Showing posts with label Đại Hội XII. Show all posts
Showing posts with label Đại Hội XII. Show all posts

2016/02/03

Đại hội XII, một thất bại chung của Việt Nam!

Đại hội XII, một thất bại chung của Việt Nam!

1. Đấy là nhận xét của tôi, - đứng tại góc độ nhìn nhận một Việt Nam với Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thế giới hôm nay sẽ được gì, mất gì? Sẽ mạnh lên hay yếu đi?..

Đơn giản vì thế giới hôm nay nói chung, và nhất là (a) xu thế trên thế giới muốn có một Việt Nam mạnh đứng vững trên đôi chân của mình mà hòa bình và sự phát triển của thế giới hôm nay đang cần, hoặc là (b) xu thế muốn có một Việt Nam tiếp tục suy yếu để khai thác tốt hơn nữa sự lệ thuộc của nước này cho khát vọng giấc mộng Trung Hoa.., các xu thế khác (c) .., (d) .., (e) … vân vân.., tất cả những xu thế này trên thế giới không quan tâm đến mức mất ăn mất ngủ chuyện ai ở ai đi của Đại hội XII…

Các xu thế này trên thế giới quan tâm nhiều hơn đến chuyện ai ở ai đi đã được định hình tại Đại hội XII như vậy hứa hẹn sẽ dẫn tới một Việt Nam nào trong thế giới hôm nay và những năm tới? Sẽ có lợi hay bất lợi cho ai?.. Với một Việt Nam sau Đại hội XII như thế sẽ có những hệ quả gì trên bàn cờ khu vực, bàn cờ quốc tế?.. vân vân...

Nhận xét của tôi “Đại hội XII là một thất bại chung của Việt Nam” còn xuất phát từ góc nhìn Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử, được tạo thành bởi 2 yếu tố quyết định. Đó là (a) thế giới đã sang trang, hiện nay đang đi vào một thời kỳ có nhiều vấn đề quyết liệt nhất kể từ chiến tranh lạnh I (xảy ra sau chiến tranh thế giới II; hiện nay là chiến tranh lạnh II); và (b) sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta cũng phải sang trang, bởi vì giai đoạn phát triển đầu tiên sau 40 năm độc lập thống nhất đã hoàn tất (thật ra giai đoạn này đã kết thúc cách đây khoảng 10 năm rồi), ngày nay nước ta bắt buộc phải tìm đường trở thành một nước phát triển.

Tại bước ngoặt này, thách thức đối với nước ta quyết liệt chưa từng có, nhất là (1) vấn đề phát triển tự thân của đất nước ta và (2) vấn đề Trung Quốc bành trướng. Song cơ hội lớn cũng chưa từng có: Ngoại trừ Trung Quốc, hầu như cả thế giới mong muốn và hậu thuẫn một Việt Nam trở thành nước phát triển!

Vì thế, phải đưa đất nước sang trang tại bước ngoặt lịch sử này là đòi hỏi chính trị có ý nghĩa sống còn đối với đất nước.

Song tại Đại hội XII – trong Báo cáo chính trị cũng như trong Nghị quyết của Đại hội đã được thông qua, trong bố trí đội ngũ lãnh đạo cho nhiệm kỳ khóa XII… đòi hỏi chính trị hàng đầu này coi như không tồn tại.

Giải quyết câu chuyện ai ở ai đi và phải duy trì bằng được nguyên trạng của chế độ chính trị hiện nay là công việc chủ yếu của Đại hội – từ khâu chuẩn bị đến tiến hành Đại hội.

Trong khi đó toàn bộ những thách thức hiểm nghèo đất nước đang phải đối mặt trên mọi phương diên đối nội cũng như đối ngoại, những vấn đề quốc kế dân sinh sống còn của thời kỳ sang trang… chỉ được Báo cáo Chính trị và Nghị quyết Đại hội XII đáp ứng bằng những quan điểm – thực ra chỉ là những khẩu hiệu, đã được nhắc đi nhắc lại mòn cả chữ trong các Đại hội kể từ Đại hội VII đến nay, với kết quả đạt được là thực trạng đất nước hôm nay.

- Không thể nhắm mắt trước sự thật tổng quát: Về nhiều mặt, sau 30 năm công nghiệp hóa hiện đại hóa, hôm nay chúng ta đang là một nước đi làm thuê, đất nước ta đang là một đất nước cho thuê… Chưa nói tới sức ép của hàng loạt các vấn đề kinh tế vỹ mô khác đang vô cùng nóng bỏng – nổi lên là: những mối nguy hàng ngày trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, là câu hỏi vỡ đầu của doanh nghiệp mọi loại hình sở hữu: Làm thế nào có sản phẩm mới để có thể tồn tại trong cạnh tranh hôm nay?, là làm sao sớm tạo ra được một nền nông nghiệp mới phù hợp?.. ... ...

- Sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như thế nào với thể chế chính trị toàn trị hiện có và sẽ còn được củng cố hơn nữa theo nghị quyết của Đại hội XII và đội ngũ lãnh đạo mới có quá đông thành viên từ công an và quân đội?.. ... ...
Những quan điểm hay khẩu hiệu đó mấy chục năm qua đại thể là: kiên trì giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, kiên quyết chống 4 nguy cơ, quyết xây dựng đất nước giầu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh… Đại hội XII thay đổi một số ngôn từ, song cũng chỉ dừng lại như một khẩu hiệu, tuyệt nhiên không có lấy một quyết sách nào mới cho nhiệm vụ đưa đất nước bước sang một trang phát triển mới và thích nghi được bối cảnh quốc tế hôm nay.

Hãy thử đặt ra vài câu hỏi:

- Kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa từ 40 năm nay, đất nước ta hôm nay ra sao?

- Phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp hiện đại bằng cách nào? “Sớm” là bao giờ?, “cơ bản là nước công nghiệp theo hướng hiện đại” nghĩa là gì?, 30 năm đổi mới vừa qua đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đã làm được gì?, cái giá đã phải trả đến nay?...

- Rồi đây nước ta sẽ là nước công nghiệp gì? - nếu như 70 – 80% xuất khẩu hiện nay là nhờ vào FDI, với nền kinh tế hiện nay lắp ráp và gia công là chủ yếu, lao động cơ bắp và công nghệ thấp đang là các yếu tố sản xuất quyết định, sẽ còn phải tiếp tục dựa vào nhiều hơn nữa loại FDI đáng sợ này để có thêm công ăn việc làm, nhiều vùng chiến lược của đất nước ngày càng bị các yếu tố nước ngoài chi phối nghiêm trọng, nhiều đơn vị kinh tế quan trọng đã bị nước ngoài mua đứt hoặc chịu sự chi phối của vốn ngoại… …

- Không thể nhắm mắt trước sự thật tổng quát: Về nhiều mặt, sau 30 năm công nghiệp hóa hiện đại hóa, hôm nay chúng ta đang là một nước đi làm thuê, đất nước ta đang là một đất nước cho thuê… Chưa nói tới sức ép của hàng loạt các vấn đề kinh tế vỹ mô khác đang vô cùng nóng bỏng – nổi lên là: những mối nguy hàng ngày trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, là câu hỏi vỡ đầu của doanh nghiệp mọi loại hình sở hữu: Làm thế nào có sản phẩm mới để có thể tồn tại trong cạnh tranh hôm nay?, là làm sao sớm tạo ra được một nền nông nghiệp mới phù hợp?.. … …

- Sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như thế nào với thể chế chính trị toàn trị hiện có và sẽ còn được củng cố hơn nữa theo nghị quyết của Đại hội XII và đội ngũ lãnh đạo mới có quá đông thành viên từ công an và quân đội?.. ... ...

- Với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên thế giới, sự hội nhập hiện nay của Việt Nam vào kinh tế toàn cầu được tiến hành trong bối cảnh của trật tự thế giới thế kỷ 21: cạnh tranh và đấu tranh với nhau rất quyết liệt giữa các nền kinh tế và các thế lực; trong khi đó thế giới ngày càng nhiều vấn đề kinh tế, chính trị và quân sự rất nhạy cảm (ví dụ: chỉ riêng một vấn đề di tản từ Bắc Phi vào châu Âu đủ làm cho EU chao đảo, rạn nứt! Cứ cái đà như ba thập kỷ vừa qua, Trung Quốc bá chiếm Biển Đông hình như sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian? Vân vân…) . Thực tế khách quan này đặt ra đòi hỏi sống còn cho Việt Nam: phải sớm tạo ra cho mình một nền kinh tế dựa trên lao động ngày càng nhiều hàm lượng chất xám, phát huy tối đa tiềm năng con người, đất nước phải được vận hành bởi một thể chế chính trị kiến tạo ra được sự phát triển mới này, phải lựa chọn được một quốc sách đối ngoại phù hợp... Đại hội XII đã ý thức được những đòi hỏi sống còn này? đã đề ra được những đối sách gì cho đất nước?..

- Nói rốt ráo, đất nước đã bỏ lỡ 40 năm rồi. Sự thật của cuộc sống trong thế giới hôm nay nghiêm khắc đến mức đòi hỏi Việt Nam phải sớm trở thành một dân tộc khác giác ngộ được đầy đủ chính bản thân mình, để tự đứng lên là chính mình. Việt Nam phải sớm tạo ra cho mình một nền kinh tế khác, phải xây cho mình một thể chế chính trị khác, để sớm dựng lên một quốc gia Việt Nam khác. Đấy là con đường Việt Nam thoát khỏi thực trạng èo uột và lệ thuộc hiện nay, giành lấy sự tôn trọng và sự hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, và nhất là để có thể trở thành một láng giềng bình đẳng và được tôn trọng của Trung Quốc... Chẳng lẽ những đòi hỏi sống còn này của đất nước không đáng để Đại hội XII quan tâm? Ngoài cái gọi là kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác – Lênin, hai năm chuẩn bị và 8 ngày họp Đại hội XII không có được lấy một chữ về những vấn đề sống còn này của đất nước. Vứt bỏ những nhiệm vụ chính trị trọng đại như vậy của đất nước, lại dồn hết sức lực vào câu chuyện duy nhất ai ở ai đi? của khóa XII này để bám giữ chế độ, thử hỏi ĐCSVN sau Đại hội XII sẽ mạnh lên hay sẽ tha hóa trầm trọng thêm?

- Trong vòng chưa đầy 10 ngày đầu tháng 1-2016 Trung Quốc đã cho 46 lần máy bay của họ xâm phạm vùng trời của ta tại Hoàng Sa và Trường Sa, xâm phạm vùng thông báo bay của nước ta, ngang nhiên đưa vào sử dụng các căn cứ quân sự họ xây dựng trái phép trên các đảo lấn chiếm của ta… Tiếp theo đó là việc đưa giàn khoan HD 981 vào vịnh Bắc Bộ… Thử hỏi: Giữa lúc Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vừa mới đi thăm Trung Quốc về và Đại hội XII sắp họp, những hoạt động của máy bay Trung Quốc và sự việc giàn khoan HD 981 mang tính vỗ mặt và đầy dã tâm bành trướng này nói lên điều gì? Luật chống khủng bố ở nước ngoài Trung Quốc mới ban hành (12-2015) có ảnh hưởng ra sao? Trước thực tế này thực hiện nghị quyết Đại hội XII kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước như thế nào bây giờ?

- Vân vân…

Còn nhiều câu hỏi mất còn đối với đất nước như thế cần được đặt ra sau Đại hội XII.

Có quá nhiều sự việc diễn ra trong suốt quá trình chuẩn bị (kể từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI), tiến hành và kết thúc Đại hội XII đã tự phơi bầy ra trước công luận những diễn biến mới tệ hại chưa từng có trong nội bộ Đảng và trong hàng ngũ các chính khách của Đảng… Các sự việc đã diễn ra, từ không khí trên những gương mặt sát khí đằng đằng với mọi vũ khí khí tài hiện đại bên ngoài nơi họp Đại hội, cho đến những diễn biến thăng trầm bất thường gần như từng ngày từng giờ bên trong Đại hội, tất cả đều mang tính bi hài kịch đến tột độ, thậm chí khó mà có thể thấy được ngay cả trong những kiệt tác văn học!

Song Đại hội XII chỉ có một kết quả, hay là chỉ làm được một việc duy nhất: Ai ở, ai đi và kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tất cả những điều nói ra ra trên đây đều dẫn tới kết luận cuối cùng: Sau Đại hội XII ĐCSVN tiếp tục yếu đi, nội bộ ngày càng phân hóa, đảng tiếp tục tha hóa.

Quan trọng hơn thế, Đại hội XII đã tự phơi bầy ra trước cả nước: Nhiệm vụ chính trị tối thượng của quyền lực trong Đảng bây giờ thực chất chỉ nhằm vào duy trì bằng được chế độ toàn trị. Quyền lợi mà quyền lực trong Đảng bám giữ được cùng với nỗi khiếp sợ trước Trung Quốc là hai nguyên nhân chính dẫn tới kết quả này của Đại hội.

Với sự thất vọng trong dân về Đại hội XII, ĐCSVN hôm nay đang “mất” trong dân nhiều nhất so với tất cả các giai đoạn trước đây, kể từ ngày thành lập.

Vì các lẽ nói trên, có thể coi Đại hội XII là thất bại của ĐCSVN - một sự thật khách quan!

Đại hội XII còn là một thất bại của Việt Nam trên bình diện quốc tế, bởi lẽ triển vọng sớm xuất hiện một Việt Nam mạnh và là chính mình đã bị kết quả của Đại hội XII đẩy ra xa nữa vào tương lai không đoán định được – vào cái thời buổi của thiên hạ: Lỡ một bước, hận nghìn thu!… Giữa lúc nền kinh tế đất nước 3 năm gần đây đang trên đường phục hồi, các đối tác và bạn bè trên thế giới đang kỳ vọng vào những tiềm năng to lớn của Việt Nam!..

2. Đại hội XII còn là thất bại chung của cả nước, vì lẽ sau đây:

Trước hết khái niệm “cả nước” ở đây xin được hiểu là mọi người Việt Nam yêu nước, không kể bất kỳ sự khác biệt nào, sống trong nước hay ở nước ngoài.

Cả nước như thế đã có không ít những ý kiến đóng góp đúng đắn, chuẩn xác, xây dựng, với tất cả ý thức trách nhiệm. Cả nước như thế mong muốn Đại hội XII sẽ mở ra một bước ngoặt lịch sử, đưa nước ta đi vào con đường trở thành nước phát triển. Cả nước đòi hỏi Đại hội XII phải mở ra một thời kỳ đổi đời đất nước, và ĐCSVN phải thay đổi thành một đảng dân tộc và dân chủ để làm đúng được chức năng là đảng cầm quyền…

Coi Đại hội XII là thất bại chung của cả nước, suy nghĩ này lập tức sẽ vấp ngay sự phản kháng quyết liệt rất xác đáng trong dân: Thất bại của Đại hội XII là chuyện của Đảng, tự Đảng gây ra, sao lại lôi buộc cả nước dính vào? Cái Đảng này không thể thay đổi và cũng không biết tự thay đổi, cũng chẳng lực lượng nào trong nước có thể lật đổ nổi… Vậy thất bại của Đại hội XII và cái Đảng này tự đi tiếp tới sụp đổ là tốt cho đất nước chứ, hà cớ gì lại buộc cả nước dính vào, lại còn dám đòi cả nước gánh chịu thất bại chung?.. Đất nước đến nông nỗi này mà vẫn còn rắp tâm cứu Đảng? Còn ngu muội như thế đến bao giờ nữa? Ngu muội đến phản động! Tại sao không làm tất cả để cứu nước?.. ... ...

Phải thừa nhận ĐCSVN tha hóa tiếp và tự đi tới tự sụp đổ là một trong những khả năng hiện thực nhất, đã xẩy ra rồi tại các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô – Đông Âu cũ. Thậm chí không loại trừ đây là khả năng hiện thực duy nhất của nước ta trong thực trạng hôm nay – một khi tức nước vỡ bờ! Ngoài ra không có thế lực thù địch nào trong ngoài nước làm được việc lật đổ ĐCSVN và chế độ toàn trị của nó đâu, kể cả quyền lực rắn và mềm của bất kỳ ngoại bang nào!
Nhiều ý kiến, kiến nghị đã nêu lên những vấn đề cụ thể phải giải quyết, những việc phải làm, các bước đi…, để hòa bình tiến hành một cuộc cải cách chính trị từ trong Đảng ra và từ xã hội dân sự, mang nhiệm vụ đổi đời đất nước và giải phóng tiềm năng con người với tính cách là nguồn lực và sức sáng tạo quý nhất của quốc gia. Cả nước mong muốn Đại hội XII sẽ là Đại hội của sự thật, dân chủ, hòa giải dân tộc và cải cách…

Không ít trong những kiến nghị này chẳng những đòi hỏi, mà còn giao phó cho ĐCSVN với tính cách là đảng chính trị độc nhất đang nắm trong tay vận mệnh đất nước (Đảng tự gọi mình là đảng cầm quyền) trách nhiệm ràng buộc là phải đứng ra chủ xướng và tổ chức cuộc cải cách chính trị trọng đại này. Để khỏi nói chay, có thể nêu ra bức thư ngỏ ngày 09-12-2015 của 127 người ký tên gửi lãnh dạo ĐCSVN khóa XI và Đại hội XII là một trong những ví dụ cụ thể.

Cả nước làm như thế không phải vì ảo tưởng, mà vì đấy là sự lựa chọn của trí tuệ và ý chí, tiết kiệm xương máu cho đất nước, và hứa hẹn thành công vững bền.

Nếu tổng hợp những kiến nghị xây dựng như vậy trong cả nước gửi Đại hội XII, có thể kết luận chắc chắn: trí tuệ Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng vạch ra và tiến hành thành công cuộc cải cách chính trị vỹ đại này mà đất nước đang cần.

Rất tiếc, cả nước đã thất bại, đơn giản vì những kiến nghị xây dựng này đã bị bỏ ngoài tai và không mảy may tác động vào Đại hội XII.

Coi Đại hội XII là thất bại chung của cả nước, suy nghĩ này lập tức sẽ vấp ngay sự phản kháng quyết liệt rất xác đáng trong dân: Thất bại của Đại hội XII là chuyện của Đảng, tự Đảng gây ra, sao lại lôi buộc cả nước dính vào? Cái Đảng này không thể thay đổi và cũng không biết tự thay đổi, cũng chẳng lực lượng nào trong nước có thể lật đổ nổi… Vậy thất bại của Đại hội XII và cái Đảng này tự đi tiếp tới sụp đổ là tốt cho đất nước chứ, hà cớ gì lại buộc cả nước dính vào, lại còn dám đòi cả nước gánh chịu thất bại chung?.. Đất nước đến nông nỗi này mà vẫn còn rắp tâm cứu Đảng? Còn ngu muội như thế đến bao giờ nữa? Ngu muội đến phản động! Tại sao không làm tất cả để cứu nước?.. … …

Phải thừa nhận ĐCSVN tha hóa tiếp và tự đi tới tự sụp đổ là một trong những khả năng hiện thực nhất, đã xẩy ra rồi tại các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô – Đông Âu cũ. Thậm chí không loại trừ đây là khả năng hiện thực duy nhất của nước ta trong thực trạng hôm nay – một khi tức nước vỡ bờ! Ngoài ra không có thế lực thù địch nào trong ngoài nước làm được việc lật đổ ĐCSVN và chế độ toàn trị của nó đâu, kể cả quyền lực rắn và mềm của bất kỳ ngoại bang nào!

Nhưng nếu bây giờ cả nước chịu buông tay, chấp nhận kịch bản Đảng tự đi tiếp đến sụp đổ, sẽ đồng nghĩa cả nước cam chịu chấp nhận để cho đất nước rơi tự do vào một cuộc bể dâu mới, chắc chắn sẽ đầy máu và nước mắt!

Cả nước ta bây giờ, vào thế kỷ 21 này, với tất cả những kinh nghiệm của thất bại và thành công trên con đường đất nước đã trải qua 70 năm qua, với tất cả những bài học xương máu của các quốc gia trên thế giới, chẳng lẽ đành một bề bó tay cam chịu chờ đợi cuộc bể dâu mới này ập đến? Và chỉ còn biết than thở: …Thôi thì cái gì phải đến sẽ đến!?..

Thế rồi sau cái cuộc bể dâu này, cái gì phải đến sẽ đến nữa?.. Lại sẽ triền miên giằng xé nhau nữa!?..

Trời ơi, không thể như vậy được!

Vì thế, suy nghĩ chấp nhận coi Đại hội XII là thất bại chung là suy nghĩ quyết liệt: Đất nước này dứt khoát không phó mặc thân phận mình cho mọi trò chơi quyền lực của Đảng. Dứt khoát không phó mặc cho Đảng số phận của đất nước muốn ra sao thì ra!

Cả nước coi Đại hội XII là thất bại chung, có nghĩa là cả nước quyết đứng lên giành lấy quyền tự quyết định thân phận của mình và số phận của đất nước, quyết không cam chịu gắn bó số phận của đất nước với quá trình tự sụp đổ của Đảng.

Cả nước coi Đại hội XII là thất bại chung, là suy nghĩ bao dung và nhân văn theo tinh thần đoàn kết và hòa giải dân tộc, tiết kiệm xương máu và mồ hôi nước mắt của dân tộc, chắt lọc các yếu tố tích cực dù là nhỏ nhất – theo tinh thần gạn đục khơi trong, còn nước còn tát.

Hiển nhiên quyền lực trong Đảng không biết lẽ phải và chỉ biết đối thoại bằng bạo lực. Song ngày nay át được tiếng nói chính nghĩa của dân không dễ nữa. Chưa nói đến trong 4,5 triệu đảng viên, chắc chắn có một tỷ lệ rất lớn số đảng viên còn nặng lòng yêu nước và đứng về phía dân. Ngay trong Đại hội XII cũng có những tiếng nói và các con số biểu quyết phản ánh sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ Đảng, đến mức đã có nhận xét: ĐCSVN sau Đại hội XII không còn là như trước nữa… …

Muốn hay không muốn, dù chỉ mang tính khẩu hiệu xuông, Báo cáo chính trị và Nghị quyết của Đại hội XII vẫn phải ghi một số những việc phải làm cho nhân dân, cho đất nước, nhất là đã nêu ra (thực ra là chỉ nhắc lại) đòi hỏi phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, đã đặt vấn đề phải thực thi quyền của nhân dân làm chủ đất nước và các quyền tự do dân chủ của công dân… Cả nước cần phải có tiếng nói quyết liệt đủ sức đòi thực hiện những điểm đã một lần nữa ghi được trên giấy trắng mực đen này. Đừng để cho đấy chỉ là câu chuyện của giấy và mực! Một tiếng nói có thể bị trấn áp, song cả nước đồng thanh thì quyền lực nào cũng phải nghe.

Giữa lúc báo chí và hội họp không đủ lời ca ngợi Đại hội XII mà dám coi Đại hội XII là thất bại chung, có nghĩa là cả nước sẽ có ý chí dám nói lên những vấn đề phải nói với tinh thần xây dựng, đoàn kết và hòa giải. Chỗ này cần phải nói cho rành rọt: Đây là hòa giải giữa người bị cai trị và người cai trị, giữa dân và Đảng, để mỗi trong hai bên đều cố vượt qua nỗi sợ và những yếu kém của mình, để cùng nhau tìm ra tiếng nói chung cho cái đúng, quyết định được những giải pháp đúng cho những vấn đề nóng bỏng của đất nước, đúng với tinh thần: Tổ quốc trên hết!

Như vậy, bằng lý trí, ý chí và lý lẽ đúng đắn, dân sẽ không sợ những uy lực càn bậy, dám nói những điều phải nói, dám làm những việc phải làm.

Như vậy, Đảng cũng sẽ không sợ dân lật đổ, biết dựa vào dân để tự cải tạo và nâng cao chính mình, phát huy được sức mạnh của dân để giải quyết những vấn đề của đất nước – đây cũng là con đường phấn đấu để trở thành đảng cầm quyền với đúng nghĩa. (Chiến tranh qua lâu rồi, Đảng hôm nay hoàn toàn vứt bỏ bài học dựa vào dân của chính mình, đã quên mất có nhân dân bảo vệ Đảng mới tồn tại được đến hôm nay!)

Về phía dân, một khi cả nước dám coi Đại hội XII là thất bại chung, điều này cũng có nghĩa cả nước dứt khoát không cam chịu khoanh tay ngồi yên, phó mặc cho sự tha hóa của Đảng xô đẩy vào đất nước vào cái bể dâu ghê sợ phía trước. Ý chí này biểu hiện sự trưởng thành chính trị ngày càng cao của nhân dân, và là nguồn lực, là sức mạnh vô cùng quan trọng không thể thay thế được cho tiến hành cải cách chính trị thành công trong hòa bình. Nuôi dưỡng và phát huy ý chí này chính là một trong các nhiệm vụ trọng đại nhất của xã hội dân sự.

Nội dung cơ bản của cải cách là loại bỏ tình trạng hệ thống chính trị “3 trong 1” – Đảng, nhà nước, mặt trận – mà trong thực tế toàn bộ hệ thống chính trị chỉ là công cụ của quyền lực trong Đảng, để thực hiện đúng nghĩa xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đấy là nhà nước pháp quyền dân chủ trên nền tảng của kinh tế thị trường và xã hội dân sự. Hệ thống nhà nước này phải có các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp được thiết kế đầy đủ, có trách nhiệm và quyền lực riêng biệt được phân công rõ rệt (chứ không phải nhánh này đứng trên nhánh kia) theo quy định của Hiến pháp, cùng kiểm soát - giám sát lẫn nhau, và cùng liên đới chịu trách nhiệm trước cả nước về thực thi Hiến pháp với tính cách là bộ luật tối thượng của đất nước, ĐCSVN cần phấn đấu trở thành đảng cầm quyền đúng luật trong hệ thống nhà nước này. Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ: Đảng có những quyết định cần thiết và chủ động đứng ra phát huy trí tuệ và nghị lực cả nước xây dựng bằng được hệ thống nhà nước pháp quyền dân chủ này, làm mọi việc có thể bảo đảm và bảo vệ sự nghiệp xây dựng thành công trong hòa bình một hệ thống nhà nước như vậy cho đất nước. (Cũng như trước đây: Vai trò lãnh đạo của Đảng là phát huy sức mạnh cả nước đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước, song cái không nên làm là có độc lập thống nhất Đảng lại làm chủ luôn đất nước!) . Cải cách chính trị như thế chính là con đường giải phóng mọi tiềm năng của đất nước để sớm vươn lên trở thành nước phát triển. Đó cũng là con đường giải phóng ĐCSVN hôm nay khỏi những tha hóa trầm kha và lấy lại chính danh của mình.
Về phía Đảng, cần nhận thức sâu sắc: Chừng nào cả nước còn coi Đại hội XII là thất bại chung, chừng đó còn cho thấy dân muốn Đảng phải thay đổi để trở nên tốt hơn, dân không muốn chủ động đẩy Đảng trở thành kẻ đối kháng của mình; qua đó khả năng dựa vào dân để thay đổi Đảng thành đảng của dân tộc và dân chủ vẫn là hoàn toàn hiện thực cho hôm nay. Đảng muốn đi với dân tộc thì phải dựa vào dân như vậy, dân chủ là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề.

Suy nghĩ cả nước coi Đại hội XII là thất bại chung như thế, trước hết có nghĩa vô cùng quan trọng: Cho đến giờ phút này nhân dân vẫn muốn kéo ĐCSVN về đứng chung trên chiến tuyến của mình – chiến tuyến của Tổ quốc Việt Nam trên hết! Hôm nay ĐCSVN và 4, 5 triệu đảng viên của mình nếu chưa hiểu được điều này thì phải cố học để hiểu và thấm nhuần bằng được điều này!

Dân và Đảng dám coi Đại hội XII là thất bại chung, đấy chính là ý chí mãnh liệt cả từ phía dân và phía Đảng, quyết cùng nhau chặn đứng xu thế vận động Đảng ngày càng đi ngược với lợi ích quốc gia. Chẳng lẽ Đảng không cần dân, không muốn dựa vào dân để đảo ngược sự vận động này của Đảng?

3. Những nhiệm vụ phải làm đưa đất nước sang trang tại bước ngoặt lịch sử hiện nay tuy không được xây dựng thành những quốc sách tại Đại hội XII, nhưng vẫn còn nguyên vẹn phía trước, và phải làm.

Dù có hay không có ghi trong Nghị quyết của Đại hội XII, lợi ích quốc gia đòi hỏi ĐCSVN trong khóa XII này phải tạo ra được sự phát triển của đất nước làm được chức năng chuyển giai đoạn, đưa nước ta hiện nay vẫn là nước nghèo đi vào con đường trở thành nước phát triển. Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, cải cách thể chế chính trị trở thành yếu tố quyết định thúc đẩy đất nước phát triển. Vì thế trước hết Đảng phải nghiêm khắc đánh giá lại chính mình và thay đổi quyết liệt chính mình, như Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã phát biểu tại Đại hội.

Không thể chỉ bằng những lời kêu gọi, bằng khẩu hiệu, bằng xử thị uy một số vụ án, bằng những sửa chữa chắp vá một số thủ tục, quy chế.., chỗ này một tý, chỗ kia một tý theo kiểu chuồn chuồn đập nước dưới cái tên gọi mỹ miều là cải cách thể chế, nhưng lại giữ nguyên hệ thống chính trị hiện tại và siết hơn nữa – nhân danh kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, bạo danh coi độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc! Càng không phải bằng cách quy kết tất cả những gì quyền lực Đảng không thích vào chung một rọ “suy thoái đạo đức chính trị tư tưởng, tự diễn biến…” để miệt thị và hù dọa, úp thêm cái mũ “các thế lực thù địch” để trấn áp! Không phải thế!

Đất nước cần hơn bao giờ hết một cuộc cải cách triệt để hệ thống chính trị với những bước đi thích hợp. Lợi ích quốc gia và những thách thức hiểm nghèo phía trước đất nước đang phải đối mặt đòi hỏi ngay trong nhiệm kỳ khóa XII này ban lãnh đạo mới của Đảng phải dựa vào trí tuệ của cả nước để hình thành được một chiến lược tổng thể cho cải cách chính trị và những việc phải làm đầu tiên từ nay đến năm 2020, mở đường cho sự nghiệp cải cách trong những năm tiếp theo, chứ không phải là chốt lại như trong Nghị quyết Đại hội XII “…không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành.”

Cái đích tối cao của cải cách chính trị là thực hiện bằng được quyền làm chủ đất nước của nhân dân và các quyền tự do, dân chủ của công dân.

Nội dung cơ bản của cải cách là loại bỏ tình trạng hệ thống chính trị “3 trong 1” – Đảng, nhà nước, mặt trận – mà trong thực tế toàn bộ hệ thống chính trị chỉ là công cụ của quyền lực trong Đảng, để thực hiện đúng nghĩa xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đấy là nhà nước pháp quyền dân chủ trên nền tảng của kinh tế thị trường và xã hội dân sự. Hệ thống nhà nước này phải có các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp được thiết kế đầy đủ, có trách nhiệm và quyền lực riêng biệt được phân công rõ rệt (chứ không phải nhánh này đứng trên nhánh kia) theo quy định của Hiến pháp, cùng kiểm soát - giám sát lẫn nhau, và cùng liên đới chịu trách nhiệm trước cả nước về thực thi Hiến pháp với tính cách là bộ luật tối thượng của đất nước, ĐCSVN cần phấn đấu trở thành đảng cầm quyền đúng luật trong hệ thống nhà nước này. Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ: Đảng có những quyết định cần thiết và chủ động đứng ra phát huy trí tuệ và nghị lực cả nước xây dựng bằng được hệ thống nhà nước pháp quyền dân chủ này, làm mọi việc có thể bảo đảm và bảo vệ sự nghiệp xây dựng thành công trong hòa bình một hệ thống nhà nước như vậy cho đất nước. (Cũng như trước đây: Vai trò lãnh đạo của Đảng là phát huy sức mạnh cả nước đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước, song cái không nên làm là có độc lập thống nhất Đảng lại làm chủ luôn đất nước!) . Cải cách chính trị như thế chính là con đường giải phóng mọi tiềm năng của đất nước để sớm vươn lên trở thành nước phát triển. Đó cũng là con đường giải phóng ĐCSVN hôm nay khỏi những tha hóa trầm kha và lấy lại chính danh của mình.

Những việc có thể làm ngay trước mắt là thực hiện ngay những quyền tự do, dân chủ của công dân như đã ghi trong Hiến pháp 2013 – nhất là: quyền tự do ngôn luận, quyền lập hội, quyền biểu tình.., nghiêm cấm và nghiêm trị những hành vi trấn áp phi pháp, thả ngay những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ.

Ngay trước mắt, một thử thách nghiêm khắc để chứng minh tính chính danh của Đảng, và cũng là một trách nhiệm rất quan trọng của ban lãnh đạo mới nhiệm kỳ khóa XII đối với đất nước, đó là việc bầu cử Quốc hội mới sắp tới.

Làm thế nào để có được một Quốc hội với đúng nghĩa là người đại diện cao nhất quyền lực của nhân dân, loại bỏ tình trạng “Đảng cử dân bầu”? Phải thay đổi những gì để chấm dứt trạng thái trên thực tế Quốc hội là cơ quan cấp dưới của Bộ Chính trị (trên thực tế là cơ quan hợp pháp hóa và thực thi quyền lực Đảng) mà không ít các đại biểu Quốc hội đã công khai nói ra như vậy trong các buổi họp Quốc hội cũng như trước công luận? Đảng và hệ thống chính trị phải tự thay đổi như thế nào thì mới có được một Quốc hội đúng nghĩa?.. Tránh né cải cách, tránh né những câu hỏi này, Ủy ban bầu cử quốc hội mới và những thứ kèm theo cũng chỉ là để trang trí.

Song lại có ý kiến: Trung Quốc không cải cách chính trị, nên Việt Nam không làm được, không dám làm, dù có muốn cũng không được.

Sự thật hiển nhiên là vấn đề Trung Quốc là một áp lực rất lớn chống lại cải cách ở Việt Nam, Trung Quốc có trong tay nhiều phương tiện có thể phá vỡ mọi nỗ lực cải cách ở Việt Nam – kể cả một khi cải cách được tiến hành (tuy khập khiễng, song vấn đề “Krym” và những diễn biến ở Ukraina là một trong những ví dụ điển hình đáng tham khảo) . Song những gì đang diễn ra ở Myanmar, ở Đài Loan đang chứng minh: Không phải Trung Quốc muốn gì cũng được.

Chờ Trung Quốc cải cách thì ta mới dám cải cách không khác gì chờ Trung Quốc bỏ mục tiêu siêu cường số một thế giới!

Nước ta đã chờ như thế 40 năm kể từ 30-04-1975. Đã chờ như thế từ Hội nghị Thành Đô. Lấy cả kiên định con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội để biện minh cho cái chờ này. Ghi vào Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc 06-11-2015 “hai bên coi sự phát triển của nước này là cơ hội phát triển cho nước kia” để cầm chắc cho cái chờ này. Song chờ như thế nước ta đã mất gì, được gì suốt 40 năm qua? Chẳng lẽ được sự lệ thuộc ngày càng trầm trọng vào Trung Quốc và sự phát triển èo uột? Được sự yên ổn để họp Đại hội XII… Còn mất thì sao? Nhiều lắm! Cái mất lớn nhất là con đường phát triển của đất nước đang bị chính cái chờ này của ta chặn đứng! Không thể đổ mọi tội cho Trung Quốc.

Một sự thật nghiêm trọng khác là càng chờ như vậy, Trung Quốc càng lấn tới, và nước ta ngày càng lực bất tòng tâm trong nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi và chủ quyền mọi mặt của quốc gia. Bởi vì chờ như vậy, lòng dân ngày càng mất tin tưởng vào Đảng và chế độ, sự giằng xé trong nội tình đất nước gia tăng do sự tha hóa của hệ thống chính trị đang gia tăng, ngay trong nội bộ Đảng cũng ngày càng phân hóa. Chờ như vậy lòng dân càng phân tán, không thể có hòa hợp hòa giải dân tộc, không thể hội tụ và phát huy sức mạnh dân tộc. Chờ như vậy trong nước thì không thể nhân tâm thu về một mối, bên ngoài thì không thu phục được lòng người để nước ta có thể sống được trong cái trật tự thế giới ngày càng ác nghiệt này! Chờ như vậy là cam chịu sống trong cái bóng của Trung Quốc. Sống trong cái bóng của Trung Quốc, lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 2000 năm qua cho thấy Việt Nam mất nhiều hơn được. 70 năm qua càng như thế…

Đúng ra phải đặt vấn đề ngược lại: Không phải vì Trung Quốc nên phải chờ! Mà chính là vì Trung Quốc nên càng không được chờ! Dám như vậy mới có lối ra! Cả nước một lòng, từ trong Đảng ra và từ xã hội dân sự, Đảng chủ động đề xướng và tạo mọi điều kiện cho cải cách và bảo vệ cải cách. Như thế chẳng có gì phải chờ! Việt Nam muốn chính là Việt Nam thì không cần chờ, không được chờ!

Bây giờ mọi ghế đã yên vị, công việc cấp bách hơn bao giờ hết của toàn ban lãnh đạo mới là thực hiện dân chủ để bàn bạc thực lòng và hết lòng với cả nước mọi quyết sách cho mọi vấn đề trọng đại của cải cách chính trị và của phát triển đất nước đang đặt ra, nhất là những giải pháp cho những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nóng bỏng nhằm đẩy mạnh quá trình kinh tế đang phục hồi và tạo ra được những bước đi xuôn xẻ vào thời kỳ hội nhập mới (TTP, AEC, các FTAs mới…) , làm tốt nhiệm vụ là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện ta đã cam kết...

Cần mở rộng dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị của đất nước, trong bộ máy chính quyền, trong xã hội dân sự, trong các trường – viện làm công tác nghiên cứu và giảng dậy, trong hệ thống tuyên truyền – báo chí, trong các đơn vị kinh tế… để bàn bạc với nhau thực lòng và hết lòng, trước hết nhằm xác định đúng các vấn đề phải xử lý và các giải pháp.

Dứt khoát nên vứt bỏ và phê phán nghiêm khắc nếp nghĩ, nói và làm theo cái gọi là “quán triệt nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống”, mà nên nhìn thẳng vào đòi hỏi: Sự thật trong cuộc sống đang đặt ra những vấn đề gì? Phải giải quyết thế nào?.. Dứt khóat cần vứt bỏ việc dùng bạo lực và dối trá để khỏa lấp các sai trái, trấn áp những ý kiến trái chiều, những bất đồng, những phản đối bất công... Dân chủ, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình phải trở thành những tiêu chí bắt buộc của mọi hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong mọi lĩnh vực của đất nước… Đấy là những việc rất cụ thể, đầu tiên, khả thi, có thể làm ngay được cho việc mở ra một chương mới của lịch sử đất nước.

Xin có một lời dành riêng cho tất cả những ai đang làm việc trong hệ thống tuyên giáo, truyền thông và trong gần 800 báo chí của cả nước: Xin hãy làm tất cả với sự trung thực và ngoan cường của mình dấy lên trong cả nước tinh thần: Tổ quốc Việt Nam trên hết! Và xin từng người hãy cố vượt qua cái sợ riêng trong mình để gìn giữ lương tâm người cầm bút, người chiến sỹ trên mặt trận tinh thần của đất nước!

Kết thúc bài này, xin đề nghị ban lãnh đạo mới của Đảng nhiệm kỳ khóa XII huy động trí tuệ trong Đảng và cả nước làm rõ câu hỏi:

- “Thừa nhận Đại hội XII là thất bại chung của cả nước, một thất bại của Việt Nam” là một luận điệu phản động, hay là một sự thật cần nhìn thẳng vào để tìm lối ra cho đất nước?

Hà nội – Võng Thị, ngày 03-02-2016

Khai Dân TríVõng Thị

2015/12/20

Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI...

Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội lần thứ XII và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày 9 tháng 12 năm 2015

Thưa quý vị,

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, hết sức trăn trở, lo âu về vận mệnh đất nước, thấy cần gửi tới Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI cùng các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam một số suy nghĩ và yêu cầu bức thiết phù hợp với ý nguyện của đông đảo nhân dân trong nước và người Việt ở nước ngoài.

1- Qua 30 năm đổi mới, Việt Nam từ một nước kém phát triển trở thành nước đang phát triển ở trình độ trung bình thấp với những tiến bộ về kinh tế và đời sống nhân dân, về thực hiện các “Mục tiêu thiên niên kỷ” do Liên Hiệp Quốc đề ra. Tuy nhiên, so với nhiều nước, nhất là các nước trong khu vực (trong đó có những nước cách đây không lâu còn ở trình độ phát triển ngang hoặc kém nước ta), Việt Nam đã tụt hậu xa hơn cả về kinh tế, khoa học công nghệ và giáo dục, đặc biệt là về năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực trạng kinh tế đang có nhiều bất ổn (nổi lên là ngân sách và cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt nặng kéo dài, nợ công tăng quá nhanh); nhiều tài nguyên bị khai thác cạn kiệt; môi trường bị tàn phá và ô nhiễm nghiêm trọng; văn hóa xuống cấp; đạo đức xã hội bị băng hoại; nhân dân ngày càng mất lòng tin vào thể chế chính trị.

Mặt khác, Trung Quốc ngày càng ngang nhiên thực hiện mưu đồ bành trướng, hòng biến nước ta thành một chư hầu kiểu mới, liên tục xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của nước ta cả trên biên giới đất liền và biển đảo, tăng sự uy hiếp và chi phối đối với nước ta trên nhiều mặt. Thời gian gần đây, trong khi vẫn dùng những lời hoa mỹ về hòa bình, hữu nghị, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những bước leo thang thực hiện mưu đồ bành trướng trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, không chỉ trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn gây bất ổn cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước đều mong muốn và ủng hộ Việt Nam độc lập, phồn vinh, ngăn chặn có hiệu quả các mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Nhiều nước, kể cả những nước phát triển nhất, đã cam kết cùng Việt Nam trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Mới đây, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thu hút Việt Nam tham gia từ đầu đã được ký kết; khối ASEAN mà Việt Nam là thành viên đã nâng cấp sự liên kết thành Cộng đồng. Sự hội nhập quốc tế ở tầm cao hơn đặt ra thách thức mới, song chưa bao giờ Việt Nam có được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cả tinh thần lẫn vật chất của nhân dân và các quốc gia trên thế giới như ngày nay. Đó là cơ hội quý báu, tạo thuận lợi cho sự phát triển hợp tác bình đẳng, hữu nghị giữa nước ta với các nước, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Một nước Việt Nam có thế và lực mạnh trên cơ sở đoàn kết toàn dân tộc, gắn bó giữa nhà nước và nhân dân, là con đường duy nhất để nước ta duy trì hòa bình, hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với Trung Quốc và các nước trên thế giới một cách bình đẳng.

Các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương chuẩn bị trình Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam mặc dù viết rất dài nhưng nặng về nhận định và chủ trương sáo mòn, chưa nhìn đúng sự thật, chưa nêu rõ thực trạng hiểm nguy mà đất nước và nhân dân ta đang đối mặt, đặc biệt là chưa phân tích thẳng thắn nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó.

Sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên con đường đó, trong vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam bám giữ thể chế độc tài toàn trị với bộ máy cầm quyền hết sức nặng nề, thiên về dùng bạo lực và dối trá, vi phạm nhiều quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo thuận lợi cho tệ tham nhũng, ức hiếp dân và sự thao túng của các nhóm lợi ích bất chính. Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc.

Thực tiễn của nước ta cũng như trải nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rõ sai lầm và thất bại của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong nhiều năm qua về thực chất đã từ bỏ những nguyên lý cơ bản về xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Vậy mà các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn nhấn mạnh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kiên định theo con đường xã hội chủ nghĩa, đặt độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường phải gắn với chủ nghĩa xã hội.

2- Trong bối cảnh quốc gia và quốc tế hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc và dân chủ. Hơn lúc nào hết, nước ta vừa có điều kiện, vừa bắt buộc phải tiếp thu và vận dụng sáng tạo các giá trị của văn minh nhân loại để xây dựng Việt Nam thành một nước phát triển trên nền tảng dân chủ với kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, phát huy sức mạnh đoàn kết, hòa giải dân tộc, giữ vững độc lập tự chủ, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia.

Đại hội XII là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có trách nhiệm, vừa có thẩm quyền đề xướng cuộc cải cách chính trị trong hòa bình, với tinh thần khép lại quá khứ, không hồi tố, phát huy dân chủ với tất cả sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Ý chí quyết tâm chuyển đổi thể chế chính trị của Đại hội XII cần được biểu thị bằng những hành động cụ thể như đổi tên đảng (không gọi là Đảng Cộng sản); đổi tên nước (không gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa); trả lại tự do cho những người khác chính kiến đang bị giam giữ; chấm dứt sự trấn áp và ngăn chặn nhân dân thực hiện quyền tự do dân chủ theo Hiến pháp. Đó là những việc có thể làm ngay, quy tụ được lòng người, khơi dậy niềm tin và khí thế đồng tình ủng hộ của nhân dân đối với công cuộc đổi mới chính trị và kinh tế ở tầm cao hơn.

3- Sự nghiệp chuyển đổi thể chế chính trị gắn với đổi mới kinh tế để Việt Nam trở thành nước phát triển trên nền tảng dân chủ đòi hỏi phải tiến hành từng bước với nhiều công việc nặng nề và phức tạp như sửa đổi Hiến pháp; xây dựng mới và hoàn thiện hệ thống luật (đặc biệt là luật bảo đảm thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân đi liền với xây dựng kỷ cương xã hội, luật về đảng chính trị và đảng cầm quyền, luật về đất đai theo chế độ đa sở hữu…); xây dựng bộ máy cầm quyền tinh gọn với ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) độc lập, trong đó Quốc hội được bầu cử thật sự dân chủ, có thực quyền và chuyên trách; hoàn thiện các định chế của một nền kinh tế thị trường đầy đủ với môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh; cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ; đồng thời, có đối sách đúng đắn để giữ gìn và phát triển quan hệ hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng và các nước khác, đặc biệt là các nước phát triển cao, ngăn chặn mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc cả về kinh tế và chính trị, xã hội.

Để hoạch định và thực thi có hiệu quả những công việc đó, yếu tố quyết định là những người đảm nhiệm cương vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, trước hết là những chức vụ chủ chốt, phải là những người có tinh thần kiên quyết đổi mới thể chế cả về chính trị và kinh tế, có năng lực chỉ đạo xây dựng và điều hành thực hiện các chương trình và biện pháp hình thành thể chế mới; có bản lĩnh kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Muốn vậy, công tác nhân sự tại Đại hội XII phải thật sự dân chủ. Các đại biểu Đại hội, với cương vị và trách nhiệm là thành viên của cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm đúng quyền hạn của mình, bãi bỏ những quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về công tác nhân sự không đúng Điều lệ đảng dẫn tới sự chi phối, thậm chí áp đặt của cấp ủy sắp mãn nhiệm đối với nhân sự của cơ quan lãnh đạo nhiệm kỳ mới; yêu cầu Đại hội được bầu trực tiếp Tổng bí thư, và danh sách đề cử không chỉ có một người. Đại hội XII phải bầu được Ban Chấp hành Trung ương khóa mới đủ sức đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Kiên quyết không giao phó trọng trách cho những người mang nặng tư tưởng bảo thủ, giáo điều, đặt lợi ích riêng lên trên vận mệnh dân tộc, tham nhũng hoặc tài sản giàu có bất minh, thiếu bản lĩnh, không có khả năng xử lý những vấn đề do thực tiễn của cuộc sống đất nước đặt ra.

Tuy đối mặt với những thách thức mới rất gay gắt, nhưng với sự cổ vũ và bài học chuyển đổi thể chế độc tài sang dân chủ một cách hòa bình ở nhiều nước, đặc biệt là ở Myanmar mới đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi hơn bao giờ hết để đưa đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới.
Khi chuẩn bị Đại hội VI, dù thời gian họp đã cận kề, cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thời ấy đã kiên quyết viết lại báo cáo chính trị theo tinh thần đổi mới, mở đường cho đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và có bước phát triển mới. Bài học đó cần được vận dụng để thay đổi cách chuẩn bị và tiến hành Đại hội XII đáp ứng được yêu cầu của đất nước và mong đợi của nhân dân. Đó là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và toàn thể các đại biểu dự Đại hội XII trước vận mệnh của dân tộc.

Xin gửi đến quý vị lời chào trân trọng!

DANH SÁCH KÝ TÊN
  1. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng khóa Ba, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974 đến 1987, Hà Nội
  2. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  3. Hoàng Tụy, GS, Hà Nội
  4. Nguyễn Mạnh Can, nguyên Phó ban Tổ chức Trung ương, Hà Nội
  5. Nguyễn Quang A, TS, Hà Nội
  6. Nguyễn Đình An, nguyên Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Quảng Nam - Đà Nẵng, Đà Nẵng
  7. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  8. Nguyễn Văn An, cán bộ hưu trí, TP HCM
  9. Trần Bang, cựu chiến binh, kỹ sư, TP HCM
  10. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
  11. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội
  12. Nguyễn Trọng Bình, nguyên Hiệu trưởng Đại học Tại chức Hải Phòng, Hà Nội
  13. Bùi Văn Bồng, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhà báo, nguyên Trưởng ban Đại diện báo Quân đội Nhân dân khu vực miền Tây Nam bộ, Cần Thơ
  14. Phạm Minh Châu, GSTS Đại học Paris 7 và Đại học Khoa học & Công nghệ Pháp Việt USTH, Hà Nội
  15. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
  16. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
  17. Nguyễn Kim Chi, nghệ sĩ ưu tú, Hà Nội
  18. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
  19. Nguyễn Đình Cống, GS TS, Hà Nội
  20. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn, Lâm Đồng
  21. Nguyễn Đức Dân, GS TS, TP HCM
  22. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, TP HCM
  23. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ Nha khoa, TP HCM
  24. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội
  25. Lê Đăng Doanh, TS, Hà Nội
  26. Nguyễn Thị Xuân Dung, cán bộ hưu trí, TP HCM
  27. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
  28. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, Huế
  29. Phùng Liên Đoàn, TS, Hoa Kỳ
  30. Minh Đường, TS, Giám đốc Trung tâm Xây dựng Môi  trường Văn hóa mới, Viện trưởng Viện Nghiên cứu SENA, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  31. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM
  32. Nguyễn Thanh Giang, TS, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  33. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, TP HCM
  34. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Pháp
  35. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM
  36. Trần Hải Hạc, nguyên PGS Đại học Paris 13, Pháp
  37. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội
  38. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  39. Đặng Thị Hảo, TS, nguyên Phó Ban Ban Văn học Cổ cận đại Viện Văn học, Hà Nội
  40. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
  41. Nguyễn Trọng Hiền, nhà Vật lý, Jet Propulsion Laboratory, California Institute of Technology, Hoa Kỳ
  42. Lại Thị Ánh Hồng, thành viên Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  43. Đoàn Nhật Hồng, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt
  44. Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn), nhà báo, Đà Nẵng
  45. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
  46. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Đà Nẵng
  47. Diệp Đình Huyên, nguyên giám đốc đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Lâm Đồng, hưu trí, Đà Lạt
  48. Phạm Xuân Huyên, GSTS, Đại học Paris Denis Diderot và Viện John Von Neumann, Đại học Quốc gia TP HCM
  49. Hoàng Hưng, nhà thơ, TP HCM
  50. Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học Liège, Bỉ, TP HCM
  51. Nguyễn Thị Xuân Hương, cán bộ hưu trí, TP HCM
  52. Lê Phú Khải, nhà báo, TP HCM
  53. Vũ Trọng Khải, PGS TS, TP HCM
  54. Nguyễn Sỹ Kiệt, TS Khoa học Kỹ thuật, TP HCM
  55. Tương Lai, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, TP HCM
  56. Nguyễn Ngọc Lanh, Nhà giáo Nhân dân, nguyên GS Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
  57. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  58. Hồ Uy Liêm, PGS TS, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  59. Vũ Linh, nhà giáo, Hà Nội
  60. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
  61. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Thư ký của đ/c Mai Chí Thọ, TP HCM
  62. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu, Hà Nội
  63. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (trước 1975), Đại biểu Quốc hội khóa 6, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
  64. Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn
  65. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội
  66. Ngô Minh, nhà thơ, Huế
  67. Bửu Nam, PGS TS, Huế
  68. Trần Tố Nga, nhà giáo về hưu, TP HCM, hiện đang ở Paris
  69. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn giải phóng, TP HCM
  70. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
  71. Hạ Đình Nguyên, cựu tù Côn Đảo, TP HCM
  72. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp, Đại học Xây dựng, Hà Nội
  73. Nguyễn Minh Nguyệt, nguyên cán bộ giảng dạy Đại học Tổng hợp Hà Nội, TP HCM
  74. Trần Minh Nguyệt, cán bộ hưu trí, TP HCM
  75. Trương Duy Nhất, nhà báo độc lập, Đà Nẵng
  76. Hoàng Ý Nhi, nhà thơ, TP HCM
  77. Nguyễn Nhiên, nguyên Giám đốc Trung tâm Quan hệ Quốc tế của thành phố Huế, Huế
  78. Hồ Ngọc Nhuận, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TP HCM
  79. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ, Hội An
  80. Nguyễn Thị Phương, cán bộ hưu trí, TP HCM
  81. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá Công an, Hà Nội
  82. Trần Đức Quế, cán bộ Bộ Giao thông Vận tải, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  83. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, Đà Lạt
  84. Trần Minh Quốc, nhà giáo, TP HCM
  85. Sương Quỳnh (Ngô Kim Hoa), thành viên Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  86. Tạ Cao Sơn, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2, Hà Nội
  87. Nguyễn Kim Sơn (tức Huy Văn), Đại tá, cựu Đội viên Cứu quốc quân, Hà Nội
  88. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
  89. Trần Ngọc Sơn, bút hiệu Nguyễn Trung Chính, kỹ sư, Pháp
  90. Jacques Nguyễn Thái Sơn, Président Interface de la Francophonie, Cố vấn Viện Địa Chính trị Paris (AGP), Pháp
  91. Văn Tạo, GS, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, Hà Nội
  92. Lê Văn Tâm, TS, Nhật Bản
  93. Hoàng Thúc Tấn, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội
  94. Tạ Đình Thính, nguyên Vụ Trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội
  95. Trần Công Thạch, nhà giáo, nguyên cán bộ Thành đoàn TP HCM, thành viên Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, TP HCM
  96. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  97. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội
  98. Huỳnh Kim Thanh Thảo, cử tri, TP HCM
  99. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  100. Nguyễn Quang Thân, nhà văn, TP HCM
  101. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn
  102. Đinh Hoàng Thắng, TS, Thư ký Chương trình “Minh triết làm chủ Biển Đông”, Trung tâm Minh triết, Hà Nội
  103. Đào Tiến Thi, ThS, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  104. Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo về hưu, Pháp
  105. Trần Văn Thọ, GS TS, Đại học Waseda, Nhật Bản
  106. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
  107. Nguyễn Bá Thuận, TS, nhà giáo về hưu, TP HCM
  108. Đào Công Tiến, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên Hiệu trưởng truờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
  109. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
  110. Nguyễn Thị Ngọc Toản, GS, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Khoa Sản Viện Quân Y 108, Hà Nội
  111. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ, Hà Nội
  112. Mạc Văn Trang, PGS TS, Hà Nội
  113. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, TP HCM
  114. Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  115. Thanh Tùng, họa sĩ, TP HCM
  116. Nguyễn Văn Tuyến, Đại tá, cán bộ tiền khởi nghĩa, Hà Nội
  117. Đoàn Sự, Đại tá, nguyên Cục phó thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội
  118. Lưu Trọng Văn, nhà văn, nhà báo, TP HCM
  119. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Lạt, Lâm Đồng
  120. Hồ Trí Việt, nhà báo, nhà văn và phê bình văn học, TP HCM
  121. Trần Đại Vinh, nhà nghiên cứu, Huế
  122. Hà Quang Vinh, hưu trí, TP HCM
  123. Trần Ngọc Vương, GS TS, Hà Nội
  124. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  125. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá Huế, Huế
  126. Phạm Xuân Yêm, GS TS, Pháp
  127. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Hà Nội

Khai Dân TríDSKT