Showing posts with label Nguyễn Bỉnh Khiêm. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Bỉnh Khiêm. Show all posts

2016/06/29

GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: Khi nào đảng CSVN do ông HCM lãnh đạo sụp đổ hoàn toàn?

GIẢI ĐOÁN SẤM TRẠNG TRÌNH: Khi nào đảng CSVN do ông HCM lãnh đạo sụp đổ hoàn toàn?

Câu hỏi trên sẽ dựa trên bộ môn LÝ SỐ HỌC HÀ LẠC của nền văn hóa Dịch Lý cổ xưa mà chỉ ra con đường ta phải đi để có đối sách với Phương Bắc và hóa giải các mâu thuẩn đến từ Đông Tây. Nghĩ cũng cần thưa: Lý số học Hà Lạc là một môn toán nghiên cứu cái lý số nằm trong các con số Âm Dương “Tiên Rồng Trăm Trứng”.

Đây là một môn học khách quan, vì nó là môn đạo học dựa trên các con toán số. Chính nhờ môn này mà xưa cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dựa vào đó mà toán ra và nói lên những lời tiên tri thế cuộc để đời, như cụ đã nói trong lời mở đầu sấm ký của cụ:

Nước Nam từ thuở Hồng Bàng
Đổi thay cuộc thế thời gian chuyển vần
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần vận nước đổi thay
Núi sông Thiên Định đặt bày
Đồ Thư một quyển xem ngay mới rành.

Tài tiên tri của Cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng Trình”. Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến quốc hiệu Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, trăm bài thơ văn với giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho tàng minh triết cho muôn đời sau.

Thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri dạy rằng:

Biển Đông vạn dậm giang tay giữ
Đất Việt muôn năm vẫn trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.

Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông, thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.
Để biết được một chế độ từ lúc nắm chính quyền cho đến thời điểm suy và sụy đổ, ta phải áp dụng và giải mã lời tiên tri của cụ Trạng, và Cụ đã nói: “Một câu là một nhiệm mầu”. Lấy 3 câu trong 483 câu sấm.

Các câu số:

116. Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117. Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118. Ai mà nghĩ được mới gan anh tài

Trong 3 câu, chỉ lấy ra một câu để giải mã: câu 117.
117: Chữ rằng Lục Thất nguyệt gian

Ẩn ý chữ “Lục Thất: là gì?
Lục là số 6, thất là số 7, tổng số là 13. Số 13 gọi là Lục Thất. Ẩn ý nói thời gian hưởng được 13 năm.

Tiếp tục lấy 3 câu sấm khác. Các câu số:

395. Canh niên tàn phá
396. Tuất Hợi phục sinh
397. Nhị Ngũ dư bình

Ba lời tiên tri cũng lấy ra câu 397 để giải mã, để biết được thời gian suy và sụp đổ.

“Nhị Ngũ” là gì? Nhị là số 2, ngũ là số 5. Hai số 5 là số 10. Ẩn ý nói: thời gian 10 năm mới là thời gian suy và sụp đổ.

Tổng số thời gian của một chế độ kéo dài bao nhiêu. Số thời gian đó đem chia cho số 13, ta biết được số Lục Thất được hưởng của chế độ.

Để chứng minh và áp dụng từ nhà Hậu Lê.

NHÀ HẬU LÊ
Lê Lợi xưng vương năm 1428 và truyền đến vua Chiêu Thống tức là Mẫn Đế thì hết. Nhà Hậu Lê làm vua kể cả tiền Lê được 360 năm. Năm (1428 đến 1788).

Lấy 360 năm chia cho 13 được 27 Lục Thất tức là 13 x 27 = 351 năm.

Nhà Hậu Lê hưởng được 351 năm thì bị suy. Tức năm 1428 + 351 = 1779. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1779 + 10 = 1789.

NHÀ NGUYỄN TÂY SƠN
Nguyễn Nhạc xưng vương năm 1779. Nhà Nguyễn Tây Sơn hưởng được một Lục Thất 13 năm thì bị suy, tức năm 1779 + 13 = 1792. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức năm 1792 + 10 = 1802.

NHÀ NGUYỄN GIA LONG
Gia Long xưng vương năm 1802, hưởng được 11 Lục Thất, tức 13 x 11 = 143 năm thì bị suy tức 1802 + 143 = 1945. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 1945 + 10 = 1955 (ngày 23 tháng 10 Bảo Đại bị dân truất phế.)

NHÀ HỒ
Hồ Chí Minh cướp chính quyền nhà Nguyễn, vua Bảo Đại năm 1945. Nhà Hồ hưởng được 5 Lục Thất, tức 13 x 5 = 65 năm thì bị suy, tức 1945 + 65 = 2010. Trong 10 năm Nhị Ngũ thì vong, tức 2010 + 10 năm = 2020.

Sau khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017, và sự sụp đổ như thế nào? chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.
  • Canh Dần 2010
  • Tân Mẹo 2011
  • Nhâm Thìn 2012
  • Quý Tị 2013
  • Giáp Ngọ   2014
  • Ất Mùi       2015
  • Bính Thân  2016
  • Đinh Dậu   2017
    (Cộng Sản sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017 ứng theo Sấm Ký Thân Dậu)
  • Mậu Tuất  2018
  • Kỷ Hợi     2019 (Tuất + Hợi phục sinh)
  • Canh Tý   2020

Sau khi áp dụng 2 câu sấm ký của cụ Trạng để chứng minh 3 triều đại Quân Chủ của nước Việt Nam, từ nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long, từ khi xưng vương cho đến khi suy và sụp đổ, tôi đã thấy đúng và chính xác theo sử liệu Việt Nam. Do đó, tôi khẳng định rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện đang nắm chính quyền sẽ sụp đổ hoàn toàn vào năm 2017, và sự sụp đổ như thế nào? chờ thấy mới biết, không giải thích. Ứng với câu sấm “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.

Sau khi Cộng Sản sụp đổ, chế độ mới lên thay thế dưới sự lãnh đạo của một đấng Minh Quân tài đức vẹn toàn và mang lại cho dân tộc Việt Nam một đời sống tự do, ấm no và hạnh phúc muôn đời.

Tôi là một HO thầm lặng bình thường, không phải là một nhà bình luận, không phải nhà chính trị, không phải nhà văn, không phải nhà báo. Nhưng tôi cũng yêu quê hương tôi, yêu dân tộc tôi. Tôi nói lên những điều mà tôi hiểu và biết cho tất cả mọi người Việt Nam giảm bớt sự âu lo, và đất nước Việt Nam không mất một tấc đất nào cho bọn bành trướng Bắc Kinh, dù trong đất liền hay ngoài các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hiện nay, bọn bành trướng đã làm những gì mà người Việt chúng ta nhìn thấy. Bọn chúng sẽ giao lại cho người Việt Nam sau này.

Mai Xuân Tấn
Vĩnh Liêm sưu tầm, 29-6-2016

Khai Dân TríMai Xuân Tấn

2016/02/10

Nhân Tình Thế Thái

Nhân Tình Thế Thái

Thế gian biến cải vũng nên đồi,
Mặn, nhạt, chua cay, lẫn ngọt bùi,
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
Xưa nay, đều trọng người chân thực,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.
Ở thế, mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.

(BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI)

I. Chú thích :

Biến cải vũng nên đồi : Chỉ những sự thay đổi lớn lao trong cuộc đời như thay đổi bộ mặt xã hội, thay đổi cảnh vật, thay đổi của lòng người.
Mặn, nhạt, chua, cay, ngọt, bùi : Chỉ những trạng thái, tình cảnh, tình huống ngang trái trong cuộc sống đa đoan, tục luỵ, chìm nổi.
Đệ tử : dt, Chỉ những kẻ dưới quyền, tay chân, thuộc hạ sống bám vào việc tâng bốc cấp trên.
Kẻ đãi bôi : kẻ nói lời ngon ngọt lấy lòng, không thật, xảo ngôn.

II. Bình Giảng :

Qua bài thơ Nhân Tình Thế Thái tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cho ta thấy sự thật về bộ mặt của người đời, nơi đó, đầy rẫy những kẻ hám danh vụ lợi, tầm thường, vì miếng cơm áo quên điều nhân nghĩa, dù trong tận đáy lòng, con người cũng biết trọng điều chân thật, ghét sự dối trá, gian manh; mà chỉ những tâm hồn sống từng trải nếm qua mọi cảnh đời mới thấu hiểu được.

Bài thơ có bố cục theo thể thơ Đường luật, Thất ngôn bát cú :

Câu 1-2: Cuộc đời luôn thay đổi, thăng trầm đầy vơi với mọi cảnh ngộ.
Câu 3-4: Tâm lý, thói đời vụ lợi và phù thịnh, quên nhân nghĩa.
Câu 5-6: Thiện ý của con người xưa nay ưa chân thật, ghét gian ngoan.
Câu 7-8: Có sống ở đời, mới rõ được nhân tình thế thái.

Mở đầu bài thơ, tác giả cho thấy cảnh đời luôn biến đổi tang thương, trong đó con người cũng từng trải qua bao cảnh ngộ đa đoan, trớ trêu, đau khổ và hạnh phúc... Nhưng không phải con người luôn giữ được bản chất thiện lương của mình. Mỗi thay đổi cũng xuất hiện đầy rẫy những cảnh ngộ lọc lừa, phản phúc, trắng trợn đến mức tàn nhẫn, phũ phàng :

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi

Những cụm từ còn, hết, trùng điệp và đối xứng nhau trong hai câu thực như góp phần mô tả sự trắng trợn, thẳng thừng đến mức phũ phàng của tình đời đen bạc. Cách ngắt nhịp 2 - 2 - 3 của cả hai câu thực cũng bật lên giọng điệu cứng rắn, đến lạnh lùng. Hai câu thực đã toát lên ý chính, tư tưởng chính của bài thơ: Con người chỉ sống vụ lợi, vì miếng cơm manh áo, (bạc , tiền, cơm, rượu) làm gì có đạo lý và nhân nghĩa. Làm gì còn tình nghĩa đệ tử và đạo lý ông tôi, Mối tương quan đó chỉ có giá trị khi đi liền với bạc tiền và cơm rượu. Hết chất xúc tác đó thì các thực thể tách rời nhau. Con người lấy cặp mắt trắng dã lạnh lùng để nhìn nhau (bạch nhãn), không tình cảm. Những tưởng rằng đã cùng nhau trải qua bao cảnh ngộ mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi, thì tình phải sâu hơn nghĩa phải trọng hơn. Nhưng thực tế phũ phàng đã cho ta một bài học: sự từng trải chỉ giúp ta có một nhận thực chính xác hơn, xót xa hơn về lòng dạ người đời: bội bạc và vụ lợi.

Trước đây đọc Sầm Tham :

Thế gian giao kết do hoàng câm (kim)
Hoàng câm bất đa giao bất thâm...
(Người đời giao kết vì tiền,
Ít tiền tình nghĩa có bền được đâu.)

Ngày nay đọc Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy nhà thơ xưa và nay, con người dù ở bất cứ nơi đâu và thời nào cũng thế. Người thức giả dù từng trải việc đời, cũng chỉ biết mô tả, mỉm cười nhẹ nhàng khoan dung để mong sửa đổi chút phong hoá… nên ở hai câu luận tác giả nhắc nhở cái tính thiện trong thâm tâm mỗi con người :

Xưa nay, đều trọng người chân thực,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.

Chân thực là cái vốn quí mà trời đất đã cho ta. Mỗi người phải biết vun bồi sửa chữa mỗi ngày để hoàn thiện mình, và cải tạo cuộc đời cho nó ý nghĩa hơn, đáng sống hơn. Đó là đạo lý của cuộc sống. Vì dù sao chăng nữa, con người vẫn biết trọng nhân nghĩa, ghét gian tà.

Vả lại, phải là người sống từng trải sâu sắc như thế nào, tác giả mới nhận xét thấu đáo cuộc đời, khả dĩ tìm một con đường ứng xử thích hợp hơn :

Ở thế, mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó tìm lui.

Cũng sống trong cảnh người đời, thâm hiểu về cuộc đời, thế thái nhân tình... nhưng văn hào La Rochefoucauld của Pháp, nhìn đời với cặp mắt bi quan, tuyệt vọng. Trái lại, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - Việt Nam có thái độ điềm nhiên trước cảnh đời đen bạc, hiểu thói đời tầm thường, tráo trở và dung tục... nhưng người vẫn có nụ cười nhẹ nhàng, khoan dung đối với nhân quần xã hội của một bậc chính nhân quân tử, vui cuộc đời ẩn dật.

Phạm Văn Cảnh

Khai Dân TríPhạm Văn Cảnh