hoặc rẻ tiền như: đẹp hút hồn, đẹp ngỡ ngàng, đẹp khó cưỡng, đẹp gây sốt…Qua văn chương, báo chí, tôi đã từng học, từng biết về những vẻ đẹp như: đẹp mê hồn, đẹp não nùng, đẹp liêu trai, đẹp quyến rũ, đẹp yêu kiều, đẹp lả lơi, đẹp hấp dẫn, đẹp chết người, đẹp như chim sa cá lặn, đẹp như tiên nga giáng thế, đẹp như tiên, đẹp khuynh quốc khuynh thành (sau khôi hài thành đổ nước nghiêng thùng), đẹp như Tây Thi, đẹp kiêu sa, đẹp lộng lẫy, đẹp quý phái, đẹp thiên kiều bá mỵ, đẹp mặn mà, đẹp phúc hậu, đẹp thanh tao, đẹp tự nhiên, đẹp ngây thơ, đẹp mảnh mai, đẹp như búp-bê…nhưng chưa thấy…đẹp hút hồn, đẹp khó cưỡng, đẹp gây sốt, đẹp ngỡ ngàng. Có thể tại Việt Nam bây giờ có những cô gái “đẹp kinh khủng” như  thế mà thế giới chưa biết chăng? Bạn nào gặp một cô gái có vẻ đẹp”gây sốt” chắc về nhà phải uống Aspirin hay Tylenol. Còn bạn nào gặp một cô có vẻ “đẹp khó cưỡng” chắc vào tù quá?

Tạm Kết Luận:
Chiến tranh đã qua rồi 40 năm. Đây là thời kỳ xây dựng con người, xây dựng tình cảm và xây dựng đất nước. Xin bỏ lại sau lưng tất cả những ngôn ngữ của thời kỳ chiến tranh. Chiến tranh nặng về tuyên truyền, căm thù, tranh thắng mà ngôn ngữ là khí cụ cho nên ngôn ngữ bị biến dạng. Thời bình không cần những loại ngôn ngữ đó nữa mà cần nhân ái, giản dị, hiền hòa, dễ hiểu, cảm thông, xây dựng. Xin đừng kéo lê những di sản nhức nhối của quá khứ để truyền cho những thế hệ mai sau.

Âm thanh hòa lòng người. Ngày xưa Khổng Tử đi qua nước Trần thấy âm nhạc nước này ủy mị quá ngài than chắc nước này diệt vong quá. Quả nhiên nước Trần sau bị xóa tên trên bản đồ. Âm nhạc, tiếng nói biểu hiện lòng người. Chẳng hạn như tại Iraq, Afghanistan, Ukraina, Yemen, Nigeria, Lybia bây giờ chắc chắn âm thanh sát phạt và nặng mùi tử khí. Âm nhạc kích động biểu hiện một xã hội cuồng loạn dễ đi tới cực đoan, quá khích. Âm nhạc hiền hòa là dấu hiệu của một xã hội êm đềm “Trăm họ âu ca”. Ngôn ngữ hiền hòa, lễ độ thể hiện một xã hội an lành, mọi người thương yêu tin tưởng nhau. Ngôn ngữ tràn đầy tiếng lóng và “đường phố” biểu hiện một xã hội bất ổn, mánh mung.

Ngoài ra, ngôn ngữ còn phản ảnh trình độ giáo dục của con người. Còn văn chương, chữ nghĩa lại phản ảnh trình độ văn học của một quốc gia. Khi một đất nước tiến lên không phải chỉ nhà chọc trời, xa lộ, cầu cống, đập thủy điện, các khu thương xá lộng lẫy, truyền hình, phim ảnh, thi hoa hậu, người mẫu, thời trang, đá bóng, son phấn, ipad, iphone, ăn mặc giống Mỹ là đủ…mà cần cử chỉ, cách đối xử với nhau, với người ngoại quốc và nhất là cách ăn nói sao cho lễ phép, nhã nhặn. Tôi cho rằng muốn có một sự thống nhất về mặt ngôn ngữ cho Việt Nam thì phải làm sao tổng hợp được nét văn chương, ý nhị, bóng bẩy của Miền Bắc với tính giản dị, trong sáng, dễ hiểu của Miền Nam. 

Người Miền Bắc do đồng bằng nhỏ hẹp kinh tế khó khăn cho nên trong quá khứ hễ có một tí của thì  khoe khoang và thường hay ngoa ngôn, cường điệu và tính tình cay nghiệt. Còn người Miền Nam, do thiên nhiên ưu đãi, ruộng lúa bạt ngàn, cây trái đầy vườn cho nên tính tình cởi mở, hiền hòa, giản dị, chân chất…và không ưa kiểu nói dóc, một tấc lên trời hoặc viết hay nói theo kiểu “khó khăn” nhức đầu nhức óc.

Văn chương và ngôn ngữ là di sản do tổ tiên đề lại, là con cháu chúng ta phải chung lưng xây đắp sao cho mỗi ngày mỗi phong phú và sáng đẹp. Do đó, tôi xin tất cả những người đang cầm bút, đánh máy (trên máy điện tử) để truyền đi những bản tin hay viết một đề mục quảng cáo, bài bình luận hãy hết sức thận trọng.

Muốn viết giỏi, ngoài năng khiếu còn phải đọc sách thêm rất nhiều. Nếu chưa tin vào trình độ Việt Ngữ của mình thì nên ghi danh theo học các lớp văn chương Việt Nam ở các đại học hoặc tham khảo các tác phẩm văn chương lớn như Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, các tác phẩm văn học của Cao Bá Quát, Hàn Thuyên, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bình Khiêm, Ngô Gia Văn Phái… các tiểu thuyết của Thời Tiền Chiến, các cuốn biên khảo về lịch sử, triết học, xã hội học, tôn giáo, luật học…không ngoài mục đích trang bị cho mình thêm kiến thức hầu cống hiến cho độc giả những bài viết, bài bình luận, bản tin vừa hài lòng người đọc vừa làm mẫu mực cho các thế hệ mai sau. Đó chính là gia tài văn hóa quý báu của một quốc gia. Mong lắm thay!

Đào Văn Bình 
(California ngày 14 Tháng 1, 2015)

Khai Dân TríĐào Văn Bình