Showing posts with label Nguyễn Minh Cần. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Minh Cần. Show all posts

2015/07/27

ĐƯỜNG TA TA CỨ ĐI

ĐƯỜNG TA TA CỨ ĐI1…

Nhìn lại tình hình ĐCSVN thì thấy rõ trong nội bộ đảng, tình trạng kéo bè, kéo cánh, chống đối nhau vì quyền lợi rất phổ biến ở mọi cấp; đặc biệt ở thượng tầng của đảng, tình trạng đấu đá nhau lại càng nghiêm trọng đến nỗi… thuốc độc, chất phóng xạ cũng được dùng đến để trị nhau. Những năm gần đây, tại các hội nghị TƯ đảng, cuộc vật lộn giữa tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phe cánh với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua nhiều keo từ hội nghị 6 (10.2012) cho đến hội nghị 10 (1.2015), ông Trọng đã bị thất bại ê chề. Trong lúc đó, thế và lực của Ba Dũng ngày càng vững, “đám ăn theo” ông ta trong TƯ đảng ngày càng đông. Theo dư luận, đến đại hội 12 săp tới, ông ta có thể leo lên ngai vàng tổng bí thư, và sẽ nắm toàn bộ quyền lực trong tay cả về mặt đảng lẫn nhà nước. Mặc dù người cầm đầu đảng sẽ thay đổi, sau đại hội sẽ có ban lãnh đạo mới, thế nhưng có thể tin chắc rằng về cơ bản ĐCSVN sẽ không thay đổi đường lối, chính sách, nhất là về mặt đối nội. Về mặt đối ngoại, có thể ĐCSVN sẽ thay đổi chút ít, ve vãn Hoa Kỳ nhiều hơn để mong dựa vào HK cứu chế độ độc tài toàn trị đang lâm nguy. Nhưng ĐCSVN không dám dựa hẳn vào Mỹ, vì ý thức hệ của những người cầm quyền không cho phép và vì họ sợ Trung Cộng (TC), nên về căn bản CSVN vẫn tiếp tục giữ thái độ thuần phục với TC. Hơn nữa, họ vẫn tiếp tục bị ràng buộc bởi những quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và TC. Riêng với cá nhân tổng thống Putin của Liên bang Nga, Nguyễn Tấn Dũng, cũng như tổng bí thư và các ủy viên BCT đương nhiệm đều có lòng quý trọng sâu sắc, đặc biệt là Ba Dũng rất khâm phục cách cai trị nhà nước theo kiểu Putin. Những ai quan sát kỹ các cuộc gặp gỡ của họ với tổng thống Nga đều xác nhận như vậy. Cho nên khi ve vãn Mỹ, các người cầm quyền VN không thể không cân nhắc đến sự phản ứng của Nga. Còn về mặt đối nội, như đã nói trên, ĐCSVN vẫn tiếp tục đàn áp phong trào yêu nước và dân chủ, bóp nghẹt các tổ chức dân sự và hạn chế các quyền tự do, tiếp tục cưỡng chế tước đoạt ruộng đất của dân oan, tiếp tục bóc lột công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động... như trước. Dù Hoa Kỳ và các nước dân chủ Liên Âu, Canada, Úc có đòi hỏi VN phải thực thi dân quyền, nhân quyền, quyền của công nhân… nhưng tập đoàn cầm quyền CS vẫn tiếp tục lươn lẹo, bịp bợm để đánh lừa dư luận chứ không nghiêm túc thực thi mọi đòi hỏi của các nước dân chủ. Vì thế, các chiến sĩ dân chủ và nhân quyền cũng như toàn thể đồng bào chớ nên có ảo tưởng gì về ĐCSVN, về ban lãnh đạo mới cũng như tổng bí thư mới của đảng là họ có thể dân chủ hóa chế độ, mà trái lại các phong trào dân chủ cũng như các tổ chức dân sự cần tiếp tục đi theo con đường của chúng ta đã định là tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh đấu tranh cho chủ quyền đất nước, cho tự do, dân chủ và nhân quyền để tạo nội lực mạnh mẽ, đợi thời cơ giành lấy thắng lợi cuối cùng.

Cần nhận rõ rằng từ lâu rồi ĐCSVN đã đổi khác nhiều lắm. Nếu những năm 30, 40, phần đông đảng viên còn có lý tưởng CS và thật lòng tin vào lý tưởng đó – dù lý tưởng đó là không tưởng, nhưng họ vẫn hết lòng tin, chân thành tin, và đã chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn, toàn tâm toàn ý chiến đấu cho lý tưởng đó, dù phải hy sinh cũng không ngần ngại, – thì ngày nay, khi “thành trì đời đời bền vững của chủ nghĩa CS và phong trào CS quốc tế” là Liên Xô đã bị sụp đổ, chủ nghĩa Marx-Lenin đã “hết thiêng”, hầu hết các đảng viên đều nhận ra cái gọi là “lý tưởng” đó chỉ là hoang tưởng. Giờ đây, trên 3 triệu 600 ngàn đảng viên CSVN không còn lý tưởng CS nữa, mà chỉ có “lý tưởng” thực dụng: vào ĐCS để có địa vị, dễ kiếm lợi, dễ tham nhũng, dễ bóc lột dân đen, dễ bảo đảm cuộc sống tốt cho mình và gia đình… Thực tế cho thấy ĐCS không còn là một đảng chính trị đứng đắn mà đã biến chất thành một đảng-nhà nước-mafia, thậm chí một băng đảng cướp, sống bám trên cơ thể của xã hội, đè nén, áp bức, tham nhũng, bóc lột nhân dân. Dù bị nhân dân thù ghét, nhưng ĐCS vẫn cố sống cố chết bám lấy quyền lực, và sở dĩ nó còn tồn tại đến ngày nay là nhờ bạo lực, khủng bố, đàn áp và tuyên truyền lừa dối, bịp bợm. Trước mắt quảng đại quần chúng nhân dân VN, kể cả các giai cấp công nhân, nông dân là những tầng lớp mà ĐCSVN coi là đồng minh chiến lược của đảng, thì bộ mặt thật xấu xa của ĐCSVN đã phơi bày quá rõ rệt. Cái thời dân chúng Việt Nam mê muội, mù quáng “tin yêu” đảng đã qua rồi, bây giờ đã bắt đầu thời khinh bỉ, thù ghét và hết sợ đảng. Những trận chiến đấu của dân oan ở Tiên Lãng, Hải Phòng, ở Văn Giang, Hưng Yên, ở Vụ Bản, Nam Định, ở Thạnh Hóa, Long An… chống cưỡng chế thu hồi đất đai, những cuộc đình công hàng chục vạn công nhân lao động ở Sài Gòn, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang chống điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội của nhà nước, những cuộc xuống đường mãnh liệt ở Vĩnh Tân, Bình Thuận để phản đối ô nhiễm môi sinh, v.v… chứng tỏ điều đó. Trong thời đại “bùng nổ thông tin”, thời đại Internet, người dân được biết nhiều hơn về những “thành tích bất hảo” của các “lãnh tụ”, các cán bộ, đảng viên, từ lối sống xa hoa, đế vương, sa đọa, đến những vụ tham nhũng động trời, những nhà cửa, biệt thự lộng lẫy, hoành tráng, những xe hơi, du thuyền “siêu mốt”, đến những chuyện bán đất, bán biển, bán đảo của Tổ quốc… nên uy tín của ĐCSVN đã hầu như chỉ còn là con số “không” trong lòng người dân. Trong lúc đó thì ngay trong nội bộ đảng, tình trạng kéo bè, kéo cánh, chống đối nhau vì quyền lợi rất phổ biến ở mọi cấp, nhất là ở cấp cao nhất. Tất cả các hiện tượng đó báo hiệu ngày tàn của ĐCSVN không còn xa nữa. Đảng sẽ sụp đổ như thế nào thì không ai biết trước được. Nhưng, chắc chắn là sự sụp đổ đó đang đến gần và điều đó không thể nào tránh được.

Cũng có người mong rằng trong đảng còn có những đảng viên sáng suốt nhận rõ tình hình thực tế để xoay chuyển tình thế, đưa ĐCS ra khỏi vũng lầy giáo điều, bảo thủ, thoát khỏi tình trạng tham nhũng tràn lan, thoát khỏi cái ách lệ thuộc tên láng giềng bành trướng, đưa đảng trở về với nhân dân. Họ cho rằng đó là con đường tốt nhất để hòa bình chuyển hóa chế độ độc tài toàn trị sang chế độ dân chủ đích thực. Nhưng, ước mong đó không thực tế, trước nhất vì ĐCS và “lý tưởng” CS chống lại dân chủ, họ không muốn và không thể xây dựng chế độ dân chủ đích thực. Hơn nữa, trong tình hình thực tế hiện nay, khi lực lượng giáo điều bảo thủ và thế lực bạc nhược, đầu hàng Trung Cộng đã từ rất lâu khống chế triệt để mọi ý hướng tiến bộ trong ĐCS thì chắc chắn rằng điều mong muốn đó không thể nào trở thành hiện thực được.

Phong trào dân chủ Việt Nam nhất định phải đi theo con đường riêng của mình mạnh bạo hơn, cương quyết hơn để tới mục đích cuối cùng. Theo chúng tôi nghĩ, con đường đó là ra sức phát triển và củng cố xã hội dân sự, ra sức vận động những người trong hệ thống quân-dân-chính của ĐCS có thiện cảm hay ít nhất có thái độ trung lập với phong trào yêu nước và dân chủ, vừa đấu tranh vừa tăng cường nội lực cho phong trào yêu nước và dân chủ, chờ đợi thời cơ để dũng cảm tiến lên giành thắng lợi cho công cuộc giải phóng dân tộc khỏi chế độ độc tài toàn trị.

THỜI CƠ SẼ ĐẾN
Chúng tôi nhấn mạnh “chờ đợi thời cơ để dũng cảm tiến lên giành thắng lợi…” là có ý nói rằng cần tránh tinh thần sốt ruột, phiêu lưu, manh động có thể gây thất bại cho phong trào, mà phải biết kiên nhẫn chờ đợi thời cơ thuận lợi để giành thắng lợi. Vì sao vậy? Chúng ta cần phải luôn luôn nhớ đến hoàn cảnh địa chính trị của nước ta. Số phận đã an bài đất nước ta sống cạnh một nước lớn đầy tham vọng bành trướng: từ thời phong kiến xa xưa cho đến thời CS ngày nay, nước đó luôn luôn có mưu đồ xâm lược nước ta, nhất là lợi dụng khi nước ta có biến động lớn hoặc bị suy yếu là họ kiếm cớ can thiệp vào. Vì vậy, các chiến sĩ dân chủ phải biết kiên nhẫn chờ đợi khi thời cơ đến mới có thể hành động quyết liệt để giành thắng lợi quyết định được. Vậy khi nào thời cơ sẽ đến? Thời cơ sẽ đến khi Trung Cộng bị sa lầy trong bạo loạn và trên đà sụp đổ, trong lúc đó “bọn thái thú Việt Cộng” của chúng ở phương Nam cũng đang trên đà tan rã. Chúng tôi biết, nghe như thế sẽ có những người phản đối cho rằng nhận định đó là viển vông: nước Tầu CS đang còn mạnh lắm cả về mặt kinh tế lẫn quân sự, và ĐCSVN với trên 3 triệu 600 ngàn đảng viên vẫn đang còn vững vàng, nếu cứ chờ đợi như thế thì bao giờ mới có thời cơ được?!

Ngay từ năm 2008, tình trạng thất nghiệp ở Trung Quốc đã nghiêm trọng, trong 10 tháng đầu 2008, đã có thêm 10,2 triệu người mất việc; tổng số sinh viên ra trường năm 2008 là 24 triệu người, nhưng các thành phố chỉ cung ứng được chừng 12 triệu việc làm thôi. Trên 200 triệu lao động nông thôn ra thành phố tìm việc đang gặp khó khăn, trong lúc đó thì các nhà máy của các công ty công nghiệp nhẹ và may mặc ở vùng duyên hải đông nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới, khối lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc bị giảm sút nhiều; vì thế, riêng tỉnh Quảng Đông được coi là trung tâm ngành công nghiệp chế biến để xuất khẩu có thể phải đóng cửa 1/5 số nhà máy trong tháng 1.2009. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ năm 2009 tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nữa, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sự ổn định xã hội. Đó là: tổng số nợ của Trung Quốc trong khu vực công tư cao chưa từng có, chính phủ không dám công bố sự thật nên theo báo cáo của Bắc Kinh thì đến cuối năm 2012 số nợ ở mức 8.400 tỉ nhân dân tệ (1.400 tỉ USD) bằng 16% GDP (tổng sản phẩm nội địa), nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng thực ra con số đó cao hơn nhiều, theo Standar Chartered tổng số nợ của Trung Quốc là 40.000 tỉ nhân dân tệ chứ không phải 8.400 tỉ như chính phủ công bố, còn IMF đưa ra con số thấp nhất là 46%, tức là gần một nửa GDP. Nhiều địa phương không thể chi trả nợ được, và hiện đang nằm bên bờ vực phá sản. Đó là: bong bóng bất động sản đang có nguy cơ bị vỡ, hiện trong nước đã có hàng chục thành phố “ma”, trong đó hai thành phố “ma” lớn nhất là Ordos ở Nội Mông và Trịnh Đông; ngoài ra còn những thành phố “ma” khác, như Trình Cống tỉnh Vân Nam, Doanh Đông tỉnh Liêu Ninh, Thường Châu tỉnh Giang Tô, Thập Yển tỉnh Hồ Bắc, Huệ Châu tỉnh Quảng Đông, Ôn Châu tỉnh Chiết Giang, v.v… Ngay cả ở tỉnh giàu có, như Giang Tô cũng có hai thành phố “ma”. Còn ở Trịnh Châu thì có trung tâm mua sắm “ma” Orient Center – mở cửa ba năm mà chẳng bao giờ thấy bóng khách mua… Tổng số nhà cửa, căn hộ bị bỏ trống cả nước Trung Quốc lên tới 64 triệu căn hộ. Năm 2015, sau trận bong bóng địa ốc xì hơi thì tiếp đến đầu tháng 7 vừa rồi thị trường chứng khoán sụp đổ làm cho trên trăm triệu gia đình người dân Trung Quốc mấy năm qua đổ xô chơi chứng khoán với hy vọng làm giàu nhanh chóng nay bị mất trắng 2360 tỉ đô-la, tiêu tan hết cơ nghiệp và tài sản vì sự đổ vỡ này. Số thiệt hại trong vòng ba tuần lễ lớn bằng 35% tổng sản phẩm nội địa (GDP) của cả nước Trung Quốc và sẽ còn có ảnh hưởng lâu dài đến thị trường bất động sản nước này! Đây lại thêm một chỉ dấu nữa cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang bước tới thời kỳ nguy khốn. Đó là: một số lượng lớn các công dân lẫn cán bộ, đảng viên đã “bỏ phiếu bằng chân” rời bỏ đất nước;
Không đâu, các bạn ạ! Đó chỉ là nhìn bề ngoài mà không đi sâu vào thực chất. Viết đến đây, chúng tôi nhớ đến câu nói của Vaclav Havel, cố Tổng thống Cộng hòa Czech: «... Trong các buổi chuyện trò, nhiều lần tôi nhấn mạnh rằng trong một chế độ toàn trị, thật khó mà nhìn thấu ruột thấu gan của xã hội. Khi nhìn quanh chỉ thấy xã hội là một khối nguyên vẹn và đâu đâu cũng chỉ thấy một sự trung thành với chế độ. .../...do nỗi sợ đào luyện con người, nên cái vẻ ngoài nguyên vẹn như thế thực ra lại là vô cùng yếu đuối. Không một ai có thể tiên báo một ngày nào đó, chỉ một nắm tuyết cỏn con tình cờ sẽ tạo ra cả một trận núi tuyết lở. ...Cách đây hai chục năm, ở Tiệp Khắc có một nắm tuyết cỏn con xuất hiện dưới hình thù một cuộc đàn áp hung bạo đối với sinh viên, và nắm tuyết đó đã biến thành trận núi tuyết lở. Thế rồi toàn bộ hệ thống toàn trị đã lung lay, rồi sụp đổ như một tòa lâu đài ghép bằng giấy bồi».

Ngày nay, nhiều nhà Trung Quốc học nổi tiếng, như các giáo sư Gordon Chang, David Shambaug, v.v… đã chỉ cho chúng ta thấy ngày tàn của Trung Cộng đã bắt đầu, và họ cho rằng điều đó diễn tiến mạnh và nhanh hơn nhiều người tưởng. Vẻ ngoài của chế độ độc tài toàn trị của Trung Quốc trông tưởng là hùng mạnh và ổn định, nhưng bên trong của nó chứa đựng rất nhiều “quả bom nổ chậm”. Đó là: một “búi” những mâu thuẫn cực kỳ nan giải của Trung Quốc: mâu thuẫn giữa sự phát triển nhanh chóng của vùng ven biển trù phú và vùng sâu trong nội địa nghèo khổ; mâu thuẫn giữa thành thị phát triển với vùng nông thôn lạc hậu; mâu thuẫn giữa các dân tộc – nhất là hai dân tộc Tây Tạng và Uighur – với dân tộc Đại Hán; mâu thuẫn giữa người nghèo với người giàu vì hố cách biệt quá xa giữa người giàu với người nghèo gây ra sự bất bình đẳng xã hội gay gắt. Thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc khoảng 8000 USD/năm, tuy thế 13,1% dân số vẫn sống dưới mức 440 USD/năm (1,25 USD/ngày). Đó là: tình trạng môi trường sống bị ô nhiễm rất nghiêm trọng: ô nhiễm không khí đã ở mức báo động cực kỳ nguy hiểm, nhân dân nhiều đô thị, nhất là Bắc Kinh và các vùng công nghiệp, không còn không khí trong lành để thở; nguồn nước có thể uống được đã giảm đi nhanh chóng, hơn 28 ngàn con sông đã chết; hạn hán tại các vùng Tây Bắc trở thành vấn nạn thường xuyên do lượng mưa ngày một giảm trong khi nhiệt độ lại cứ tăng đều đều làm cho tình trạng sa mạc hóa vùng Tây Bắc ngày càng trầm trọng. Sự hủy hoại môi trường và nạn ô nhiễm môi trường Trung Quốc đứng vào hạng xấu nhất trên thế giới, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tuổi thọ của người dân, bệnh ung thư phát triển mạnh. Nhiều công ty nước ngoài đã chuyển xí nghiệp ra khỏi Trung Quốc và nhiều chuyên gia đã ra đi vì lý do môi trường. Để giải quyết vấn nạn môi trường, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất: hy sinh tăng trưởng kinh tế để đầu tư vào cải tạo môi trường. Nhưng như thế thì các bất ổn xã hội sẽ được dịp bùng phát mạnh hơn nữa. Đó là: từ năm 2012, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang sút giảm khá nhanh, chính phủ đang cố sức duy trì ở mức 7% để tạo đủ công ăn việc làm cho người dân, thu nhận lực lượng nhân công mới vào thị trường lao động, và duy trì sự ổn định, tránh những bạo động xã hội. Nhưng theo dự báo của nhiều nhà kinh tế, trong thời gian tới mức tăng trưởng có thể xuống đến 5%, sẽ khó tránh những bạo động xã hội lớn. Ngay từ năm 2008, tình trạng thất nghiệp ở Trung Quốc đã nghiêm trọng, trong 10 tháng đầu 2008, đã có thêm 10,2 triệu người mất việc; tổng số sinh viên ra trường năm 2008 là 24 triệu người, nhưng các thành phố chỉ cung ứng được chừng 12 triệu việc làm thôi. Trên 200 triệu lao động nông thôn ra thành phố tìm việc đang gặp khó khăn, trong lúc đó thì các nhà máy của các công ty công nghiệp nhẹ và may mặc ở vùng duyên hải đông nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới, khối lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc bị giảm sút nhiều; vì thế, riêng tỉnh Quảng Đông được coi là trung tâm ngành công nghiệp chế biến để xuất khẩu có thể phải đóng cửa 1/5 số nhà máy trong tháng 1.2009. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ năm 2009 tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nữa, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sự ổn định xã hội. Đó là: tổng số nợ của Trung Quốc trong khu vực công tư cao chưa từng có, chính phủ không dám công bố sự thật nên theo báo cáo của Bắc Kinh thì đến cuối năm 2012 số nợ ở mức 8.400 tỉ nhân dân tệ (1.400 tỉ USD) bằng 16% GDP (tổng sản phẩm nội địa), nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng thực ra con số đó cao hơn nhiều, theo Standar Chartered tổng số nợ của Trung Quốc là 40.000 tỉ nhân dân tệ chứ không phải 8.400 tỉ như chính phủ công bố, còn IMF đưa ra con số thấp nhất là 46%, tức là gần một nửa GDP. Nhiều địa phương không thể chi trả nợ được, và hiện đang nằm bên bờ vực phá sản. Đó là: bong bóng bất động sản đang có nguy cơ bị vỡ, hiện trong nước đã có hàng chục thành phố “ma”, trong đó hai thành phố “ma” lớn nhất là Ordos ở Nội Mông và Trịnh Đông; ngoài ra còn những thành phố “ma” khác, như Trình Cống tỉnh Vân Nam, Doanh Đông tỉnh Liêu Ninh, Thường Châu tỉnh Giang Tô, Thập Yển tỉnh Hồ Bắc, Huệ Châu tỉnh Quảng Đông, Ôn Châu tỉnh Chiết Giang, v.v… Ngay cả ở tỉnh giàu có, như Giang Tô cũng có hai thành phố “ma”. Còn ở Trịnh Châu thì có trung tâm mua sắm “ma” Orient Center – mở cửa ba năm mà chẳng bao giờ thấy bóng khách mua… Tổng số nhà cửa, căn hộ bị bỏ trống cả nước Trung Quốc lên tới 64 triệu căn hộ. Năm 2015, sau trận bong bóng địa ốc xì hơi thì tiếp đến đầu tháng 7 vừa rồi thị trường chứng khoán sụp đổ làm cho trên trăm triệu gia đình người dân Trung Quốc mấy năm qua đổ xô chơi chứng khoán với hy vọng làm giàu nhanh chóng nay bị mất trắng 2360 tỉ đô-la, tiêu tan hết cơ nghiệp và tài sản vì sự đổ vỡ này. Số thiệt hại trong vòng ba tuần lễ lớn bằng 35% tổng sản phẩm nội địa (GDP) của cả nước Trung Quốc và sẽ còn có ảnh hưởng lâu dài đến thị trường bất động sản nước này! Đây lại thêm một chỉ dấu nữa cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang bước tới thời kỳ nguy khốn. Đó là: một số lượng lớn các công dân lẫn cán bộ, đảng viên đã “bỏ phiếu bằng chân” rời bỏ đất nước; giới kinh doanh cùng gia đình họ đang và sẵn sàng mang theo vốn liếng bỏ chạy ra nước ngoài hàng loạt. Năm 2014, Viện nghiên cứu Hồ Nhuận (Hurun Research Institute) Thượng Hải chuyên nghiên cứu về giới giàu có Trung Quốc, đã phát hiện ra rằng 64% các “cá nhân có lợi tức ròng cao” mà họ thăm dò (gồm 393 triệu phú và tỉ phú) đang di cư hoặc đang có kế hoạch di cư ra nước ngoài, chờ giờ phút thuận lợi để nhảy ra khỏi con tàu sắp lật của Trung Cộng. Trong sách Xanh về di dân Trung Quốc trên thế giới do Center for Chinese Globallization ấn hành cũng cho biết từ năm 1990, đã có 9,3 triệu người Trung Quốc di cư ra nước ngoài mang theo 2.800 tỉ nhân dân tệ (46 tỉ USD). Trong khi đó, Bắc Kinh đang cố tìm cách giải về nước một số lượng lớn những kẻ trốn chạy đem tiền ra sống ở nước ngoài. Theo tin của Bắc Kinh “khoảng 19 ngàn quan chức đã bị bắt giữ trong vòng 12 năm qua, đang lúc họ tìm cách trốn ra nước ngoài với lượng tiền kiếm được bất hợp pháp từ trong nước”. Đó là: nạn tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới. Tổ chức Minh bạch quốc tế xếp Trung Quốc vào hạng 80 trong bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng năm 2013. Chiến dịch “đánh hổ, đập ruồi” của Tập Cận Bình đã triệt hạ nhiều con hổ, nhưng thực ra mục đích chính của họ Tập là nhằm chặt vây cánh của phe đối lập để tập trung quyền lực vào tay cá nhân của ông ta. Đó là: sự bất mãn xã hội của công nhân, nông dân và nhiều tầng lớp quần chúng ngày càng tích lũy, hàng năm có đến trên hàng ngàn vụ bạo động dữ dội, do tranh chấp lao động, do cưỡng bức tước đoạt ruộng đất, do tham nhũng của các quan chức cán bộ, do việc ô nhiễm môi trường. Trong năm 2010 đã có 180 ngàn cuộc đình công, biểu tình, thậm chí bạo loạn, có nhiều cuộc rất mãnh liệt. Chẳng hạn, vào tháng 12.2011, 12 ngàn người dân Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông bất bình với đảng ủy CS địa phương, đã nổi dậy và đuổi bí thư đảng ủy. Chính quyền tỉnh Quảng Đông đã phải lùi bước trước ý chí quật cường của người dân Ô Khảm, và tháng 3.2013 đã phải chấp nhận cho dân làng này tổ chức một cuộc bầu cử trực tiếp và tự do; họ đã bầu một người lãnh đạo của phong trào nổi dậy, ông Lâm Tổ Luyến, làm chủ tịch làng. Hay cuộc đụng độ giữa hàng trăm công an và nông dân giữ đất ngày 14.10.2014, tại huyện Tấn Thành, Côn Minh, tỉnh Vân Nam do chính quyền muốn cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân để giao cho công ty Pan-Asian xây dựng nhà máy. Hàng trăm công an được huy động đến đàn áp. Cảnh sát cơ động đã đánh chết hai người nông dân. Gần 1000 dân làng và các thị trấn lân cận nổi giận đã tập trung, đập phá xe cảnh sát, ném đá vào công an buộc họ phải tháo chạy; 8 công an không chạy kịp, bị dân chúng bắt được, trói lại và đốt sống. Đó là: sự run sợ của tập đoàn thống trị CSTQ trước những trào lưu dân chủ, tiến bộ. Từ khi lên ngôi vào năm 2012, Tập Cận Bình đã tăng cường đàn áp chính trị rất ác liệt. Mục tiêu nhắm vào báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, nghệ thuật và văn học, các nhóm tôn giáo, Internet, trí thức, dân Tây Tạng và dân Uighur, những người bất đồng chính kiến, luật sư, tổ chức phi chính phủ, sinh viên đại học… Hoảng sợ trước “phong trào thoái đảng” đang sục sôi khắp Trung Quốc (số người thoái đảng, thoái đoàn, thoái đội đã vượt qua con số 200 triệu), nên năm 2013, TƯ đảng đã ra một chỉ thị đưa xuống cấp dưới yêu cầu tất cả các đơn vị phải tìm ra mọi biểu hiện có vẻ tán đồng "các giá trị phổ quát" của phương Tây - gồm dân chủ lập hiến, xã hội dân sự, tự do báo chí và kinh tế tân tự do… để siết chặt sự kiểm soát cán bộ, đảng viên hơn nữa.

Nên nhớ rằng khi thời cơ đến, việc xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị tuy có những khó khăn nhất định, nhưng những người dân chủ vẫn có thể dễ dàng vượt qua được. Tuy nhiên, cái khó khăn cực kỳ lớn lao trước mắt những người dân chủ là việc xây dựng lại Đất Nước trên nền tảng dân chủ sau hơn 70 năm bị ĐCSVN tàn phá nặng nề về mọi mặt, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài đều nát bét, ung thối, hư hỏng, trong lúc lòng dân còn ly tán, đạo đức trong xã hội còn sa đọa, sự phá hoại của những kẻ bị mất quyền lợi vẫn còn ngấm ngầm, v.v… Ngay cái việc giữ gìn trật tự, an ninh, kiềm chế lòng căm hờn của người dân đối với những kẻ ác ôn dưới chế độ CS để tránh những vụ trả thù đẵm máu, những vụ tự động “xử án”, những vụ cướp của, hôi của phi pháp… cũng không đơn giản tí nào. Đó là chưa nói đến những thế lực “phục thù” cực đoan từ đâu đấy trở về gây rối loạn, trong lúc những người dân chủ trong và ngoài nước cần tập trung toàn bộ sức lực vào việc kiến tạo từ đầu một chế độ mới về mọi mặt: chính trị, kinh tế, tài chính, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v… Tất cả những khó khăn đó đòi hỏi những người dân chủ một sự sáng suốt cao độ, một bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, khôn khéo, cương quyết và bao dung, không để lòng thù hận và thói ích kỷ làm mờ tối cái tâm của mình, biết dẹp bỏ đầu óc phe phái, cục bộ, biết hòa giải, hòa hợp dân tộc, biết đoàn kết toàn dân VÌ LỢI ÍCH TỔ QUỐC TRÊN HẾT, biết tận dụng tài trí của mọi chuyên gia Việt Nam trong và ngoài nước (kể cả những chuyên gia đã từng phục vụ cho CS nay thành tâm muốn phục vụ cho chế độ dân chủ) để cùng nhau xây dựng lại nước nhà. Phải vận dụng được SỨC LỰC VÀ TRÍ TUỆ TẬP THỂ CỦA TOÀN DÂN, chúng ta mới có thể vượt qua được khó khăn lớn lao này. Cố nhiên, Công Lý đòi hỏi phải trừng trị nghiêm minh những kẻ đã từng gây tội ác nặng nề đối với Tổ Quốc và đồng bào, nhưng mọi việc đó phải làm theo đúng luật pháp với tinh thần công minh và không vướng chút lòng hận thù hay ý muốn trả thù nào.
Khi phân tích tất cả những điều nói trên, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng sự sụp đổ của Trung Cộng đang đến gần, và theo dự đoán của nhiều người, sự sụp đổ đó sẽ không nhẹ nhàng, êm dịu mà có thể là dữ dội, hung bạo. Không ai biết khi nào sẽ xảy ra, nhưng hiện đã có tất cả những dấu hiệu cho thấy những “quả bom nổ chậm” sẽ bùng lên.

Còn về ĐCSVN, đã từ lâu các đảng viên và nhất là đám cán bộ càng cao càng không có lý tưởng gì hết, ngoài “lý tưởng” bám lấy quyền lực để cướp đoạt tài sản, ruộng vườn, nặn bóp nhân dân. ĐCS ngày nay đã trở thành một đảng-nhà nước-mafia chính hiệu, nói rõ hơn là một băng đảng cướp. Nó đang lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, từ tư tưởng, niềm tin, đến đường lối, chính sách và cán bộ... Nhưng nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với ĐCS là quần chúng nhân dân ta không còn ai tin băng đảng đó nữa, bề ngoài người ta bắt buộc phải giả vờ tung hô, nhưng khi có cơ hội thì người dân sẽ cho toàn ĐCS “xuống hố cả nút”. Khi bọn bành trướng Đại Hán sắp bị nhân dân Trung Quốc quật đổ, thì lực lượng yêu nước và dân chủ của ta sẽ tăng trưởng vô cùng nhanh chóng, trong lúc đó tập đoàn thống trị CSVN mất chỗ dựa cuối cùng là TC thì sẽ càng lao đao, rối loạn… Tất nhiên, lúc đó chúng sẽ cố tìm cách ve vãn để bám Mỹ hòng cứu chế độ của chúng. Nhưng khi TC sắp/đã sụp đổ thì chắc gì Mỹ sẽ còn cần đến CSVN nữa, mà rất có thể Mỹ sẽ thấy cần thiết giúp cho lực lượng dân chủ VN đang lên, vì một nước VN thật sự dân chủ sẽ là một đồng minh chắc chắn và lâu dài cho HK trong tương lai. Đây sẽ là cơ hội tuyệt vời cho phong trào yêu nước và dân chủ nước ta! Những người dân Việt Nam yêu nước, bao năm đau đáu lo cho số phận của Tổ Quốc và Dân Tộc, thiết tha mong mỏi tự do, dân chủ phải biết chuẩn bị sẵn sàng mà chủ động, dũng cảm chớp lấy thời cơ ngàn năm có một để giành thắng lợi cho công cuộc giải phóng Tổ Quốc và Dân Tộc khỏi cái họa CS độc tài toàn trị này.

Xin hãy cảnh giác! Đừng hy vọng gì ở cái gọi là “nhóm cấp tiến” trong ĐCSVN cả! Đã bao thập niên nay chẳng thấy tăm hơi cái “nhóm” đó ở đâu cả! Còn khi thời cơ đến, những kẻ tự xưng là “nhóm cấp tiến” trong ĐCSVN sẽ chỉ là những tên cơ hội CS muốn nhân dịp thuận lợi “nẫng tay trên” thành quả đấu tranh hơn bảy thập niên của các chiến sĩ yêu nước trước đây và các chiến sĩ dân chủ ngày nay ở nước ta để tiếp tục thống trị Tổ Quốc Việt Nam.

CẦN CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐÓN THỜI CƠ
Thời cơ bao giờ cũng đến rất bất ngờ, những người lãnh đạo phong trào cần chuẩn bị tinh thần, trí tuệ để tiên đoán tình hình có thể sẽ diễn biến ra sao và suy tính trước cách ứng xử của những người dân chủ phải như thế nào… Nên nhớ rằng khi thời cơ đến, việc xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị tuy có những khó khăn nhất định, nhưng những người dân chủ vẫn có thể dễ dàng vượt qua được. Tuy nhiên, cái khó khăn cực kỳ lớn lao trước mắt những người dân chủ là việc xây dựng lại Đất Nước trên nền tảng dân chủ sau hơn 70 năm bị ĐCSVN tàn phá nặng nề về mọi mặt, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài đều nát bét, ung thối, hư hỏng, trong lúc lòng dân còn ly tán, đạo đức trong xã hội còn sa đọa, sự phá hoại của những kẻ bị mất quyền lợi vẫn còn ngấm ngầm, v.v… Ngay cái việc giữ gìn trật tự, an ninh, kiềm chế lòng căm hờn của người dân đối với những kẻ ác ôn dưới chế độ CS để tránh những vụ trả thù đẵm máu, những vụ tự động “xử án”, những vụ cướp của, hôi của phi pháp… cũng không đơn giản tí nào. Đó là chưa nói đến những thế lực “phục thù” cực đoan từ đâu đấy trở về gây rối loạn, trong lúc những người dân chủ trong và ngoài nước cần tập trung toàn bộ sức lực vào việc kiến tạo từ đầu một chế độ mới về mọi mặt: chính trị, kinh tế, tài chính, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v… Tất cả những khó khăn đó đòi hỏi những người dân chủ một sự sáng suốt cao độ, một bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, khôn khéo, cương quyết và bao dung, không để lòng thù hận và thói ích kỷ làm mờ tối cái tâm của mình, biết dẹp bỏ đầu óc phe phái, cục bộ, biết hòa giải, hòa hợp dân tộc, biết đoàn kết toàn dân VÌ LỢI ÍCH TỔ QUỐC TRÊN HẾT, biết tận dụng tài trí của mọi chuyên gia Việt Nam trong và ngoài nước (kể cả những chuyên gia đã từng phục vụ cho CS nay thành tâm muốn phục vụ cho chế độ dân chủ) để cùng nhau xây dựng lại nước nhà. Phải vận dụng được SỨC LỰC VÀ TRÍ TUỆ TẬP THỂ CỦA TOÀN DÂN, chúng ta mới có thể vượt qua được khó khăn lớn lao này. Cố nhiên, Công Lý đòi hỏi phải trừng trị nghiêm minh những kẻ đã từng gây tội ác nặng nề đối với Tổ Quốc và đồng bào, nhưng mọi việc đó phải làm theo đúng luật pháp với tinh thần công minh và không vướng chút lòng hận thù hay ý muốn trả thù nào.

Người viết đã từng chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô quá đột ngột, không ai lường trước được, nên những người lãnh đạo phong trào dân chủ lúng túng, bối rối, rất khó tránh những sai lầm có hậu quả xấu. Đó là một bài học đáng nhớ cho chúng ta.

CẦN GIẢI TỎA MỘT NGỘ NHẬN
Theo chúng tôi nghĩ, trước mắt cần phải giải tỏa một ngộ nhận. Một số trí thức, nhân sĩ – thường là những người trước đây từng có vai vế trong bộ máy cầm quyền CS – có ý muốn đổi mới thật sự, có ước vọng cải cách chế độ, nhưng lại cho rằng phải dựa vào ĐCSVN, đề nghị ban lãnh đạo đảng đổi mới về chính trị thì mới hy vọng thành tựu được, vì họ lập luận: “thực ra, ngày nay ngoài ĐCSVN, không có tổ chức nào có thể làm được việc đó”. Mới đây, một nhà trí thức có tên tuổi cũng đã tuyên bố trên đài BBC đại ý như vậy. Người viết nghĩ rằng đó là một ngộ nhận nguy hiểm. Chúng ta cần thấy rõ rằng tập đoàn thống trị ĐCSVN không những không yêu nước mà trái lại bán rẻ Tổ Quốc, không những không dân chủ, tự do mà chống lại dân chủ, tự do để cố duy trì chế độ độc tài toàn trị của chúng. Thế mà quý vị lại hy vọng vào cái ban lãnh đạo CSVN bảo thủ, giáo điều này sẽ thực hiện những đề nghị, kiến nghị, những cầu xin dân chủ hóa của quý vị thì chắc chắn là quý vị sẽ thất vọng, và phong trào dân chủ sẽ bỏ quý vị tụt lại đằng sau xa. Người viết tin chắc rằng nhiều nhà trí thức trong nước có ý kiến khác hẳn với quý vị. Cái nhìn của quý vị là “tĩnh”, không phải “động”, cái nhìn đó chỉ dẫn đến cái thuyết “cứ để cho ĐCSVN muôn năm trường trị Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam!” Lẽ nào quý vị lại muốn thế chăng?!

Mọi người đều biết, cha ông ta thường nói: “Thời thế tạo anh hùng”. Nghĩa là trong đấu tranh sẽ xuất hiện người lãnh đạo giỏi. Và một khi phong trào nổi lên, nhất là khi nhân dân ta sắp/đã giành được thắng lợi sẽ không thiếu nhân tài xuất hiện cả trong nước lẫn ngoài nước, có đầy đủ trí tuệ và đức hạnh, có nhiều khả năng để điều hành việc nước hơn đứt cái băng đảng mafia lú lẫn, giáo điều, bảo thủ, tham nhũng hiện nay. Những đảng chính trị thật sự yêu nước, thương dân cũng từ những nhân tài đó mọc lên.

Chỉ có một điều rất quan trọng là dân mình phải biết tự hòa giải, hòa hợp với nhau, biết đoàn kết, gắn bó nhau lại thành một khối vững chắc thì Dân Tộc Việt Nam nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng, bảo vệ được nền độc lập, thiết lập được chế độ dân chủ đích thực, đa nguyên, đa đảng, đem lại công bằng xã hội và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho người dân./.

Ngày 27.7.2015
Nguyễn Minh Cần

“1. Đường ta ta cứ đi…” – xin mượn lời một bài hát phổ biến hồi kháng chiến chống Pháp để làm tựa đề cho bài thứ hai này, tiếp sau bài thứ nhất “Nghĩ về chuyến đi Mỹ của tổng bí thư”.

Khai Dân TríNguyễn Minh Cần

2015/07/20

Nghĩ về chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư


Nghĩ về chuyến đi Mỹ của Tổng Bí Thư

Lời mời rất hợp thời và hợp ý
Do những hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc (TQ) trên Thái Bình Dương nên nhiều năm gần đây, Hoa Kỳ (HK) đã chuyển trục sang châu Á-Thái Bình Dương cả về mặt quân sự, kinh tế, cả về mặt chính trị, ngoại giao. Và chính quyền Obama đã cố gắng mở rộng và củng cố quan hệ đối tác với các nước sẵn có quan hệ tốt với HK và cả với các nước tuy có quan hệ chặt chẽ với TQ nhưng lại bị TQ hiếp đáp trên Biển Đông, như VN, HK cũng hết sức lôi kéo nhằm tạo thế liên hoàn các nước để chống lại sự xâm lăng của TQ nhằm khống chế Thái Bình Dương. Chính vì thế tổng thống Barack Obama đã mời TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, một người rất bảo thủ, giáo điều, thường bênh Tàu chống Mỹ, sang Hoa Kỳ bàn việc. Tình thế của VN đang lúc rất khó khăn cả về mặt kinh tế, cả về mặt chính trị lại bị Trung Cộng lấn lướt trên Biển Đông, còn ở biên giới Tây Nam thì TQ lại lôi kéo, xúi giục “nước anh em” cũ của CSVN là Cam Bốt có thái độ không thân thiện với VN. Lời mời của Obama rất hợp thời và hợp ý ban lãnh đạo ĐCSVN, khi họ cảm thấy chỗ dựa TQ đang nguy ngập và đang muốn tìm chỗ dựa mới để cứu chế độ và đảng của họ, nên đã hân hoan nhận lời mời. Bản thân ông Trọng, tất nhiên, cũng rất lấy làm hãnh diện là TBT CSVN đầu tiên vinh dự được bước vào Nhà Trắng. Tổng thống HK đón tiếp trọng thị TBT Trọng ở Phòng Bầu dục, bất chấp sự phản đối của một số dân biểu quốc hội vì hồ sơ tồi tệ về nhân quyền của VN. Tuyên truyền của Hà Nội lại được dịp khoác lác là qua cuộc tiếp đón “lịch sử” đó tại Nhà Trắng, HK đã “công nhận chế độ chính trị của chúng ta”. Thực ra, điều này chẳng có gì quan trọng lắm, trước năm 1989, HK cũng đã từng công nhận chế độ chính trị của các nước CS cũ ở Đông Âu và Liên Xô (LX), đã từng chấp nhận vai trò lãnh đạo của các ĐCS trong các chế độ đó. Thậm chí năm 1983, tổng thống Reagan cũng đã từng tiếp thủ lĩnh Taliban ở Afghanistan tại Phòng Bầu dục Nhà Trắng cơ mà.

Kết quả cuộc gặp là tổng thống HK và tổng bí thư ĐCSVN đã ra Tuyên bố về Tầm nhìn chung trong đó cũng chỉ là những ghi nhận và hứa hẹn rất chung chưa có gì cụ thể. Chẳng hạn, HK ghi nhận “sự quan tâm của VN muốn đạt được quy chế thị trường”, hai nước “hứa hẹn tiếp tục thúc đẩy và bảo vệ bảo vệ quyền con người”, hai nước sẽ còn tiếp tục đàm phán về TPP nhất là những vấn đề về quyền lợi công nhân, v.v… Khi đọc nội dung “Tầm nhìn chung” ở đoạn nói về quyền con người và các quyền tự do cơ bản… thấy rõ rằng giữa tổng thống HK và người đứng đầu CSVN chưa đạt được sự đồng thuận nên chỉ đưa vào những câu chung chung như vậy để dành cho cuộc “mặc cả” còn tiếp tục sau này giữa hai bên. Trong “Tầm nhìn chung” chỉ có một điểm cụ thể nói về Trường đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Tuy nhiên, đoạn nói về Biển Đông là đáng chú ý và có ý nghĩa thiết thực hơn cả: “Hai nước bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây ở Biển Đông làm gia tăng căng thẳng, xói mòn lòng tin và đe dọa làm phương hại đến hòa bình, an ninh và ổn định.” và “Hai nước nhấn mạnh sự cần thiết đề cao các quyền tự do hàng hải và hàng không được quốc tế công nhận; thương mại hợp pháp không hạn chế, an ninh và an toàn hàng hải; kiềm chế những hành động làm gia tăng căng thẳng; bảo đảm tất cả các hành động và hoạt động phải phù hợp với luật pháp quốc tế; phản đối việc ép buộc, hăm dọa, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.” Người viết nghĩ rằng những câu này dường như chủ yếu là do gợi ý từ phía Hoa Kỳ, vì trước đây khi TQ cấm ngư dân VN đánh cá trong biển của VN, tịch thu ngư cụ và các mẻ cá đánh được của ngư dân VN, tấn công, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân VN và đánh đập thậm tệ ngư dân ta, thì ông Trọng vẫn tuyên bố tỉnh bơ: “Quan hệ Trung-Việt chưa lúc nào tốt đẹp như lúc này”! Còn cách đây vài tháng, khi ông và phái đoàn “hùng hậu” của ông sang Bắc Kinh thì ông có hề nói một câu gì về Biển Đông tương tự như thế đâu? Thậm chí 19 ngày trước, cụ thể là ngày 18.6.2015, ông còn cho bộ trưởng ngoại giao của ông là Phạm Bình Minh ký bản Cam kết với bộ trưởng ngoại giao TQ “sẽ không có hành động làm phức tạp”… trên Biển Đông, trong lúc TQ đã và đang làm biết bao điều phức tạp trên Biển Đông.

“Nói dzậy nhưng không phải dzậy”
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là những câu trả lời của TBT ĐCS trong buổi nói chuyện của ông tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) ở Washington DC, qua đó thể hiện rõ nhất bản chất xảo quyệt và dối trá, “nói dzậy nhưng không phải dzậy” của ông ta. Trả lời một học giả Mỹ, ông nói “VN sẽ duy trì tinh thần dân chủ hóa trong xã hội và chính trị”. Tinh thần dân chủ hóa ở đâu, hở ông Trọng? Ở các đồn công an hay ở các trại tù?! Trả lời câu hỏi khác của một nhà khoa học Mỹ: “Tình hình nhân quyền và tự do ngôn luận ở VN trong tương lai tới đây sẽ như thế nào, thưa TBT?”, TBT lại được dịp phét lác: “Tôi biết nhân quyền là vấn đề Mỹ rất quan tâm, đây cũng là vấn đề VN rất coi trọng. (!) Bảo đảm và cải thiện quyền công dân là ưu tiên cơ bản và chiến lược của chúng tôi. (!) Chúng tôi đã nỗ lực hết sức, nếu các bạn đến VN sẽ thấy quyền của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người nghèo, các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, được quan tâm. (!) Người dân VN chưa bao giờ được sống trong bầu không khí dân chủ như hiện nay. (!!) Hiến pháp VN có chương riêng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, và đang dần dần được luật hóa…” Ông ta lờ đi không thanh minh thanh ca gì về danh sách 150 tù nhân chính trị đang rục xác trong nhà tù CS mà Humain Rights Watch đã đưa ra và các tổ chức nhân quyền quốc tế đang đòi VN phải trả tự do, mà chỉ đưa ra lời dối láo trắng trợn: “Các vụ việc người bị bắt ở VN không phải do vấn đề dân tộc hay tôn giáo mà là vì họ vi phạm pháp luật.” Chúng tôi nhắc lại những điều đó để nói rằng chớ nên hy vọng sẽ có «những đột biến có tính lịch sử» về nhân quyền và tự do dân chủ sau chuyến đi này của ông Trọng. Mọi việc vẫn sẽ tiếp tục như trước đây: HK đòi thả một số tù nhân lương tâm, các nhà cầm quyền VN thả dăm ba người tượng trưng để đạt được những yêu cầu cụ thể về kinh tế hay an ninh, quốc phòng, rồi lại tiếp tục đàn áp bắt thêm một loạt người nữa để chờ cuộc “mặc cả” tiếp theo. Các tù nhân lương tâm lại vẫn là những món hàng trao đổi! Cũng rất có thể rồi đây, VN cũng sẽ được công nhận là nền kinh tế thị trường dù kinh tế quốc doanh vẫn còn là chủ đạo! Hay VN cũng sẽ được tham gia TPP dù công đoàn/nghiệp đoàn tự do chưa có… hay có nhưng không có thực chất. Hay VN sẽ được xóa bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương dù hồ sơ nhân quyền không tiến bộ mấy. Những điều đó thì chưa ai biết được, nhưng chắc chắn là cái thủ đoạn dối trá, lươn lẹo “muôn thuở” của CSVN sẽ được sử dụng hết cỡ! Người Mỹ rất thực dụng, họ nghĩ đến quyền lợi nước họ là chính, họ thực tâm bênh vực nhân quyền, quyền công nhân, quyền phụ nữ, quyền các dân tộc thiểu số… trong chừng mực nào có lợi cho đất nước họ… Cho nên các chiến sĩ dân chủ VN phải ra sức tận dụng sự ủng hộ của họ, nhưng đừng quá tin tưởng và ỷ lại vào họ! Những lời giả dối của ông Trọng tại CSIS báo hiệu cho chúng ta biết, sau chuyến đi này về mặt nhân quyền, tự do dân chủ sẽ chẳng có gì thay đổi lớn đâu, đừng hy vọng quá mà thất vọng. Vẫn luôn luôn phải tăng cường đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ.

Tuy nhiên, cái “ngố” hết chỗ nói trên đây vẫn còn thua xa cái “ngố” này: báo chí loan tin, ngày 10.7.2015, tại thành phố New York, để biểu dương tinh thần quốc tế vô sản (đồng thời cũng biểu dương tình trạng xơ cứng tư duy thảm hại của ông), TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp với ban lãnh đạo ĐCS Hoa Kỳ, một cái đảng bé tí tẹo trong một nước có 320 triệu dân, chẳng làm nên trò trống gì trên chính trường HK, chưa bao giờ được người dân Mỹ để ý đến. Thế mà, trước truyền thông quốc tế, ông Trọng đã bốc đồng tuyên bố: “Tin tưởng ĐCS HK sẽ tiếp tục phấn đấu không ngừng để làm tròn nhiệm vụ to lớn với tư cách là đảng tiên phong, điểm tựa chính trị của lực lượng công nhân và quần chúng lao động HK”. Ông hồ hởi “chúc mừng thành công của đại hội lần thứ 30 của ĐCS HK”, một đại hội mà chỉ duy nhất ông Trọng nhắc tới, chứ ngay cả người dân Mỹ cũng chẳng ai biết và truyền thông báo chí HK chẳng buồn nói đến.
Khôi hài nhất là ông TBT dù cố giữ vẻ đạo mạo của một thức giả, nhưng có lần cũng bật ra cái “lú” cố hữu của mình, khi ông ta nói với giọng đạo đức giả trước cử tọa của CSIS: “Tôi mong chính quyền Hoa Kỳ quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống, công việc và học tập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ, tạo điều kiện để họ hội nhập tốt và đóng góp tích cực cho sự phát triển của Hoa Kỳ và cho quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.” Ngố đến thế thật là hết chỗ nói! Ông ta tưởng rằng cộng đồng người Việt chạy nạn CS rất cần đến sự quan tâm vờ vĩnh của TBT CS, và ông quên rằng trước kia chính thủ tướng CS Phạm Văn Đồng của ông đã từng phỉ báng những người chạy nạn CS là “bọn ma cô, đĩ điếm”. Và chính “bọn” (xin lỗi!) này nhờ thoát khỏi cái “thiên đường xã hội chủ nghĩa” của ĐCSVN và nhờ họ hội nhập rất tốt vào nền dân chủ của HK mà ngày nay đã thành đạt tuyệt vời về mọi lĩnh vực trên đất nước Mỹ, nên hằng năm họ đã gửi về cho dân nước VN xã hội chủ nghĩa một số tiền “viện trợ” rất lớn từ 8 đến 10 tỉ USD! Sự thành đạt của họ trên đất nước HK hoàn toàn không liên quan gì đến sự quan tâm vuốt đuôi của ông Trọng cả!

Tuy nhiên, cái “ngố” hết chỗ nói trên đây vẫn còn thua xa cái “ngố” này: báo chí loan tin, ngày 10.7.2015, tại thành phố New York, để biểu dương tinh thần quốc tế vô sản (đồng thời cũng biểu dương tình trạng xơ cứng tư duy thảm hại của ông), TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp với ban lãnh đạo ĐCS Hoa Kỳ, một cái đảng bé tí tẹo trong một nước có 320 triệu dân, chẳng làm nên trò trống gì trên chính trường HK, chưa bao giờ được người dân Mỹ để ý đến. Thế mà, trước truyền thông quốc tế, ông Trọng đã bốc đồng tuyên bố: “Tin tưởng ĐCS HK sẽ tiếp tục phấn đấu không ngừng để làm tròn nhiệm vụ to lớn với tư cách là đảng tiên phong, điểm tựa chính trị của lực lượng công nhân và quần chúng lao động HK”. Ông hồ hởi “chúc mừng thành công của đại hội lần thứ 30 của ĐCS HK”, một đại hội mà chỉ duy nhất ông Trọng nhắc tới, chứ ngay cả người dân Mỹ cũng chẳng ai biết và truyền thông báo chí HK chẳng buồn nói đến.

Chưa có kết quả rõ rệt
Thẳng thắn mà nói thì chuyến đi Mỹ của TBT Trọng lần này chưa có kết quả gì rõ rệt để có thể gọi là “chuyến đi lịch sử” đã tạo ra “một bước ngoặt lịch sử”. Tuy nhiên, hy vọng rồi đây do tình thế bức bách, ban lãnh đạo CSVN có thể tiến thêm bước nữa gần với HK hơn. Có thể người Mỹ nghĩ rằng TBT Trọng là người lãnh đạo cao nhất, có quyền hành nhất trong ĐCS, nhưng thực ra ông Trọng là người cầm đầu ĐCS loại yếu trong số các TBT: từ hội nghị 6 TƯ đảng (10.2012) đến hội nghị 10 (1.2015), ông đã thất bại liên tiếp trước đối thủ chính của ông là “đồng chí X”. Vả lại, trong ĐCSVN, ông Trọng cũng chỉ là một người trong cái tập thể mười mấy người lãnh đạo, gọi là Bộ chính trị (BCT). Trước khi đi HK, cái tập thể đó đã định rõ cho ông nói cái gì, ứng xử như thế nào trong mỗi tình huống. Ông chỉ là một vai diễn trên sân khấu mà thôi. Còn sau chuyến viếng thăm, cái tập thể đó sẽ họp lại quyết định sẽ đối phó như thế nào với cái TPP, với quy chế kinh tế thị trường, v.v… Chắc dân ta còn nhớ, trước đây, hồi năm 2005, thủ tướng Phan Văn Khải, rồi 2007, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, rồi 2008, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rồi 2013, chủ tịch nước Trương Tấn Sang – những người lãnh đạo rất cao, rất có quyền lực trong hệ thống chính trị VN – cũng đã được tổng thống HK đón tiếp trọng thị tại Nhà Trắng ở Phòng Bầu dục, tất cả họ cũng đều hứa hẹn với tổng thống những điều tốt đẹp cho nhân quyền, cho tự do, dân chủ. Chủ tịch Sang cùng tổng thống Obama còn xác lập quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước HK và VN. Thế mà sau khi các vị đó trở về nước thì tình hình đàn áp các cuộc đấu tranh hòa bình của người dân để bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo của VN bị TQ xâm chiếm vẫn không bớt ác liệt, đàn áp các cuộc đấu tranh của dân oan đấu tranh chống cưỡng chế đất đai vẫn rất dã man, số người bị bắt đưa ra tòa án xử phi pháp vẫn rất đông… Thậm chí khi VN được vào Hội đồng Nhân quyền LHQ, đã ký Công ước chống tra tấn mà số người dân bị tra tấn đến chết ở các đồn công an vẫn tăng lên chứ không giảm, còn nói gì đến chuyện chấm dứt tra tấn! Có chút thay đổi chăng là vài người tù được thả ra sớm hơn một chút, thậm chí vừa thả họ ra, liền bắt họ phải ra nước ngoài sống lưu vong… Dân gian ta thường nói Cà cuống chết đến đít còn cay, nghĩa là một con người, một nhóm người nặng tính xảo quyệt, gian dối, bảo thủ, giáo điều… thì dù trong hoàn cảnh nào đi nữa họ vẫn giữ cái bản chất “cay” vốn có của họ. Cho nên đừng trông chờ BCT TƯ ĐCSVN sẽ dân chủ hóa, sẽ ban phát tự do, dân chủ cho ta, mà tự mình phải đấu tranh giành lấy những thứ quý báu vô ngần đó.

Tờ Hoàn cầu Thời báo, một phó bản của tờ Nhân Dân nhật báo của ĐCSTQ đã đưa ra lời nhắc nhở và đe dọa VN: “Trong khi VN xem TQ như một mối đe dọa an ninh quốc gia của mình, thì VN cũng được hưởng lực kéo kinh tế từ TQ và cũng được sự hỗ trợ từ thể chế CS TQ” … “Các mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa VN và HK một phần nhắm vào TQ, và như vậy sẽ kéo theo những đòn đánh trả của TQ. Điều này sẽ tạo ra áp lực lên ba phía, nhưng trong trường hợp đó, VN có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.” Chúng ta không sợ những lời đe dọa của ĐCSTQ, nhưng chúng ta đừng để cái lạc quan tếu về chuyến đi Mỹ của ông Trọng làm rối đầu óc chúng ta. Dân ta bình tĩnh chờ những đòn “phản pháo” của TQ và sẽ có cơ hội được kiểm chứng thái độ của các quan chức cao cấp nhất của ĐCSVN đối với Bắc triều. Chỉ vài ngày sau chuyến đi Mỹ của TBT Trọng, thì một trong 7 người có quyền lực nhất ở TQ là ủy viên thường vụ BCT, phó thủ tướng Trung Cộng Trương Cao Lệ, đến VN từ ngày 16 đến 18.7. Gặp chủ tịch Trương Tấn Sang, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người ta lại ca bài “mối quan hệ truyền thống do Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh từng nuôi dưỡng là tài sản quý báu của hai đảng và nhân dân hai nước, vì quyền lợi cơ bản của hai nước cần phải thắt chặt mối quan hệ truyền thống này”… “hai đảng tiếp tục đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển lành mạnh, ổn định, lâu dài”, nghĩa là không có gì thay đổi trong quan hệ Trung-Việt sau chuyến TBT ĐCSVN đi Mỹ về! Còn ông Trọng, sau khi gặp họ Trương, ông cũng gặp một số cử tri để khoe khoang về cuộc đối thoại “vượt mức yêu cầu” với tổng thống Mỹ, đồng thời ông nhấn mạnh: “Có ý kiến nói, chuyện quan hệ với Mỹ để chống TQ ở Biển Đông thì cũng chỉ là một cách suy diễn…”  Ý ông muốn nói: thực ra ông đi Mỹ nhưng không hề có ý muốn chống TQ, đó chỉ là sự suy diễn và hiểu lầm mà thôi. Ông còn nói thêm: “Rất hay là vừa đi Mỹ về, thì phó thủ tướng TQ cũng sang đây”!
Cũng cần nhắc lại là VN xác lập quan hệ đối tác toàn diện với HK mới được hai năm thôi, trong lúc đó VN đã xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và TQ lâu hơn. Hơn nữa với TQ, VN còn bị buộc chặt bằng sợi dây thòng lọng Thành Đô, bằng vòng kim cô 16 chữ vàng và 4 tốt, bằng vô số hiệp định và cam kết của những người đứng đầu đảng và nhà nước VN với TQ, bằng sự lũng đoạn của TQ đối với nền kinh tế VN, bằng các công trình xây dựng quan trọng khắp nước VN do TQ trúng thầu, bằng 300 ngàn hec-ta rừng đầu nguồn ở vùng biên giới VN trong tay TQ, bằng nhiều vị trí tập trung dân TQ (hay quân nằm vùng ?) ở các nơi xung yếu trên đất nước VN, v.v… Cố nhiên, báo chí “lề đảng” thì cố thổi phồng chuyến đi HK của ông Trọng, cho đó “là chuyến đi lịch sử”, “là cột mốc đánh dấu 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và đồng thời nâng cao sự hợp tác giữa hai nước lên tầm đối tác chiến lược” - sự thật thì chưa có thỏa thuận gì đặc biệt đáng gọi là cột mốc, hơn nữa, sau chuyến đi của ông Trọng quan hệ giữa VN và HK vẫn là “quan hệ đối tác toàn diện” như sau chuyến đi của chủ tịch Trương Tấn Sang, chứ đâu có phải là “đối tác chiến lược”? Có vài nhà báo “lề dân” cũng quá lạc quan cho rằng với chuyến đi của ông Trọng, VN đã xáp lại với HK và như thế sẽ chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài đảng trị trong một tương lai gần; hay cho rằng sau chuyến đi của ông Trọng, VN sẽ rời khỏi TQ và liên kết với HK để chống lại TQ; thậm chí có người còn tiên đoán rồi đây quân Mỹ sẽ đến Cam Ranh, v.v…. Những nhận định quá lạc quan này chỉ dựa trên lòng mong muốn của người phát biểu, chứ không phải trên thực tế khách quan. Tập đoàn cầm quyền CSVN đang lâm vào tình thế cực kỳ khó khăn cả về kinh tế lẫn chính trị, lại bị sức ép mạnh vì hành vi hung hăng xâm lấn của TQ, nên về sách lược họ phải tìm thêm chỗ dựa ở HK để cứu chế độ độc tài toàn trị của họ và đảng của họ, tức là cứu quyền lợi của họ và cứu bản thân họ, chứ đâu có phải để từ bỏ chế độ độc tài toàn trị. Cho nên nghĩ rằng họ sẽ chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài đảng trị trong một tương lai gần là rất mơ hồ sẽ gây ra ảo tưởng cho những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền. Cho rằng sau chuyến đi của ông Trọng, VN sẽ rời khỏi TQ và liên kết với HK để chống lại TQ là chưa đánh giá hết mọi tình hình phức tạp trong mối quan hệ lâu đời giữa VN với Nga và TQ, chưa thấy hết những ràng buộc của CSVN với CSTQ mà chính những người cầm đầu ĐCSVN tự buộc vào, từ thời Hồ Chí Minh trước đây và đặc biệt từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến Nguyễn Phú Trọng ngày nay, là  chưa thấy hết cái tình thế khó khăn, lúng túng của tập đoàn cầm quyền CSVN trong lúc này, dù họ có muốn rời khỏi TQ, nhưng chưa thể rời ngay được. Theo chúng tôi nghĩ, CSVN xích lại gần HK nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu tùy thuộc ở mức độ nguy khốn của CSVN và của CSTQ, vì chẳng ai lạ gì cái thói sống dựa và ăn bám cố hữu của lãnh đạo CSVN để tự cứu mình. Cho nên chúng ta cần có thái độ thực tế, không bi quan mà chẳng nên quá lạc quan để đánh giá đúng tình hình mà đẩy mạnh cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ nước ta theo đúng hướng để giành được thắng lợi.

Tờ Hoàn cầu Thời báo, một phó bản của tờ Nhân Dân nhật báo của ĐCSTQ đã đưa ra lời nhắc nhở và đe dọa VN: “Trong khi VN xem TQ như một mối đe dọa an ninh quốc gia của mình, thì VN cũng được hưởng lực kéo kinh tế từ TQ và cũng được sự hỗ trợ từ thể chế CS TQ” … “Các mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa VN và HK một phần nhắm vào TQ, và như vậy sẽ kéo theo những đòn đánh trả của TQ. Điều này sẽ tạo ra áp lực lên ba phía, nhưng trong trường hợp đó, VN có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.” Chúng ta không sợ những lời đe dọa của ĐCSTQ, nhưng chúng ta đừng để cái lạc quan tếu về chuyến đi Mỹ của ông Trọng làm rối đầu óc chúng ta. Dân ta bình tĩnh chờ những đòn “phản pháo” của TQ và sẽ có cơ hội được kiểm chứng thái độ của các quan chức cao cấp nhất của ĐCSVN đối với Bắc triều. Chỉ vài ngày sau chuyến đi Mỹ của TBT Trọng, thì một trong 7 người có quyền lực nhất ở TQ là ủy viên thường vụ BCT, phó thủ tướng Trung Cộng Trương Cao Lệ, đến VN từ ngày 16 đến 18.7. Gặp chủ tịch Trương Tấn Sang, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người ta lại ca bài “mối quan hệ truyền thống do Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh từng nuôi dưỡng là tài sản quý báu của hai đảng và nhân dân hai nước, vì quyền lợi cơ bản của hai nước cần phải thắt chặt mối quan hệ truyền thống này”… “hai đảng tiếp tục đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển lành mạnh, ổn định, lâu dài”, nghĩa là không có gì thay đổi trong quan hệ Trung-Việt sau chuyến TBT ĐCSVN đi Mỹ về! Còn ông Trọng, sau khi gặp họ Trương, ông cũng gặp một số cử tri để khoe khoang về cuộc đối thoại “vượt mức yêu cầu” với tổng thống Mỹ, đồng thời ông nhấn mạnh: “Có ý kiến nói, chuyện quan hệ với Mỹ để chống TQ ở Biển Đông thì cũng chỉ là một cách suy diễn…”  Ý ông muốn nói: thực ra ông đi Mỹ nhưng không hề có ý muốn chống TQ, đó chỉ là sự suy diễn và hiểu lầm mà thôi. Ông còn nói thêm: “Rất hay là vừa đi Mỹ về, thì phó thủ tướng TQ cũng sang đây”! Ngầm ý: để TBT ĐCSVN có dịp thanh minh với ĐCSTQ về chuyến đi vừa rồi! Đấy, cái mà một số người gọi chuyến đi HK của ông Trọng là “chuyến đi lịch sử” đã tạo ra “một bước ngoặt lịch sử” là như thế đó!

Những người am hiểu thời cuộc đều biết từ rất lâu trước chuyến TBT ĐCSVN đi Mỹ, Trung Cộng đã tung ra độc chiêu mà trước đây họ đã dùng dưới thời Pol Pốt, nay đem dùng lại dưới thời thủ tướng Hun Sen là cố lôi kéo Cam Bốt (CB) về phía TQ, chia rẽ CB với VN, giúp đỡ về kinh tế, cung cấp vũ khí cho CB, xúi giục CB chống lại VN. Vấn đề biên giới giữa hai nước CB và VN nay lại xới lên. Vụ xô xát hôm 28.6.2015 ở vùng biên giới tỉnh Svay Rieng (CB) và tỉnh Long An (VN), cũng như việc một phái đoàn các tướng tá CB do phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng CB Tea Banh dẫn đầu đến TQ, làm cho phía VN phải đề phòng. Rồi hàng loạt xe tăng, thiết giáp, khí tài VN được cấp tốc chuyển từ miền Bắc vào Nam từ hôm 13.7.2015… Tất cả những tin tức đó báo hiệu có thể sẽ xảy ra chuyện chẳng lành cho nhân dân cả hai nước CB và VN. Điều chắc chắn là những người dân chủ và các chiến sĩ nhân quyền VN kiên quyết phản đối một cuộc chiến tranh (nếu có) giữa CB và VN vì nó sẽ đẩy nhân dân hai nước rơi vào cạm bẫy chiến tranh của Trung Cộng và gây ra muôn vàn đau thương cho người dân CB và VN. Hơn nữa, chiến tranh là cơ hội tốt nhất cho tập đoàn thống trị CSVN bóp nghẹt tự do, dân chủ và nhân quyền của nhân dân. Chúng ta chủ trương đối thoại, đàm phán, tương nhượng để giải quyết một cách hòa bình mọi tranh chấp giữa CB và VN.

Một điều đáng chú ý là trước ngày TBT Nguyễn Phú Trọng đi Hoa Kỳ thì từ cuối tháng 6.2015, bỗng bặt tin bộ trưởng bộ quốc phòng VN, đại tướng Phùng Quang Thanh, một nhân vật đặc biệt thân Tàu trong BCT TƯ đảng. Tiếp đó đã có những trò che giấu khá lộ liễu, kín kín, hở hở về sự vắng bặt tin của tướng Thanh, sau đó Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe Trung ương đưa ra những thông tin mập mờ, mâu thuẫn nhau về bệnh tình của tướng Thanh. Rồi bỗng dưng sáng 3.7.2015, Cổng thông tin của Bộ quốc phòng đưa tin, tại Hà Nội, thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ quốc phòng (thủ trưởng chứ không phải là bộ trưởng và cũng không ghi rõ tên ai là thủ trưởng), Bộ tư lệnh (BTL) thủ đô Hà Nội tổ chức hội nghị bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh và Chính ủy BTL thủ đô Hà Nội. Sự thay đổi đột ngột những người đứng đầu BTL thủ đô Hà Nội trùng hợp với tin tức mập mờ về sự biến mất của tướng Thanh, làm một vài người nghĩ đến một cuộc đảo chính cung đình. Giả định này chắc là không đúng, vì khi một “đồng chí” nào đó – như “đồng chí X” chẳng hạn – đã nắm ưu thế trong ban lãnh đạo đảng thì cứ làm theo đúng điều lệ đảng, họp hội nghị TƯ hay đại hội đảng đàng hoàng để đa số quyết định sự thay đổi là nhẹ nhàng, êm đẹp nhất, việc gì phải làm đảo chính cho mang tiếng? Nhưng những chuyện nói trên cho thấy cuộc đấu đá nội bộ trên thượng tầng lãnh đạo CSVN đã lên đến cao điểm, báo hiệu có một cuộc “đổi kíp”, “đổi ca” sắp tới. “Kíp” mới này sẽ nắm lấy toàn bộ quyền lực và tiếp tục thống trị đất nước ta với một chính sách về cơ bản vẫn như cũ. Còn về mặt đối ngoại, họ sẽ khoác áo thân Mỹ và thỉnh thoảng nói vài câu có vẻ chống Tàu để HK cho VN vào TPP, công nhận nền kinh tế thị trường và bỏ cấm vận vũ khí sát thương… dù hồ sơ nhân quyền của VN vẫn lem nhem như trước. Còn HK rất thực dụng, họ quan tâm chủ yếu quyền lợi của nước họ, các chế độ độc tài dù khét tiếng xưa nay họ cũng cứ chơi như thường, miễn là có lợi cho họ. Cho nên nhân dân ta cần thấy rõ việc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền là công việc của mình, dân mình phải lo, nhất thiết không thể trông cậy vào ban lãnh đạo CSVN này được, mà hy vọng vào HK thì cũng chỉ phần nào thôi, vì HK có giúp cho ta thì cũng chỉ trong chừng mực nào đó, và như thế cũng đã tốt cho ta lắm rồi. Còn việc CSVN chống TQ thì chúng ta cũng đừng nên nghĩ là “kíp” mới lên sẽ làm mạnh đâu, mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và TQ còn chặt lắm, họ không thể dễ dàng dứt ra, đặc biệt với TQ thì còn biết bao thứ ràng buộc, nào là mật ước Thành Đô, nào là 16 chữ vàng và 4 tốt, nào là vô số hiệp định và cam kết từ xưa đến nay, nào là kinh tế VN và các công trình xây dựng đều phụ thuộc vào TQ, v.v. và v.v… Trong thời gian này, CSVN ve vãn HK thì cũng chỉ hời hợt thôi vì các ông “bạn vàng” đối tác chiến lược toàn diện của VN là TQ và Nga cũng không dễ dàng "buông áo em ra" để em VN chạy theo Mỹ mà họ coi là kẻ thù của họ…

Cho nên chúng ta cần phải khách quan đánh giá đúng tình hình, không nên lạc quan quá và phải luôn luôn  cảnh giác cả với “kíp” mới lên, họ đều là những kẻ bảo vệ chế độ độc tài toàn trị vì đó là quyền lợi thiết thân của họ và gia đình họ. Một số nhà phân tích nghĩ rằng trong ban lãnh đạo ĐCSVN có phe cấp tiến và phe bảo thủ. Theo chúng tôi, điều đó không đúng với thực tế. Đúng là trong TƯ đảng có rất nhiều mâu thuẫn, nhiều hục hặc, nhiều đấu đá về mặt quyền lợi cá nhân, chứ không phải về ý thức hệ, về lý thuyết, về chiến lược, về chính sách, tất cả họ đều nhất trí với nhau ở một điểm cơ bản là duy trì đến cùng chế độ độc tài toàn trị, có khác biệt chăng thì chỉ trên những tiểu tiết, như cách đối phó đối với các nước lớn thế nào để có lợi cho chế độ của họ. Thử hỏi hàng chục năm nay, có ai trong ban lãnh đạo CSVN dám nói một điều gì về cải cách chế độ chính trị đâu mà bảo là có phe cấp tiến trong đảng? So với tình hình Liên Xô hồi nửa cuối thập niên 80 thế kỷ trước thì rõ ràng là trong ĐCSLX cũng như trong TƯ đảng hồi đó đã có phe cấp tiến rõ rệt, họ có cả một “Cương lĩnh dân chủ” nổi tiếng do một cựu ủy viên BCT TƯ, vài ủy viên TƯ và nhiều cán bộ cao cấp của đảng soạn thảo và công bố, còn ở VN thì đã có gì đâu mà gọi là phe cấp tiến? Cũng có nhiều người cho rằng trong ban lãnh đạo CSVN có phe thân Tàu và phe thân Mỹ và liệt thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào phe thân Mỹ. Thử hỏi với giọng lưỡi chống Mỹ cực kỳ thô lỗ của ông thủ tướng đã thốt lên trong dịp 30 tháng 4 năm nay mà có thể gọi ông ta là thân Mỹ được ư? Thử hỏi một ông thủ tướng trong suốt nhiệm kỳ của ông đã có biết bao quyết định có lợi cho TQ bất lợi cho VN, như bô-xít ở Tây Nguyên, như cho TQ trúng thầu các công trình xây dựng quan trọng khắp nước ta, như để các tỉnh giáp biên giới cho Trung Cộng thuê dài hạn 300 ngàn hec-ta rừng đầu nguồn trong 50 năm, v.v… là người không thân Tàu mà thân Mỹ được chăng? Thực ra, trong TƯ đảng, thân Tàu thì có và có nhiều, còn thân Mỹ thì chỉ là những lời nói vờ vịt, bóng bẩy để ve vãn, làm điệu vậy thôi. Rồi đây có thể cũng có người khoác tạm cái áo thân Mỹ để đánh lừa dư luận – vì họ thấy trên 70% dân chúng VN mong muốn có quan hệ tốt với Mỹ – nhưng thật lòng thì họ chẳng thân ai hết, ngoài cái “ghế” của họ. Cho nên cái lối chia hai phe rạch ròi thân Tàu, thân Mỹ trong ban lãnh đạo CSVN như vậy là không hợp với tình hình VN, dễ làm cho những người dân chủ có đối sách không sát thực tế. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, những người dân chủ chúng ta cũng phải biết tận dụng mọi cơ hội, mọi kẽ hở của chế độ để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, tập hợp lực lượng, chờ thời cơ để giành thắng lợi quyết định./-

20.7.2015
Nguyễn Minh Cần

Khai Dân TríNguyễn Minh Cần

2015/02/06

BÀN CHUYỆN RỜI BỎ ĐẢNG

BÀN CHUYỆN RỜI BỎ ĐẢNG
NGUYỄN MINH CẦN

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại ĐCSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bỗng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.

Thiết nghĩ có mấy điều đáng suy nghĩ sau đây:

Điều thứ nhất. Có thể nói không ngoa là rất hiếm có một đảng chính trị nào giống như ĐCSVN, coi khinh mạng con người hết sức rẻ rúng. Xin các bạn cứ ngẫm mà xem! Đọc các chuyện kể của những nhân vật đã từng ở trong ĐCS hay những người đã từng bị ĐCS đày đọa, rồi nhìn kỹ vào thực tế,  thì thấy rằng, quả là ĐCSVN “giết người như ngóe”. Ai chống Đảng – Đảng diệt! Ai chưa chống Đảng, mà Đảng nghĩ là người đó có thể có ngày sẽ chống Đảng – Đảng cũng diệt! Những người có quan điểm khác với Đảng – nhất là người thuộc các đảng yêu nước không cộng sản – thì Đảng cho “đi mò tôm”, tức là bỏ rọ trôi sông. Ai bị Đảng nghi, ngay cả đối với đảng viên của đảng – chẳng cần chứng cớ gì hết, chẳng cần điều tra gì hết – Đảng “thịt”. Người nơi khác lơ ngơ đi lạc vào A-Tê-Ka (ATK, an toàn khu) của Đảng – Đảng “thịt” ngay, để giữ bí mật của Đảng. Người cảm tình với Đảng từ nơi xa  lần mò tìm đến ATK của Đảng mà không có ai trong ATK chứng nhận – Đảng cũng “thịt”. Thậm chí, trong kháng chiến, người dân có mang vật gì trong người, chẳng hạn, chiếc khăn lau mặt, có ba màu: xanh, trắng, đỏ, Đảng nghi là gián điệp – Đảng “thủ tiêu”. Đã có biết bao nhiêu mạng người đã bỏ xác vì những lý do vớ vẩn như thế! Mà chỉ cần một cái hất đầu, một cái nháy mắt, một ngón tay đưa lên… của cán bộ thôi, chứ không cần phải có bất kỳ giấy tờ, quyết định, chữ ký lôi thôi gì cả - thế là một, hai hay nhiều mạng người  “đi toong”! Chính cái đầu óc “coi mạng người như ngóe” đó, mà Đảng nhất quyết bác bỏ “nhân tính”, chỉ thừa nhận “giai cấp tính”, mà nghĩ cho cùng có khi đó lại là “thú tính”. Xin hãy nghĩ mà xem: cái lối giết người bị quy là “địa  chủ” trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), như chôn sống, hay chôn người đến cổ rồi cho trâu bừa qua nhiều lần cho đến chết, giam người ở chuồng trâu rồi bỏ đói cho chết; cái lối giết người Hoa trong chuyến ĐCSVN đuổi trên 300 nghìn người Hoa về nước, có nơi đã thu vàng bạc của người ta rồi, cho lên tàu xua về nước lại còn cho tàu đuổi theo xả súng giết chết hết hay đục thuyền cho đắm… đến nỗi xác người nằm san sát nhau lềnh bềnh trên sông như củi rều vậy. Như thế gọi là gì? “Giai cấp tính” ư? Rõ ràng là “thú tính”! Và cái lối tàn sát dân lành kiểu này có khác gì lối giết người của bọn phát-xít? Và như vậy, ĐCSVN có khác gì bọn khủng bố quốc tế thuộc các giáo phái cực đoan ngày nay?

Thế nhưng, hễ ai – các nhà trí thức, các đảng viên của Đảng – dám đề cao “nhân tính” thì Đảng liền phê cho là “mất lập trường”, là tư tưởng xét lại, là quan điểm tư sản, phản động, là không có “đảng tính”. Chính vì thế mới xảy biết bao nhiêu vụ oan khiên suốt trong 85 năm tồn tại của ĐCSVN. Nào là các vụ giết hàng trăm lãnh tụ và đảng viên các đảng yêu nước không cộng sản, như Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Đại Việt, v.v… những năm sau khi ĐCS cướp được chính quyền, để không còn ai có thể cạnh tranh quyền lực với Đảng nữa. Ngay cả đối với những người yêu nước cùng ý hệ với Đảng, nhưng khác về đường lối, như những người trotskistes Việt Nam đã từng một thời hợp tác tốt đẹp với những người CS ở miền Nam, ĐCSVN cũng không tha – phải giết hết! Vì sao? Vì hồi 1937-38, Nguyễn Ái Quốc từng hùa theo Stalin, lu loa chửi bới thậm tệ những người trotskistes là “một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát-xít Nhật và chủ nghĩa phát-xít quốc tế”, “đàn chó trotskistes”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”, v.v… Những câu, chữ này còn nằm trong ba bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi cho Trung ương (TƯ) Đảng (xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr.97-100). Cho nên những ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v… (hồi năm 1945-46), Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (hồi năm 1948) đã bị sát hại thê thảm! Ngay cả những đảng viên CSVN bị nghi ngờ, dù chẳng có chứng cớ gì hết cũng bị giết hại dễ như bỡn: như vụ giết oan mười mấy đảng viên CSVN người Hoa đã từng bị tù đày vì đấu tranh cách mạng Việt Nam (do Lý Ban “chỉ điểm”) và vụ giết oan mấy chục đảng viên CS người Việt (trong vụ H122 do Hoàng Quốc Việt phụ trách). Đó là chưa kể đến các vụ bắt bớ, đày đọa trong trại tù hàng chục nghìn người đã từng làm việc dưới chế độ cũ thời Pháp (có nhiều khi chẳng làm việc gì cho chế độ cũ, như các linh mục, các chánh trương, trùm đạo, các nhà sư Phật giáo…) sau khi ĐCS tiếp nhận miền Bắc (theo nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước VNDCCH do Chủ tịch Trường Chinh ký ngày 20.6.1961), còn sau 30 tháng Tư năm 1975 là vụ đánh lừa gọi đi học ngắn ngày để bắt giam và đày đọa mấy chục năm ròng trong các trại tù trên hai trăm nghìn người đã từng phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa (do lệnh gọi đi học của Ủy ban Quân quản). Trong cả hai vụ đó đã có hàng nhiều chục nghìn  người phải bỏ xác trong các trại tập trung kiểu phát-xít, mệnh danh là “trại cải tạo”.  Đó là chưa kể đến các vụ thảm sát chừng bốn nghìn người thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968, vụ bắn trọng pháo ngay trên đường người dân lành chạy lánh nạn ở Quảng Nam – Đà Nẵng hồi 1975… Chính vì phủ nhận “nhân tính”, nên trong kháng chiến đã từng xảy nhiều vụ tung lựu đạn vào xe đò hay đặt bom mìn trên đường ray để nổ tung các đoàn tàu chợ (chở hành khách) giết hại thường dân “vùng địch”.

Đặc biệt cần nói đến vụ cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc trong những năm 1953-1956 đã tàn sát  vô cùng man rợ trên 172 nghìn người dân vô tội, thậm chí giết cả những người đã từng ủng hộ tiền, vàng, thóc gạo, quần áo cho Đảng, đã từng che giấu, nuôi nấng cán bộ của Đảng và quân kháng chiến trong thời kỳ khó khăn nhất. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên của Đảng từng chiến đấu cho Đảng đã bị vu oan và hành quyết trong CCRĐ. Tài liệu chính thức của ĐCS đã phải  thừa nhận là trong số 172 nghìn người bị giết trong CCRĐ thì 70% là những người bị oan! Đây thực sự là một tội diệt chủng, một tội ác đối với nhân loại, một tội ác tày trời đối với Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Tự cổ chí kim chưa từng xảy ra một tội ác như vậy trên Đất nước Việt Nam này! Tội ác đó không thể nào tha thứ được! Thế mà Hồ Chí Minh và Trường Chinh, những kẻ đã gây nên tội ác đó, vẫn ngụy biện tuyên bố “dù CCRĐ có sai lầm, nhưng thắng lợi vẫn là căn bản”.

Vẫn chưa hết, cuộc phiêu lưu của nhóm cầm quyền thân Mao là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước, đã phát động cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, vô cùng tàn khốc trên mười mấy năm trời đã làm cho trên sáu triệu người dân Việt Nam phải bỏ mạng, đem đến cho cả hai miền biết bao đau thương, tang tóc, biết bao thiệt hại về nhân mạng, về của cải vật chất, về tinh thần, đạo đức và tình cảm. Đã thế, Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn, một trong những kẻ khởi xướng cuộc nội chiến, cuối cùng lại nói: “Chúng ta chiến đấu là để cho Liên Xô, Trung quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa”. Một câu nói hết sức phũ phàng đối với biết bao hy sinh xương máu của nhân dân Việt Nam!

Việc phát động chiến tranh chứng tỏ nhóm chóp bu ĐCS thân Mao hồi đó coi thường sinh mạng người dân của cả hai miền, coi thường sinh mạng của hàng triệu binh lính, thanh niên xung phong và dân công. Thế nhưng, khi một số cán bộ – mấy ủy viên TƯ Đảng, nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp, một số sĩ quan trong quân đội, gồm mấy vị tướng, nhiều sĩ quan cấp tá, ở trong nước và ngoài nước đã phản đối chiến tranh, phản đối đường lối thân Mao của bọn chóp bu CS, thì họ bị quy là “phần tử xét lại chống Đảng”, bị vu khống “làm gián điệp cho nước ngoài” và bị đàn áp ác liệt, bị tù ngục nhiều năm, thậm chí có những cán bộ đã bị chết trong tù.

Chính việc ĐCSVN phủ nhận “nhân tính” đã đem lại hậu quả nguy hại rất nghiêm trọng cho đạo đức xã hội, là ngày nay trong dân gian, người dân học đòi Đảng cũng coi thường tính mạng con người: cái thói độc ác ngày càng phổ biến, chỉ vì một việc cỏn con thôi, người ta sẵn sàng chém giết nhau. Một nhà báo trong nước đã phải kêu lên: “Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.”

Điều thứ hai. Từ khi ra đời cho đến nay, 85 năm ròng rã, ĐCSVN đã tỏ rõ là một đảng vô cùng gian dối, thường xuyên dối trá, lừa gạt, chẳng những đối với địch, mà cả đối với dân, cả đối với đảng viên của Đảng. Đảng luôn luôn nói dối trắng trợn, nói một đằng, làm một nẻo. Thí dụ thì nhiều vô kể. Chỉ xin đưa ra vài chuyện thôi. Cú lừa gạt đau đớn nhất là đối với “bạn đồng minh gần gũi, thân cận nhất” của Đảng (tầng lớp nông dân) là khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Khi cần lôi kéo nông dân theo Đảng làm cách mạng, ĐCS tung ra khẩu hiệu đó lên, ra rả quanh năm suốt tháng; khi làm CCRĐ, ĐCS vẫn còn hò hét cái khẩu hiệu đó. Nhưng, khi CCRĐ vừa xong, nông dân chưa kịp thụ hưởng gì trên mảnh đất mới được chia, thì ĐCS đã vội lùa họ vào cái gọi là hợp tác xã bậc thấp, rồi nhanh chóng đưa lên bậc cao, lấy ruộng của nông dân cho ban quản trị, thực tế là ĐCS, quản lý; biến nông dân từ người chủ ruộng thành người “làm công ăn điểm” để rồi “Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe/Mỗi người làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân”, v.v… Vẫn chưa hết, đến năm 1980, sau khi ĐCS đã nắm quyền trên cả nước, Đảng liền thảo Hiến pháp (HP) của cái gọi là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), đưa ra điều 19 HP chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Tuyên bổ đất đai là “sở hữu toàn dân”, có nghĩa là ĐCS đã “quốc hữu hóa” đất đai, hay nói chính xác hơn “đảng hữu  hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước. Từ đây,  ĐCS thực tế đã tự biến mình thành một tên siêu đại địa chủ. Đến những lần sửa đổi HP 1992 và HP 2013, điều khoản về đất đai vẫn giữ nguyên nội dung giống như HP 1980,  tức là tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, nhất là nông dân. Từ nay, nông dân chỉ được Nhà nước chuyên chính vô sản cho quyền sử dụng. Khi nào cần thì Nhà nước chuyên chính sẽ cưỡng chế tước đoạt lại! Và cái lối “quốc hữu hóa”, nói đúng hơn là “đảng hữu hóa” này chỉ có lợi cho đám quan lại CS cầm quyền ở các địa phương. Bọn này tha hồ áp bức nông dân, cưỡng chế cướp đoạt ruộng đất của nông dân, tự biến chúng thành những địa chủ mới, những cường hào đỏ, biến nông dân thành hàng triệu “dân oan” khốn khổ, hàng chục năm trời đi khiếu kiện khắp các cửa quan một cách vô vọng, chịu biết bao tủi nhục, bị đánh đập, thậm chí bị giết thê thảm. Đấy, sự lừa gạt bỉ ổi, khủng khiếp nhất đối với nông dân là như vậy. Cái vết thương đau đớn này trên cơ thể Dân tộc vẫn còn rướm máu mãi.

Một sự lừa gạt trắng trợn nữa là sau khi phát động cuộc nội chiến dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, để kích động người dân tham gia cuộc chiến, những kẻ gây chiến phải ra sức nói dối, ra sức lừa gạt, nào là người dân ở miền Nam dưới ách Mỹ Diệm bị khốn khổ vô cùng, nào là chế độ miền Nam độc tài, gia đình trị ghê gớm, người dân không có chút tự do, xã hội thối nát, sa đọa, người ta còn dựng lên biết bao chuyện bẩn thỉu, như tổng thống Diệm ngủ cả với em dâu, vợ Ngô Đình Nhu, v.v. và v.v… Ngày nay, sự thật như thế nào thì chắc mọi người đã thấy rõ. Ngay trong ngày đầu tiên khi quân miền Bắc mới vào Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương, lúc bấy giờ là thanh niên xung phong, thấy và hiểu được Sự Thật, và chị đã ngồi bên vệ đường khóc ròng!

Còn biết bao chuyện lừa dối, phỉnh gạt khác nữa không thể kể hết. Nào là “Nhà nước công nông”, “nông” thì đã rõ như cái thí dụ vừa kể trên, còn “công” thì đồng lương mà “Nhà nước công nông” trả cho công nhân, viên chức là “đồng lương bóc lột”, “đồng lương chết đói”, thực tế chỉ đủ ăn trong mười ngày. Nào là “chuyên chính vô sản”, thực tế có anh vô sản nào được xơ múi gì ở cái “chuyên chính” đó, chung quy chỉ là một lũ quan tham lại nhũng tham quyền cố vị, thậm chí những tay hoạn lợn, cai cao su, lưu manh đường phố… khoác cái áo “vô sản lưu manh” (từ ngữ của ông Marx) chễm chệ ngồi trong Bộ Chính trị (BCT), làm TBT  ĐCSVN, làm Chủ tịch nước, làm bộ trưởng công an để nắm chặt “chuyên chính” mà đè đầu cưỡi cổ “thằng dân”. Nào là “dân làm chủ, cán bộ là đày tớ của dân” – điều này chẳng cần bình luận gì nữa, dân ta đã chế nhạo quá nhiều rồi. Nào là những hứa hẹn huy hoàng trong “Chương trình Việt Minh”: xóa bỏ mọi thứ thuế, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, dân chủ, tự do, hạnh phúc,… nhưng khi ĐCS nắm chính quyền rồi thì tất cả những thứ đó chỉ là những lời nói suông. Nhà báo Trần Đĩnh kể về “nghệ thuật” lừa đảo siêu đẳng của ủy viên BCT Tố Hữu trong việc mua ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản ở Hà Nội đã từng quyên góp nhiều vàng và nhà cửa cho ĐCS. Bà còn lại một ngôi nhà, Ban tuyên huấn TƯ muốn mua; người ta đặt giá thì chê đắt không mua. Đùng một hôm, xe tuyên huấn chở mấy bao tiền đến, đắt mấy cũng mua. Ba ngày sau, đổi tiền! Trần Đĩnh nhận xét rất hay: “Tố Hữu, nguyên Trưởng ban tuyên huấn TƯ đã hạ thời cơ tuyệt hảo chấm dứt cơ nghiệp đại gia tư sản Lợi Quyền có tiếng ở Hà Nội. Bằng giấy lộn. Ai cứ bảo nhà thơ trên gió trên mây.”

Việc ĐCSVN cho công an lập ra những tổ chức “kháng chiến” cuội, “phục quốc” cuội để đánh lừa thanh niên yêu nước ở miền Nam, làm cho hàng nghìn người mắc bẫy để tống họ vào tù. Đó cũng là một tội ác kinh tởm.

Trên đây là những chuyện đối nội, còn về đối ngoại thì không thiếu chuyện ĐCSVN gian dối, lừa gạt trắng trợn dư luận thế giới. Chuyện ông Hồ Chí Minh sang Pháp nói dối như thế nào, nhiều người đã biết. Chẳng hạn, có tờ bảo hỏi thẳng: ông có phải là cộng sản không? Ông Hồ chối đây đẩy: không. Trả lời câu hỏi của báo Journal de Genève, ông tuyên bố như đinh đóng cột: “Các bạn của chúng tôi không nên lo chủ nghĩa mác-xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”. Trên báo Le pays ông cũng đã nói: “Những lý thuyết mác-xít không thể áp dụng ở nước chúng tôi được”. Còn trong cuộc phỏng vấn ngày 25.6.1946, trả lời đảng viên Xã hội Pháp Daniel Guérin hỏi về cái chết của Tạ Thu Thâu, ông Hồ đã nói như sau: “Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés”, tạm dịch: “(Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”. Ông Hồ giả dối làm ra vẻ đau buồn về cái chết của nhà ái quốc Tạ Thu Thâu, trong lúc đó chính ông ta biết quá rõ ai là người ra lệnh giết ông Thâu, và chắc chắn ông ta cũng không thể quên ba bức thư ông gửi cho TƯ những năm 1937–38 chửi bới thâm tệ những người trotskistes.

Việc ĐCSVN vi phạm Hiệp định Genève 1954, để lại vũ khí, cài lại cán bộ ở trong Nam, vi phạm Hiệp định ngừng bắn năm 1973, hay là những vi phạm thường xuyên các Công ước quốc tế về nhân quyền, về chống tra tấn, v.v. và v.v… càng nổi bật sự gian trá quen thuộc của tập đoàn cầm quyền ĐCSVN. Có thể họ biện bạch rằng đứng trên lập trường vô sản, đánh lừa quốc tế, tức là đánh lừa bọn đế quốc, là đúng đường lối giai cấp và chỉ có lợi cho ta thôi. Họ không hề nghĩ rằng làm như thế là có hại cho quốc thể, là tạo thêm nỗi quốc nhục cho Đất nước Việt Nam: đã mang danh tên ăn mày quốc tế vác bị đi xin khắp thế giới lại còn muốn quàng thêm cái danh xưng thằng bạc bịp quốc tế nữa thì thanh danh của Tổ quốc Việt Nam mãi mãi bị chôn vùi dưới ba thước đất, làm sao còn ngẩng mặt lên trước thế giới văn minh được?

Điều thứ ba. ĐCSVN thực tế là một đảng độc tài toàn trị, phản dân chủ. Ngay từ sau khi cướp được chính quyền, để củng cố quyền lực độc tài toàn trị Đảng đã ra sức tiêu diệt mọi đảng phái yêu nước có thể tranh chấp quyền lực với ĐCS hoặc đánh quỵ mọi thành phần có tiềm năng chống đối để bảo đảm cái mà Lenin gọi là гегемония пролетариата, tiếng Pháp là hégémonie du prolétariat, tức là địa vị độc tôn của giai cấp vô sản, thực ra là của ĐCS (Hà Nội dịch là độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản). Để bảo đảm cái địa vị độc tôn đó thì trong tất cả các cơ quan nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong tất cả các cơ quan chuyên môn, như bệnh viện, trường học, bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu bóng, v.v…, trong tất cả các đoàn thể xã hội, trong tất cả các cơ quan truyền thông, tất cả các báo chí của Đảng… đều phải do các đảng viên CS nắm giữ địa vị chủ chốt. Dù rằng ở một số bộ và cơ quan nhà nước có thể có người ngoài đảng trên danh nghĩa là bộ trưởng, vụ trưởng, giám đốc, v.v… nhưng đảng viên CS hay đảng đoàn CS những nơi đó vẫn là người có thực quyền quyết định, còn các vị ngoài đảng chỉ “làm vì”. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng. Đối với các lực lượng có tiềm năng chống đối Đảng, tính ra chỉ còn giới trí thức và giai cấp tư sản thì ĐCS chủ trương phải “cải tạo” họ. Ở nông thôn, từng lớp phú nông đã bị đánh gục trong CCRĐ rồi, nên Đảng không lo. Học theo Trung Cộng, ĐCSVN chủ trương cải tạo trí thức bằng cách “chỉnh huấn”, rập khuôn theo bài bản “chỉnh phong” của Mao Trạch Đông. Trong  “chỉnh huấn”, buộc  những người trí thức phải tự bộc lộ, tự kiểm điểm, tự xỉ vả những thói hư tật xấu của mình, họ còn phải khai báo về xuất thân của mình, nếu thuộc về những giai cấp gọi là “đối tượng của cách mạng” như địa chủ, tư sản… thì họ phải tố cáo, xỉ vả và căm thù ngay cả bố mẹ, ông bà mình. Tất nhiên, đây là điều sỉ nhục lớn đối với người trí thức biết tự trọng, nhưng nếu anh ta chịu đựng được thì tỏ ra rằng anh ta đã khuất phục giai cấp vô sản, tức là ĐCS, và anh ta sẽ được Đảng sử dụng. Tuy vậy, Đảng vẫn không hoàn toàn tin anh ta, còn những điều anh ta đã bộc lộ với Đảng thì Đảng ghi vào hồ sơ lý lịch và theo dõi anh ta suốt đời. Hơn nữa, dù được Đảng sử dụng, nhưng bao giờ Đảng cũng kỳ thị, phân biệt đối xử với trí thức. Cái đó gọi là “chủ nghĩa thành phần”. Cái “chủ nghĩa” quái gở này áp dụng không chỉ  cho cán bộ, nhân viên, sĩ quan và binh lính, mà cả cho học sinh, sinh viên, nhất là khi xét duyệt cho họ vào đại học hay đi nước ngoài. Cái “chủ nghĩa” này đã hủy diệt biết bao tài năng của tuổi trẻ! Giáo sư Tạ Quang Bửu bị thất sủng chính vì đã phản đối cái “chủ nghĩa” này.

Còn nếu người trí thức có thái độ ngang bướng, không phục tùng Đảng, hoặc lời ăn tiếng nói không vừa ý lãnh đạo thì Đảng sẽ mở trận đấu tranh không khoan nhượng. Đó là trường hợp đối với các văn nghệ sĩ, các giáo sư trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm” hồi giữa những năm 50 thế kỷ trước. Hậu quả của việc ĐCSVN đánh “Nhân Văn-Giai Phẩm” là cả một nền văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt trong mấy chục năm ròng, và cả một lớp tinh hoa của dân tộc tiêu biểu cho trí tuệ và sức sáng tạo đã bị đánh gục, bị vùi dập, bị dìm xuống bùn đen trong nỗi sợ triền miên làm cho sự tiết tháo, nhân cách của giới trí thức miền Bắc Việt Nam bị sa sút nặng nề. Đó là một tội ác của ĐCSVN đối với trí tuệ của dân tộc.

Còn việc cải tạo công thương nghiệp, chủ yếu là để tước đoạt (từ ngữ của Marx) phương tiện sản xuất, cơ sở kinh doanh của giai cấp tư sản, lại là một đòn chí tử nữa ĐCS đã giáng xuống những mầm mống đang lên của nền kinh tế non yếu của Đất nước làm cho nó càng thêm suy bại.

Mặc dù ĐCS đã độc quyền thao túng bộ máy cai trị gồm cả chính quyền lẫn các tổ chức và đoàn thể xã hội, đã nắm chắc hệ thống chuyên chính vô sản, nhưng sau những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, sau những sai lầm và thất bại nặng nề về kinh tế, xã hội, đã làm cho đời sống người dân cực kỳ khó khăn, thua kém rất nhiều so với thời còn dưới chế độ cũ, thì uy tín của ĐCSVN ngày càng sa sút trầm trọng. Vì thế, tập đoàn cầm quyền CSVN thấy cần phải bắt chước ĐCSLX dưới thời trì trệ của TBT Brezhnev đã đưa điều 6 vào HP LX 1977,  thì họ cũng đã đưa điều 4 vào HP CHXHCNVN 1980. Và sau này họ vẫn giữ nguyên cả trong HP 1992 và 2013. Đây là âm mưu dùng HP để thể chế hóa sự độc quyền cai trị và địa vị độc tôn của ĐCSVN, siết chặt hơn nữa chế độ độc tài toàn trị của một nhúm nhỏ mấy người trong BCT TƯ Đảng, nhằm chặn đứng con đường dân chủ hóa xã hội, con đường đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập. Cho nên đòi hỏi của dân chúng, nhất là các nhà trí thức và các chiến sĩ dân chủ phải xóa bỏ điều 4 HP là điều rất hợp lý và rất chính đáng, vì điều 4 chi phối phần lớn những điều khác trong HP, chi phối toàn bộ sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Gần đây, Khối 8406 vận động cuộc biểu tình trên mạng đòi xóa bỏ điều 4 HP cũng là một việc làm rất có ý nghĩa.

Cũng nên thấy rằng một khi ĐCS cầm quyền buộc phải ghi điều đó vào HP thì chứng tỏ là chế độ thống trị CS đã rệu rã, rung rinh và có cơ sụp đổ, vì thế tập đoàn thống trị phải dùng điều đó để siết chặt hơn nữa nền thống trị CS. Trước đây, khi mới cầm quyền, dân chúng còn hy vọng, còn tin tưởng vào ĐCS, họ không cần đưa điều đó vào HP mà vẫn chuyên chính được. Bây giờ, hy vọng và tin tưởng đã mất hết, nên điều đó là tối cần thiết cho kẻ thống trị. Cho nên TBT Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên BCT khác đều nói: “Bỏ điều 4 HP là tự sát!”. Nhưng đó cũng chính là tiên triệu báo trước sự sụp đổ không xa của chế độ độc tài. Đấy, năm 1977, ĐCSLX đưa điều 6 vào HP thì 13 năm sau, Liên Xô sụp đổ và ĐCSLX tan tành! Vì thế, ngày nay, các  quan chức CSVN phải tính chuyện đường dài, họ bắt chước các lãnh tụ CS họ Kim ở Bắc Triều Tiên, hay họ Castro ở Cuba, dần dần cài người thân trong gia đình vào bộ máy lãnh đạo từ tỉnh lên đến TƯ để dùng lối cha truyền con nối mà đảm bảo sự độc quyền thống trị của họ. Còn một cách nữa: chuyện mới xảy ra gần đây thôi. Theo báo Nhân Dân ngày 29.1.2015, tại hội nghị cán bộ do Ban Tổ chức TƯ triệu tập ngày 27.1.2015, ông Tô Huy Rứa, ủy viên BCT, trưởng Ban Tổ chức TƯ đã cho biết cuộc họp Ban Chấp hành TƯ lần thứ 10 vừa qua đã thông qua danh sách gồm 290 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết cho Đại hội XII, và danh sách 22 ủy viên BCT và ủy viên Ban Bí thư (BBT) cho khóa XII. Đây quả là một “sáng kiến tân kỳ”, chưa từng thấy của ĐCSVN: bất chấp Điều lệ Đảng, toàn bộ nhân sự của ĐCSVN khóa XII sắp tới đã được hội nghị TƯ Đảng lần thứ 10 khóa XI, gồm 197 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết khóa XI quyết định xong xuôi. Toàn bộ danh sách các vị ủy viên trong BCT và trong BBT khóa XII cũng quyết định xong. Như thế là hội nghị TƯ lần thứ 10 đã làm thay cho toàn bộ quá trình đại hội từ cơ sở đến Đại hội toàn quốc lần thứ XII cả trong việc ứng cử, lựa chọn, bầu cử các cấp ủy từ dưới lên trên cho đến Ban Chấp hành TƯ, BCT và BBT khóa XII. Tập đoàn thống trị hiện nay cố đấm ăn xôi, quyết bảo đảm cho kỳ được là tập đoàn cầm quyền sắp tới phải theo ý chí của họ. Quả là một sự độc tài, chuyên quyền trắng trợn không thể tưởng tượng nổi.

Điều thứ tư. Hãy nhìn lại trong 85 năm qua, ĐCSVN đã làm được gì cho dân, cho nước. ĐCSVN rất thích kể công về thời trước. Mà nhiều khi cái “công” đó chưa hẳn là công thật. Đảng thường tự hào là Đảng đã cướp được chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức là ĐCS) đã cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp, mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim là ai? Thực ra, họ không phải là “chính phủ bù nhìn” cho Nhật như Việt Minh và tờ Cờ Giải Phóng của ĐCS đã vu cáo họ, mà là một chính phủ do vua Bảo Đại lập ra sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) gồm nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng trong cả nước, chẳng những họ có trí tuệ, có tư tưởng, mà còn có đức hạnh đứng ra gánh vác việc nước vì mục đích giành độc lập thật sự cho Việt Nam. Vì điều kiện phức tạp hồi bấy giờ, Chính phủ đó chỉ tồn tại trong bốn tháng thôi. Nhưng trong thời gian ngắn ngủi đó họ đã làm được nhiều việc lớn: đã cố thu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng nhằm giữ được toàn vẹn lãnh thổ; đã tổ chức việc cứu đói cho dân miền Bắc; đã Việt hóa nền giáo dục, và việc này đã có ảnh hưởng lâu dài cho cả những thời kỳ và nhiều thế hệ sau này; đã cải tổ thuế má, tư pháp; đã vận động và tổ chức thanh niên, sinh viên (tổ chức Thanh niên Tiền tiến) đưa thanh nên vào sinh hoạt chính trị, xã hội… Đại diện của Chính phủ Trần Trọng Kim đã năm lần gặp đại diện của Việt Minh (ĐCS) để bày tỏ lòng mong mỏi hợp tác với Việt Minh để cùng lo việc nước, nhưng đại diện của Việt Minh đã khước từ vì chủ trương của ĐCS là: ĐCS phải là đảng cầm quyền, duy nhất cầm quyền.

ĐCS thường kể công và tự hào đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nhưng cũng có lắm ý kiến bác lại rằng: nếu ĐCS có chính sách mềm dẻo hơn thì chưa chắc đã cần phải đổ máu kháng chiến chống Pháp trong gần 10 năm. Nếu cứ tiếp tục đứng trong Khối Liên hiệp Pháp (theo Hiệp định sơ bộ - 6.3.1946) mà đấu tranh thì cuối cùng Pháp cũng phải trả lại độc lập cho ta, giống như các nước thuộc địa khác đã được Pháp trả lại độc lập, chẳng phải tốn máu xương mà còn được độc lập sớm hơn ta nhiều. Đấy, cái “công” đó cũng chưa hẳn là công thật. ĐCS còn tự hào đã lãnh đạo chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam. Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, mà những người lãnh đạo thân Mao hồi đó, như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… đã phát động, do sự xúi giục và mưu đồ của Mao Trạch Đông: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. ĐCSVN phải chịu trách nhiệm trước Dân tộc về cái tội đã phát động cuộc nội chiến này gây ra biết bao đau thương, tang tóc, tốn biết bao máu xương của Dân tộc: trên sáu triệu người đã bỏ mạng. Cái “công” này không phải là công mà chính là tội, tội ác.

Về đối ngoại, từ chỗ suy tôn “Mao Trạch Đông là Lenin của thời đại ba dòng thác cách mạng Á-Phi-La”, chửi Liên Xô là “xét lại hiện đại”, rồi lại kình địch với Trung Quốc, chửi Mao, tiến hành chiến tranh với Campuchia Pol Pot, chiếm đóng Campuchia; Lê Duẩn và ĐCSVN lại quay ngoắt chạy theo LX, tuyên bố coi LX là Tổ quốc thứ hai (nhưng, thực ra trong nội bộ CSVN vẫn coi LX là “xét lại hiện đại”) cốt để xin viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh, rồi ký kết Hiệp ước Tương Trợ với LX. Đến khi bị Trung Cộng tung 300 nghìn quân đánh một trận trên suốt đường biên giới phía Bắc, ĐCS lại chửi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, ghi hẳn điều đó vào HP. Còn khi Liên Xô và các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Mông Cổ sụp đổ, ĐCSVN bơ vơ, bị cô lập hoàn toàn, thì nhóm chóp bu CSVN là Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng lại muối mặt bay đến Thành Đô (3-4.9.1990) hạ mình khuất phục Trung Cộng, chui đầu vào dây thòng lọng của Trung Cộng. Sau đó, CSVN lại tự nguyện quàng thêm vào đầu “vòng kim cô” “mười hai chữ vàng” của Giang Trạch Dân ban, mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc mới. Sở dĩ nhóm chóp bu của ĐCSVN phải quy phục như vậy là vì muốn cứu cái chế độ độc tài toàn trị của chúng, cứu cái địa vị thống trị của chúng trên đầu trên cổ người dân. Từ đó đến nay, nhóm cầm đầu ĐCSVN tiếp tục tự biến mình thành những tên “thái thú” nhượng đất, nhượng biển cho TQ; mặc cho Trung Cộng làm mưa là gió trên Biển Đông, cấm đoán, săn đuổi, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân, bắn giết ngư dân; mặc cho Trung Cộng làm sân bay, củng cố công sự trên các đảo Việt Nam đã bị chúng chiếm; mặc cho chúng làm thêm những đảo nhân tạo… Còn trên đất liền thì sao? Bất chấp sự phản đối của các nhà trí thức và nhân dân, ĐCSVN cho Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nơi xung yếu nhất của Tổ quốc, trên diện tích hàng chục nghìn hec-ta rừng, với hai nhà máy Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và Nhân Cơ, tỉnh Đak-Nông, với hàng nghìn công nhân, lao động Trung Quốc đang chiếm cứ ở đó. Gần 80% các công trình quan trọng trên cả nước Việt Nam đều do Trung Quốc trúng thầu xây dựng. Các tỉnh miền biên giới đã cho Trung Quốc thuê trên 300 nghìn hec-ta rừng đầu nguồn của 18 tỉnh phía Bắc trong 50 năm. Trung Quốc được phép lập nhiều khu dân cư nhiều nơi trên đất Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam bị Trung Quốc lũng đoạn nặng nề. Văn hóa Trung Quốc cũng xâm nhập sâu vào Việt Nam. Viện Khổng tử cũng đã khai trương tại Đại học Việt Nam. Một điều đáng chú ý nữa là gần đây một đoàn cán bộ cao trung cấp của Đảng đã đưa sang đào tạo ở Trung Quốc. Đó là chưa nói tới việc Trung Cộng còn tác động đến quyết định chọn lựa các nhân vật quan trọng trong cơ cấu Việt Nam mà nhiều người đã biết. Như vậy là với đường lối đối ngoại hiện nay, rõ ràng là nhóm cầm quyền trong ĐCSVN đã phản bội lại quyền lợi của Đất nước và Dân tộc Việt Nam.

Về đối nội cần nói rõ rằng, trong lúc khuất phục Trung Cộng thì nhóm cấm quyền ĐCSVN lại ra sức đàn áp những người yêu nước Việt Nam đứng lên đấu tranh đòi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; đàn áp các cuộc biểu tình tố cáo và phản đối những vi phạm bờ cõi và biển đảo Việt Nam, phản đối việc đưa giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam. Thậm chí việc đồng bào kính viếng các tử sĩ Việt Nam trong cuộc chiến Việt Trung 1979 cũng bị cấm cản, xua đuổi. Bộ mặt phản nước hại dân của nhóm cấm quyền ĐCSVN ngày càng rõ rệt.

Về đối nội, trong 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Bắc – Nam chấm dứt, một thời gian dài với đường lối phiêu lưu, duy ý chí của tập đoàn Lê Duẩn, Đất nước đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khốn khổ, dù Lê Duẩn luôn luôn huênh hoang hứa hẹn mọi điều tốt đẹp. Đến thời “đổi mới” có dễ chịu hơn một chút, kinh tế bắt đầu phát triển, nhưng ban lãnh đạo ĐCSVN vẫn bảo thủ, cứ khư khư giữ chặt địa vị của mình, chỉ đổi mới về kinh tế, mà nhất định không đổi mới về chính trị. Hơn nữa, đổi mới kinh tế mà Đảng lại cứ kiên trì cái phương châm trái khoáy: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho nên dù có nhưng tiến bộ về kinh tế nhưng đà phát triển không mạnh làm cho sụ tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực, như Singapore,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, v.v… ngày càng lớn. Phải nói rằng ở Việt Nam chưa bao giờ nạn tham nhũng, cửa quyền trầm trọng và tràn lan như bây giờ. Từ trên xuống dưới hiện tượng tham nhũng rất phổ biến, nó làm cho nền kinh tế phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề, đồng thời làm cho cuộc sống người dân càng thêm khó khăn. Đám cầm quyền luôn miệng nói tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm ra vẻ hò hét chống tham nhũng, dọa sẽ “hốt, hốt hết”, nhưng tham nhũng vẫn không hết mà càng nặng nề thêm. Vì sao? Vì cái chế độ cực quyền toàn trị không cho người dân cất tiếng nói, không cho báo chí được tự do ngôn luận, cho nên cái gọi là quyền lực thứ tư không thể nào phát huy tác dụng. Hơn nữa, dưới chế độ độc tài đảng trị, không có tam quyền phân lập, không có tư pháp độc lập nên không thể trừng phạt được những cán bộ đảng viên tham nhũng nắm giữ các địa vị cao. Biết bao nhiêu vụ bị tố cáo đều đã “chìm xuồng”, mà có nhiều trường hợp các nhà báo dũng cảm tố cáo thì lại vô tù.

Dưới chế độ toàn trị của ĐCS, quyền công dân cũng như quyền con người không hề được tôn trọng, người dân không cảm thấy mình là người chủ của Đất nước, trong lúc đó ĐCS lại o bế công an, cảnh sát, lại sử dụng bọn côn đồ trong việc đàn áp dân lành, biến công an, cảnh sát thành những kiêu binh, tha hồ nhũng nhiễu, hành hạ, đánh đập, tra tấn, thậm chí đánh chết người dân. Số người bị công an đánh chết, bị tật nguyền không phải là ít. Trong khi đó, tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, xì ke ma túy, đĩ điếm lan rộng, chẳng những ở thành thị mà tràn lan đến cả vùng nông thôn. Đạo đức xã hội ngày càng băng hoại đến nỗi tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã phải kêu lên: “Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh váo rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?” Đấy, kết quả nhãn tiền của “đạo đức cộng sản” và việc “xây dựng con người mới, xã hội chủ nghĩa” của Hồ Chí Minh và ĐCSVN như thế đó.

Điểm thứ năm. ĐCSVN là một đảng rất bảo thủ, thủ cựu, muôn năm vẫn nhìn thế giới, nhìn Đất nước và Dân tộc qua cái lăng kính Marx-Lenin quá cũ kỹ và lệch lạc. Chủ nghĩa Marx-Lenin mà loài người đã vứt vào sọt rác hàng mấy chục năm rồi, dân ở các nước vốn là nôi của chủ nghĩa đó đã vĩnh biệt nó từ lâu rồi, thế mà cho đến ngày nay, từ đại hội Đảng kỳ này qua kỳ khác vẫn lặp đi lặp lại mãi “phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nghe quá nhàm tai đến nỗi dân phải kêu lên “mãi mãi cái loa rè”, “già rồi đâm lú”. Buồn cười nhất là dưới thời TBT Đỗ Mười, ông ta vẫn nhai đi nhai lại “hai phe, bốn mâu thuẫn”, cái công thức từ đời xửa đời xưa CS dùng để nhận định tình hình thế giới. Nhóm cầm quyền trong Đảng cứ khư khư ôm cái cũ, không dám, và cũng không đủ trí tuệ, để nhận ra cái mới, cái năng động của mầm non, cái tương lai, để dám đi những bước sáng tạo. Cái thói quen của họ là bắt chước “hai ông anh”, cứ LX, TQ làm gì thì rập khuôn làm theo. Ban lãnh đạo, nhất là BCT, BBT già cả không có sức sống của tuổi trẻ để vươn tới trí tuệ, văn minh và tiến bộ, nên ĐCS mãi mãi lạc hậu, dù họ vênh vang tự cho mình là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Nhìn vào thực tế thì thấy rõ ĐCSVN chống lại văn minh và tiến bộ, chống lại chế độ dân chủ đích thực. Thế mà có ai đề xuất cái mới thì BCT đã vội kêu lên “đổi mới, nhưng không được đổi mầu”. Đã thế, nội bộ ban lãnh đạo chóp bu luôn luôn gầm ghè lục đục nhau, cấu xé nhau, và mỗi người đều lợi dụng chức, quyền để trục lợi và tham nhũng!

Chỉ nêu lên năm điểm như thế thôi cũng đủ để mỗi người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng vì nước vì dân, có tinh thần tự trọng hãy tự mình lựa chọn: ánh sáng hay bóng đêm, đức hạnh hay tội ác, dân chủ hay độc tài, văn minh, tiến bộ hay dã man, lạc hậu, vì Tổ quốc và Dân tộc hay vì một đảng, thậm chí một nhúm độc tài… Mỗi người sẽ tự hỏi và tự quyết định: có nên tiếp tục ở trong cái ĐCS này nữa không hay rời bỏ nó? Cái đảng khủng bố, gây chiến. Cái đảng phạm tội diệt chủng, phạm tội ác với loài người và với Dân tộc. Cái  đảng gian dối, lừa gạt, lật lọng. Cái đảng trong 85 năm qua đã gieo rắc bao đau thương, tang tóc, khổ cực, tủi nhục cho mấy chục triệu con người. Cái đảng đang tham quyền cố vị, bám vào quyền lực để thống trị Dân tộc và Đất nước. Cái đảng đang thuần phục và rước kẻ thù vào nhà.

Ngày nay, ĐCSVN đang là khối u ác tính bám vào cơ thể Dân tộc, cơ thể Đất nước. Nếu không dũng cảm làm một cuộc phẫu thuật để vứt bỏ khối u đó đi mà để nó di căn thì Dân tộc và Đất nước chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Cộng đầy tham vọng bành trướng. Lẽ nào người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng yêu nước thương dân, có tinh thần tự trọng mà không dám rời bỏ cái đảng tội ác đã phản lại cuộc cách mạng ĐCS từng rêu rao và hứa hẹn?

Chính lúc này là lúc phải quyết định! Rời bỏ cái đảng mang tội ác với dân, với nước này sớm được ngày nào càng tốt ngày đó. Đừng có hy vọng là những kiến nghị hay ho, những đề nghị sáng suốt, những yêu cầu thiết tha của các trí thức, các cán bộ, đảng viên, các lão thành cách mạng, cũng như của nhân dân có thể chuyển hóa được được những cái đầu đã bê-tông hóa của đám cầm quyền vì cái đít của chúng quen ngồi ghế cao bao giờ cũng thích leo cao hơn nữa và bám chắc hơn nữa vào cái ghế của chúng. Đừng có hy vọng đại hội Đảng kỳ tới sẽ có thay đổi gì tốt đâu. Câu nói dân gian khi xem tuồng chèo: “Vô ra vẫn thằng cha lúc nãy!” Đại hội Đảng cũng chỉ là một lớp tuồng chèo, “vô ra vẫn thằng cha lúc nãy” thôi.

Chúng tôi rất thông cảm có nhiều bạn đang phân vân, ngập ngừng, do dự. Đó là điều rất tự nhiên trước một quyết định quan trọng. Nhưng khi đã dám quyết định bước ra khỏi cái đảng độc tài, dối trá, tham nhũng này rồi, thì các bạn sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhõm, thoải mái lạ thường. “Vòng kim cô” trên đầu bạn sẽ biến mất lúc nào không hay. Việc đó sẽ mở ra một chân trời mới để bạn có thể cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho những công việc có ích cho Tổ quốc và Dân tộc. Tin chắc rằng những người dũng cảm, như các anh Nguyễn Chí Đức, Phạm Đình Trọng và nhiều người khác… đã ra khỏi ĐCSVN cảm thấy thấy nhẹ nhàng, rất thoải mái, vì bây giờ các anh đã thực sự là những con người tự do./-

Nguyễn Minh Cần
6.2.2015

Khai Dân TríNguyễn Minh Cần