Showing posts with label Đặng Huy Văn. Show all posts
Showing posts with label Đặng Huy Văn. Show all posts

2014/08/28

ƯỚC SAO TRĂNG MỸ THÀNH TRĂNG NƯỚC MÌNH!

Đặng Huy Văn: Tôi đã được sinh ra, lớn lên, đi học và làm việc cho đến lúc nghỉ hưu trong một xã hội mà ngày đêm bị người ta nhồi sọ “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng Mỹ”(1), nên nhiều quan niệm tương tự như thế tự nhiên đã hằn sâu trong tiềm thức. Đột nhiên cuối năm 2013, bà Phan Thị Diễm Hạnh một người bạn gái cùng quê thời thơ ấu của tôi từ Mỹ trở về đã làm tôi thay đổi. Như tôi đã tâm sự trong bài viết “Chào Năm Mới 2014 và em đã về trên quê hương yêu dấu” trên Đặng Huy Văn Blog(2), ba ruột của bà ấy là một cán bộ kháng chiến rất tốt của quê tôi đã bị đội Giảm Tô và CCRĐ xử tử hình cuối năm 1954. Sau vụ xử bắn oan nghiệt đó, má và hai chị em của bà ấy đã được “Chúa Trời” đón đi di cư vào Nam. Sau ngày 30/4/1975 gia đình của bà ấy lại một lần nữa được nước Mỹ cưu mang để gần 60 năm sau còn sống trở lại quê hương tìm tôi. Cuộc đời lận đận của người bạn gái thuở thiếu thời đó đã làm tôi hoàn toàn tỉnh thức.

Nhân dịp Tết Trung Thu 2014, tôi xin phép được nhắc lại đây một kỷ niệm giữa bà Diễm Hạnh và tôi về một Tết Trung Thu đã xẩy ra trên quê hương cách đây tròn 60 năm. Đó là lần tôi và Diễm Hạnh được mẹ tôi dẫn lên Chùa Tịnh Tâm của quê hương để đón Tết Trung Thu 1954 cùng với con cháu của các Phật tử nhà Chùa. Lần đó, dưới ánh trăng vàng thiêng liêng của đêm rằm tháng 8 năm Giáp Ngọ, hai đứa trẻ ngây thơ chúng tôi đã thề nguyện sẽ suốt đời không rời xa nhau. Vậy mà chỉ hơn ba tháng sau, bà ấy đã phải cùng má và em trai mình trốn di cư vào Nam để bảo toàn mạng sống sau cái chết tức tưởi của ba ruột mình và chúng tôi đã biệt tin nhau từ đó. Đầu năm 2014, bà Diễm Hạnh đã trở về quê có ý tìm tôi nhưng vì tôi về trễ một ngày sau khi bà ấy đã bay về Mỹ trước thời hạn vì có việc gia đình đột xuất. Tôi chưa từng sang Trung Quốc và cũng chưa một lần đến Mỹ nên không biết trăng Trung Quốc có tròn hơn trăng Mỹ không, nhưng việc nước Mỹ đã cưu mang bạn tôi qua những lần hoạn nạn đã làm tôi thực sự thích trăng Mỹ.

ƯỚC SAO TRĂNG MỸ THÀNH TRĂNG NƯỚC MÌNH!
(Viết tặng Diễm Hạnh, một người bạn gái thuở thiếu thời)

Bao giờ cho đến ngày xưa?
Để anh đưa Diễm lên Chùa Tịnh Tâm
Ngắm trăng thu giữa đêm rằm
Cầm tay hẹn ước trăm năm không rời!

Ngờ đâu góc bể chân trời
Biệt ly đôi ngả sáu mươi năm ròng
Tiễn em một tối mùa đông
Trời mưa rả rích khiến lòng đớn đau
Sáu mươi năm biệt tin nhau
Bỗng em về Tết vào đầu năm nay
Tưởng rằng tay lại cầm tay
Nào ngờ về tới, em bay đi rồi!

Cách xa nhau nửa vòng trời
Trăng rằm ngày Mỹ sáng ngời đêm Nam
Phải chi chung một chị Hằng?
Trăng Thu nước Mỹ cũng trăng sân Chùa
Của thời hai trẻ ngây thơ
Cầm tay cầu nguyện hẹn hò dưới trăng
Trung Thu nay ngắm chị Hằng
Ước sao trăng Mỹ thành trăng nước mình!

Để không còn lũ hôi tanh
Độc tài giày xéo dân lành Việt Nam
Nối đời vua lú, quan tham
Ôm chân Trung cộng xâm lăng truyền đời
Cứu Tàu chống Mỹ một thời
Nồi da xáo thịt triệu người chết oan
Bánh Trung Thu máu ngập tràn
Đèn Ông Sao nát cùng đàn trẻ thơ!
 
Trăm năm ai tỏ chữ ngờ
Diễm ơi em hãy đợi chờ phút giây
Trăng bên kia sáng bên này
Bồi hồi tay lại cầm tay lên Chùa!

 
Hà Nội, 28/8/2014
Đặng Huy Văn
 
CHÚ THÍCH:
 
(1), “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng Mỹ” là một câu thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Việt Phương.
(2). http://danghuyvan.blogspot.com/2013/12/chao-nam-moi-2014-va-em-ve-tren-que.html

Khai Dân TríĐặng Huy Văn

2014/08/04

CÂU KIỀU XƯA CỦA NGUYỄN DU XÉ LÒNG!

Đặng Huy Văn: Nhân ngày Lễ Vu Lan, Rằm Tháng Bảy năm Giáp Ngọ này, tôi bỗng nhớ tới một kỷ niệm đặc biệt về mẹ tôi mà cho đến lúc phải rời khỏi thế giới này, tôi cũng sẽ không thể nào quên được. Đó là một câu chuyện buồn đã xẩy ra với gia đình chúng tôi cách đây hơn 60 năm. Cuối năm 1954, mẹ tôi bị đội CCRĐ quy là địa chủ. Trong khi đó, cha tôi là một đảng viên 1930, đã bị Pháp bắt tù giam 5 năm tại các nhà tù Kon tum và Ban mê thuột. Trong cuộc kháng chiến 9 năm, người thoát ly gia đình làm việc tại tỉnh Thanh Hóa, thời gian 1954-1956 người bị khai trừ khỏi đảng CS VN vì ông nội tôi bị quy là địa chủ phản động nên cha tôi đã bị bắt đi làm việc cưỡng bức tại Vĩnh Linh, bờ bắc sông Bến Hải. 

Tháng 12 năm 1954, gia tài mẹ tôi bị đội CCRĐ tịch thu nên chúng tôi gồm mẹ và 5 anh em trai chúng tôi chỉ biết nằm chờ chết đói. Vào một buổi sáng sớm mùa đông giá lạnh, bất ngờ anh Hai tôi phát hiện mẹ tôi đã treo cổ tự tử. Vì thấy chân bà còn nóng nên chúng tôi đã hạ bà xuống đốt lửa sưởi, hô hấp nhân tạo và thắp nhang cầu cúng trời đất. Không biết do mẹ tôi chưa chết hẳn hay do cầu cúng trời đất mà bà đã sống trở lại. Sau đó mẹ tôi nói, bà đã định tự tử để đội CCRĐ trả lại khoai sắn cho gia đình tôi, mong anh em chúng tôi khỏi bị chết đói để còn đợi ngày gặp lại cha tôi cho đến khi người được trở vê. 

Sau lần đó, 5 anh em tôi dắt díu nhau đi ăn xin rồi đi ở chăn trâu để khỏi bị chết đói. Mẹ tôi thì sống được thêm 52 năm nữa và đã qua đời năm 2007.  Nhưng ông bà nội của chúng tôi thì đều đã bị chết đói năm 1955, chỉ một khoảng thời gian sau đó!

CÂU KIỀU XƯA CỦA NGUYỄN DU XÉ LÒNG!
(Kính viếng hương hồn mẹ thân yêu nhân dịp Lễ Vu Lan)

Đêm đêm nghe tiếng mẹ ru
Câu Kiều xưa của Nguyễn Du xé lòng!(*)
Nhiều ngày gạo hết, khoai không
Em thơ khát sữa đêm đông nối dài!
Đớn đau thay một sáng mai
Nhìn ra thây mẹ treo ngoài mái hiên
Chúng con hoảng hốt gào lên
Cắt dây hạ mẹ xuống nền nhà ngang
Anh con đốt lửa vội vàng
Hà hơi thổi ngạt thắp nhang khấn trời
Mẹ mau sống lại mẹ ơi!
5 con thơ dại ai người dưỡng nuôi?

Phải chăng lời khấn thấu trời?
Mà dần mẹ đã phục hồi nhịp tim
Mẹ huơ tay như kiếm tìm
Đứa em út vẫn ngồi bên mẹ gào
Nhìn 5 con nước mắt trào 
Mẹ rằng vì chẳng thể nào dưỡng nuôi
Thà là mẹ chết đi rồi
Đội Cải Cách sẽ không đòi tịch thu
Để đàn con dại ngây thơ
Còn khoai, còn gạo sống chờ đợi ba!
Bây giờ mẹ đã đi xa
Nhắc về chuyện cũ để mà nhớ thôi

Tảo tần lăn lộn một đời
5 con dần lớn mẹ nuôi đến trường
Chiến tranh tàn phá quê hương
Em Tư nhập ngũ sa trường xả thân
Mẹ đớn đau ngất mấy lần
Bởi em còn cả tuổi xuân huy hoàng!
4 con học lực giỏi giang 
Đều vào đại học rời làng xa quê
Mỗi lần có dịp quay về
Nhìn đôi vai mẹ tái tê cõi lòng
Dù qua trăm núi nghìn sông
Làm sao quên được tấm lòng mẹ thương?

Nhớ Kiều xưa lúc đoạn trường
Liều thân mà vẫn còn vương tình người
Cao sang còn có mệnh trời
Phải đâu cướp được của người mà sang?
Chúng dù nhờ cả ngoại bang
Kéo về tàn phá xã làng xác xơ
Theo chân Trung cộng, Nga Xô
Tiến hành cải cách họ Hồ giết dân!
Bắn oan hàng vạn thân nhân
Những người kháng chiến 9 năm lẫy lừng!

Có lần mắt mẹ rưng rưng
Nhớ thương ông nội đã từng chết oan
Ông nào theo giặc làm quan
Chỉ theo Đề Thám, Cụ Phan suốt đời
Vậy mà cải cách vu Người
Theo Quốc Dân Đảng một thời giết dân!
Mẹ rằng sống phải có nhân
Phải yêu đất nước, quên thân vì người
Đừng theo Tàu cộng đười ươi
Dâng dần biển đảo, đất trời núi sông!
Lễ Vu Lan viếng mộ ông
Con dâng giùm mẹ một vòng hoa tươi!

Nay không còn mẹ trên đời
Con thề mãi mãi nhớ lời mẹ răn!


Hà Nội, 4/8/2014
Đặng Huy Văn 


(*). Câu Kiều xưa của Nguyễn Du xé lòng:

“Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh
“Rụng rời khung dệt, tan tành gối mai
“Đồ tế nhuyễn, của riêng tây
“Sạch sành vét cho đầy túi tham!”

Khai Dân TríĐặng Huy Văn

2014/08/02

CÙNG SỐ PHẬN CÁC ANH HÙNG HẢI CHIẾN

Đặng Huy Văn: Tôi có quen một người phụ nữ nhà ở ngay gần khu đô thị Ecopark, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Nhà bà ấy chỉ có hai mẹ con vì người chồng đã bị giặc Tàu bắn chết vào sáng sớm ngày 17/2/1979 tại vùng biên giới Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng trong cuộc chiến tranh Biên Giới do giặc Tàu phát động để xâm lược Việt Nam. Cô con gái của bà năm nay 35 tuổi, đã có chồng con nhưng hiện giờ cũng đã phải dọn về ở với mẹ vì nhà đất của gia đình cô ấy đã bị giải phóng mặt bằng để xây dựng khu đô thị “Thiên Đường Ecopark” của bè lũ tư bản đỏ. Bà ấy đã buồn rầu kể cho tôi nghe về những năm tháng mẹ con bà đã lên Hạ Lang, Cao Bằng tìm mộ chồng, mộ cha mà cho đến nay vẫn còn trong vô vọng.

Nhân tháng cô hồn năm nay, tôi xin được viết lại bằng văn vần nỗi buồn của một người vợ liệt sĩ đại diện cho những thân nhân liệt sĩ chống Tàu tháng 2 năm 1979. Bởi hình như sau Hội Nghị Thành Đô 1990, đảng CS VN đã không còn coi chồng, cha của họ là những liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ Quốc VN nữa! Than ôi! Hỏi trên đất nước Việt Nam mình giờ đây đang còn bao nhiêu những số phận chịu oan khuất như vậy?

CÙNG SỐ PHẬN CÁC ANH HÙNG HẢI CHIẾN
(Viết theo lời kể của một người vợ liệt sĩ chống Tàu)

Đã nhiều năm em cùng con tìm mộ
Của anh yêu khắp biên ải Hạ Lang
Theo đồng đội xác anh vùi lưng núi
Giặc tới nhanh nên lấp đất vội vàng!

Đó là sáng tháng hai, ngày mười bảy
Năm một nghìn chín bảy chin, anh ơi
Ngày đó em đang mang bầu con gái
Nhận được tin em đau đớn rụng rời!

Đầu 89, khi chiến tranh Biên Giới
Đã kết thúc sau dai dẳng mười năm
Con gái nhỏ đã lên mười một tuổi
Đòi đi theo tìm nấm đất anh nằm!

Qua Hòa An, rồi ngược Đèo Mã Phục
Về Phục Hòa ra hẻm núi Hạ Lang
Em phải địu con sau lưng, trước ngực
Lội trèo qua bao sông núi Cao Bằng

Nửa tháng trời kiếm tìm không thấy mộ
Nhiều nghĩa trang vôi trắng đã ngã màu
Đêm nằm em khóc cùng con gái nhỏ
Xác ba con nay quy tập về đâu? 

Sau chín mươi, năm nào em cũng tới
Các nghĩa trang Biên Giới để kiếm tìm
Nghĩa trang nào cũng mọc đầy cỏ dại
Mồ xác xơ ngập màu tím hoa sim!

Nhiều năm sau người ta còn cấm viếng
Nghe nói vì từ Hội Nghị Thành Đô(1)
Đảng đã coi những anh hùng liệt sĩ
Đánh Trung Quốc là những kẻ tội đồ!

Bởi các anh đã làm phai tình bạn
Bao nhiêu năm giữa hai “bác” Mao, Hồ
Nên dù anh liệt sĩ nhưng đâu có
Ưu tiên gì khi con gái còn thơ!

Đầu năm rồi em cùng con lên núi
Các nghĩa trang giờ đã bỏ tan hoang
Mộ người còn, người dời đi lỗ chỗ
Cổng vào treo biển cấm viếng nghĩa trang!

Và năm nay tháng cô hồn lại tới
Mẹ con em mang áo mũ hương vàng  
Lên Hạ Lang thắp nén nhang trên núi
Viếng cô hồn những người lính tha hương!

Cùng số phận các anh hùng Hải Chiến
Tết Giáp Dần ngã xuống giữa Hoàng Sa(2)
Hồn các anh sẽ ngàn đời bất diệt
Như anh linh Trung Tá Ngụy Văn Thà!

Xin nguyện cầu các anh hùng bất tử
Đã góp sức cùng dân tộc chống Tàu
Sẽ mãi mãi trường tồn cùng Tổ Quốc
Quyết giữ gìn nước Việt tới nghìn sau!


Hà Nội, 2/8/2014
Đặng Huy Văn 


(1). Hội Nghị Thành Đô 1990 là cuộc gặp gỡ đầy bí ẩn giữa TBT Nguyễn Văn Linh, chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng của Việt Nam với TBT đảng CS TQ Giang Trạch Dân, thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng để bàn về việc bình thường hóa quan hệ giữa Đảng CS Việt Nam và Đảng CS Trung Quốc. Nội dung của cuộc Hội Nghị Thành Đô 1990 cho đến nay vẫn còn chưa được tiết lộ. 

Theo một tài liệu không chính thức từ TC2 bộ Quốc Phòng Việt Nam vừa bị rò rỉ, thì Hội Nghị Thành Đô 1990 đã bàn về việc nước ta sẽ sáp nhập vào Trung Quốc qua 3 giai đoạn tại các thời điểm 2020, 2040 và 2060! Nếu không đúng như vậy thì tại sao cho đến hiện tại, đảng CS Việt Nam vẫn còn giữ những thỏa thuận của Hội Nghị Thành Đô 1990 trong vòng bí mật?

Tin động trời: Hội nghị Thành Đô đã quyết định VN thành ...
nguoivietdiendan.com/.../Tin-dong-troi-Hoi-nghi-Thanh-Do-da-quyet-di.


(2). Hải Chiến Hoàng Sa là cuộc chiến đẫm máu giữa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quyết liệt chống trả lực lượng hải quân đông gấp bội của Trung cộng tiến vào xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19/1/1974. Kết quả, quân ta đã bắn chìm hai chiến hạm và tiêu diệt nhiều lính giặc. Nhưng do quá chênh lệch về lực lượng, cuối cùng Trung Tá Ngụy Văn Thà, Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 cùng 73 người lính Việt Nam Cộng Hòa khác đã anh dũng hy sinh cùng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo. Kể từ đó, Trung Quốc đã cưỡng chiếm toàn bộ quàn đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà phia chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc bấy giờ đã không hề có công hàm phản đối!

Khai Dân TríĐặng Huy Văn

2014/07/27

ƠI NGƯỜI BẠN TUỔI THẦN TIÊN YÊU DẤU!

Đặng Huy Văn: Tình cờ tôi và Võ Thị Tần, một trong “mười cô gái Đồng Lộc” năm xưa, đã từng là bạn thiếu thời của nhau. Cuối năm 1954, gia đình tôi bị quy là địa chủ, nhà bị tịch thu không còn gì để ăn nên mẹ tôi đã gửi tôi về quê ngoại đi ở chăn trâu để khỏi chết đói. Tại dó, tôi đã được một người bạn gái láng giềng cùng tuổi tên là Võ Thị Tần đã hết lòng giúp đỡ. Nhưng sau CCRĐ, tôi được trở về quê nội cách đó 30 km để vừa đi ở vừa đi học nên chúng tôi đã xa nhau từ đó. Mặc dù cách xa, nhưng tôi vẫn không thể nào quên được tấm lòng của cô bé tốt bụng đó, người đã từng thương yêu và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi phải đi ở chăn trâu bên quê ngoại. Đặc biệt, có một lần Võ Thị Tần đã liều mình cứu tôi khỏi chết đuối khi tôi bị mấy đứa trẻ con nhà nông dân đánh và xô tôi ngã xuống một vực sâu chỉ vì tôi là con địa chủ.

Năm 1968, khi tôi đang học tại Khoa Toán trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội thì biết tin Võ Thị Tần cùng chín đồng đội của mình đã hi sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc vì bom Mỹ qua báo đài. Chính từ ngày đó, mọi ký ức tuổi thơ của tôi về Võ Thị Tần đã in đậm trong trái tim tôi mãi mãi!

Mỗi lần về quê qua Ngã Ba Đồng Lộc, tôi đều thắp hương khấn khứa trước mộ Võ Thị Tần cùng chin đồng đội của cô ấy và luôn mong ước “Mười Vong” của “mười cô gái Đồng Lộc” đó sẽ được quy về Chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh, ngay tại quê ngoại xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh của chúng tôi vì các cô ấy xứng đáng được vãng sanh nơi Cõi Phật. Theo tôi, mười cô gái ấy đã bị chết oan, đã bị hi sinh thân mình cho sự nghiệp của bè lũ thân Tàu bán nước, để ngày nay, chính chúng lại đang rắp tâm rước giặc Tàu vào xâm lược nước ta, cướp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của chúng ta! Trong khi đó, khu tưởng niệm “mười cô gái Đồng Lộc” ngày nay đã và đang dần trở thành một “khu chợ” để mua quan, bán tước của các hậu duệ Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống thời hiện đại.

ƠI NGƯỜI BẠN TUỔI THẦN TIÊN YÊU DẤU!
(Viết tặng vong linh Võ Thị Tần và chín cô gái Đồng Lộc)
 
Đứng bên mộ, anh thì thầm khấn khứa
“Văn còi” đây, Tần ơi nhận ra không?
Bốn sáu năm nằm đây em có nhớ
Thuở còn thơ ta thả nghé trên đồng?

Vào dạo đó hai ta mười một tuổi
Có lần em lên xin oản Chùa Hương(1)
Bởi em biết nhiều ngày anh bị đói
Thấy anh nhai trào nước mắt, em thương!
 
Mẹ địa chủ anh phải về quê ngoại
Ở kiếm cơm bởi nhà bị tịch thu
May gặp em cô láng giềng nhân ái
Em không coi anh như một kẻ thù

Nhớ lần anh bị con nông dân đánh
Mấy đứa xô anh ngã xuống vực sâu
Em liều chết bơi thật nhanh đến cứu
Không có em chắc anh chẳng còn đâu!

Đó là chuyện sáu mươi năm về trước(2)
Khi chúng ta bước vào tuổi thiếu niên
Chắc em thương bởi anh con địa chủ
Còn ngây thơ vì đang tuổi hồn nhiên

Chín năm sau anh đỗ vào đại học
Em ở nhà làm ruộng với mẹ hiền
Rồi chiến tranh em lên đường nhập ngũ
Trái tim hồng vùi đất mẹ vẹn nguyên!

Em hi sinh vào cuối chiều tháng bảy(3)
Giữa Mậu Thân, vừa chẵn bốn sáu năm
Mười cô gái Tần, Cúc, Xuân, Hợi, Rạng…
Nơi Ngã Ba vĩnh viễn đất em nằm!

Mỗi lần về thăm em nơi Đồng Lộc
Võ Thị Tần tuổi hai bốn còn nguyên
Giữa Ngã Ba đêm rằm trăng thao thức
Với tình đầu khắc khoải tuổi thần tiên!

Ai đã giết em cùng bao đồng đội?
Khi tuổi xuân đang phơi phới Tần ơi!
Ai đã gây cảnh nồi da xáo thịt?
Làm hai Miền Nam, Bắc máu xương rơi?

Ai là kẻ đã nghe lời Mao tặc?
Đánh Hoa Kỳ đến người Việt cuối cùng
Và từng bước đón Tàu sang cướp nước
Lừa dân xây “tình hữu nghị Việt-Trung”!

Hỡi những tên hưởng vinh hoa phú quý
Trên máu xương của hàng triệu anh hùng!
Chúng bay xây những đền đài, lăng mộ…
Nhằm vinh danh bọn “đầy tớ”, phải không?

Phải chi bay là Ích Tắc thời đại?
Đang nằm mơ giấc mộng giữ cờ hồng
Vì muốn ôm mãi ngai vàng, phú quý
Mà sẵn sàng hiến biển đảo, núi sông!

Ai đã biến Đồng Lộc thành “khu chợ”
Cho một bầy cơ hội bán mua quan?
Mà không thấu lòng Mười Cô dưới mộ
Thích về Chùa để tắm Suối Giải Oan

Ơi người bạn tuổi thần tiên yêu dấu!
Ước gì anh rước được cả Mười Vong
Của các em quy về Chùa Hương Tích
Để sống đời trong Hồn Núi, Hồn Sông!

Phải đòi lại Hoàng Sa từ Trung cộng
Cứu Trường Sa và giữ trọn Biển Đông
Nhằm quét sạch lũ quan tham bán nước
Cùng nô vong thầy tớ Phạm Văn Đồng!(4)

Xin mười vong về giải oan bên Suối
Và đêm ngày ngồi niệm Phật cầu kinh
Mong đất nước hết ma tà độc đảng
Cho non sông mãi mãi được thái bình!

 
Hà Nội, 27/7/2014
Đặng Huy Văn


CHÚ THÍCH:

(1). Chùa Hương, hay gọi đầy đủ là Chùa Hương Tích, là một ngôi chùa cổ, đẹp trên núi Hồng Lĩnh thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chùa được xây dựng từ Thời Lý Trần thế kỷ 13 là phát tích của Chùa Hương Tích Hà Tây (thời Nhà Lê, thế kỷ thứ 17) ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội ngày nay. Vì trẻ con ngày ngày chăn thả trâu bò dưới chân núi Hồng Lĩnh, nên nếu muốn có thể trèo theo dốc núi lên chùa xin oản hoặc vãn cảnh chùa.

(2). Cuối năm 1954, chiến dịch Giảm Tô rồi Cải cách ruộng đất (CCRĐ) đã xẩy ra tại Hà Tĩnh, khiến hàng vạn gia đình bị quy là địa chủ, bị tịch thu tài sản và chết đói. Ông bà nội tôi đã bị chết đói. Hàng ngàn người vô tội ở tỉnh tôi đã bị xử bắn oan, nhiều người sợ hãi phải tự tử hoặc bị bức tử do đấu tố. Quê ngoại tôi là quê hương của Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đã bị tan nát vì CCRĐ. Bà con bên ngoại của tôi trong đó có cả chú bác cô dì con cháu cụ Võ Liêm Sơn đều bị quy oan, bị bắt tù đày hoặc bị bỏ chết đói. Gia đình Võ Thị Tần, người cùng họ với mẹ tôi, nghèo hơn nên không bị quy là địa chủ.
 
(3). Khoảng 5h chiều ngày 24/7/1968, tiểu đội TNXP Võ Thị Tần gồm mười cô do Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng đã hy sinh vì bom Mỹ trong khi đang san đường tại Ngã Ba Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Tên họ đầy đủ của mười cô gái Đồng Lộc lần lượt là: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hợi, Trần Thị Rạng, Trần Thị Hường, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Xuân, Võ Thị Hà. Trong dó Võ Thị Tần 24 tuổi, là người lớn tuổi nhất.
 
(4). Ngày 14/9/1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng được sự ủy nhiệm của chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một bức công hàm gửi chính phủ Trung Quốc “ghi nhận và tán thành” bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ Trung Quốc đơn phương coi hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) của Việt Nam là một phần của lãnh thổ Trung Quốc.

Khai Dân TríĐặng Huy Văn

2014/07/20

BÁC HỒ LÀ “VỊ ANH HÙNG LƯỠNG QUỐC”

Đặng Huy Văn: Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ 60 ngày ký Hiệp Định Geneve, 20/7/1954, ngày lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương và cũng là ngày tạm thời chia cắt nước Việt Nam ra làm 2 Miền. Nhưng cũng vào ngày này, các nước lớn trên thế giới trong đó có cả Trung Quốc đã công khai ký vào Hiệp Định Geneve thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Vậy mà không hiểu vì sao, ngày 14/9/1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng lại được chính chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó để viết Công Hàm gửi chính phủ Trung Quốc “ghi nhận và tán thành”  bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của chính phủ Trung Quốc đơn phương coi hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là một phần của lãnh thổ Trung Quốc? Vậy, việc chủ tịch Hồ Chí Minh giao thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức Công Hàm nói trên để “tán thành” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là một phần của lãnh thổ Trung Quốc xuất phát từ tình cảm “quốc tế vô sản”, hay vì một tình cảm khác?

Như chúng ta đều biết, chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn được Mao Trạch Đông và đảng cộng sản Trung Quốc yêu mến và kính trọng. Không biết có phải do chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thời gian tham gia cuộc Vạn Lý Trường Chinh với Mao nên Mao ghi ơn? Hay vì sau này đã hết lòng đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng để Mao yên tâm làm cuộc Đại cách mạng Văn Hóa Vô Sản mà Mao tin tưởng? Hay nhờ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam mà năm 1972, Trung Quốc đã có cơ hội làm thân với Mỹ nên Mao yêu mến? Hay nhờ bức công hàm 1958 để Mao có cớ xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ tay VNCH ngày 19/1/1974 mà Mao kính trọng?

Còn điều ngược lại thì cả dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thể nào hiểu nổi! Đó là tại sao chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời lại yêu mến nước Trung Hoa và kính trọng Mao Trạch Đông đến vậy? Hồ Chí Minh đã tận tụy làm bất cứ điều gì mà Mao Trạch Đông muốn, từ CCRĐ để giết hại hàng vạn người có công với cuộc kháng chiến chống Pháp đến mở đường Trường Sơn để đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng… Thậm chí, cho đến lúc nằm hấp hối trên giường bệnh, bác còn nói với các nữ y tá Trung Quốc lúc đó đang chăm sóc bác rằng “Bác muốn nghe một bài hát tiếng Hoa lắm, ở đây có cháu nào hát được không?”

Và oái oăn thay, ngày nay các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang triệt để lợi dụng hình tượng Hồ Chí Minh và bức công hàm 1958 để xâm lăng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Việt Nam! Đặc biệt nhất là từ ngày 2/5/2014, giặc Tàu đã hạ đặt giàn khoan khổng lồ HD 981 để thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam trước sự phản đối quyết liệt của nhân dân Việt Nam và công luận quốc tế. Nhưng giặc Tàu lại lu loa lên rằng “Bức công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng đã thừa nhận Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc nên vùng lãnh hải 200 hải lý quanh Tây Sa và Nam Sa là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc!”.

Vậy nay, tôi viết bài này chỉ để mong các nhà sử học và quý vị độc giả gần xa sẽ trả lời cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”

BÁC HỒ LÀ “VỊ ANH HÙNG LƯỠNG QUỐC”
(Cảm tác trước lăng chủ tịch Hồ Chí Minh)

Đứng trước lăng cháu bồi hồi báo bác
Khách Phương Bắc sắp sửa ghé thăm lăng
Họ đi tới Việt Nam bằng đường biển
Có máy bay tàu hộ tống đàng hoàng!

Phải chăng bác năm xưa cùng hoạt động?
Nên người ta mến bác, bác Hồ ơi
Nghe nói đều ở Hoa Nam tình báo
Giúp Việt Nam chống giặc Pháp một thời

Họ ca ngợi Hồ Chí Minh vĩ đại
Luôn tận tâm, tận lực với nước nhà
Đã suôt đời hy sinh cho tổ quốc
Để nối liền “tình hữu nghị Việt-Hoa”!

Bác đã dạy dân Việt quên lịch sử
Một nghìn năm đô hộ của giặc Tàu
Bởi vô sản “tứ hải giai huynh đệ”
Thì láng giềng biên giới có cần đâu!

Phải chăng bác giúp Trung Quốc có thể
Lấy Hoàng Sa từ quân lực Cộng Hòa?
Nhằm góp phần thắm tô tình hữu nghị
Tình giai cấp, tình quốc tế bao la!

Trước cháu tưởng chỉ đảng ta ơn bác
Nhưng hiểu ra bác vĩ đại hơn nhiều
Bác Hồ là “vị anh hùng lưỡng quốc”
Được đảng viên cả hai đảng tin yêu

Không hiểu bác với Trạch Đông là bạn
Hay còn thêm cả tình nghĩa đồng hương?
Mà bác nguyện thề hi sinh dân Việt
Đánh Hoa Kỳ theo nguyện vọng Bắc Phương

Giờ con cháu Trạch Đông sang xâm lược
Đặt giàn khoan tìm dầu tại Biển Đông
Dân Việt đuổi nhưng giặc Tàu chẳng cút
Bởi còn đây bút tích của ông Đồng!(*)

Nay “vì bão”, giàn khoan Tàu tạm rút
Để sang năm đặt thêm chục giàn khoan
Nằm trong lăng bác Hồ ơi có biết?
Triệu ngư dân đang gào thét căm hờn!

Bác ra đi để lại cho dân Việt
Tình láng giềng “núi liền núi…liền sông”
Mục Nam Quan đã mất cùng Bản Giốc
Mất Trường-Hoàng, mất dần cả Biển Đông!
 
Bác Hồ là vị anh hùng lưỡng quốc
Được Tàu yêu “vinh dự lắm” bác ơi!
Nay lãnh đạo một lòng trung với bác
Nguyện cam tâm theo Tàu cộng suốt đời!


Hà Nội, 20/7/2014
Đặng Huy Văn

(*).Công Hàm Bán Nước do Phạm Văn Ðồng ký ngày 14/9/1958
conghambannuoc.tripod.com/

Khai Dân TríĐặng Huy Văn