Showing posts with label Thanh Niên. Show all posts
Showing posts with label Thanh Niên. Show all posts

2017/02/02

Những điều khác biệt của Sài Gòn Tết năm nay

Những điều khác biệt của Sài Gòn Tết năm nay

Khi tôi viết bài này đã qua ba ngày Tết Đinh Dậu ở Saigon rồi. Nhìn vào cuộc sống của người Sài Gòn (tức thành phố Hồ Chí Minh) năm nay có nhiều khác biệt so với năm cũ. Không phải “đi lên” mà nó “đi xuống”. Cứ mỗi năm sự giàu nghèo lại cách nhau một khoảng cách rất xa và trộm cướp ngày càng nhiều.

Bạn chỉ cần liếc qua mấy trang báo, từ báo nhà nước đến báo “ngoài lề” bạn sẽ thấy đủ hình ảnh sự khác biệt này.

Đặc biệt nhất là nạn trộm cắp ngày càng nhiều, năm nay “phát triển rầm rộ” hơn năm ngoái. Người dân Sài Gòn đi đâu cũng sợ bọn trộm cắp, nhất là vào dịp Tết, chưa kể đến bọn cướp giết người hiếp dâm rất táo tợn giữa ban ngày. Trai trẻ mỗi lúc một hung hăng hơn. Hơn 2.200 người phải đi cấp cứu do đánh nhau trong 3 ngày Tết. Theo báo cáo của Bộ Y tế: Hơn 2.200 bệnh nhân đến các bệnh viện khám và cấp cứu do đánh nhau trong dịp Tết, 14 đã tử vong. Chỉ riêng từ 7h sáng 28/1 đến 7h sáng 29/1 có hơn 350 người nhập viện do đánh nhau, 92 người được chuyển viện, 2 ca tử vong.

Ra đường lúc nào cũng có thể chết vì xe tông. Những ngày nghỉ Tết, gần 120 người chết vì tai nạn giao thông.

Bạn hãy nhìn xem người Sài Gòn khác như thế nào. Tôi chỉ kể vài trường hợp thôi.
Chủ nhà hàn sắt vào cửa chống trộm.
Người dân Sài Gòn đề phòng trộm cắp
Nhiều người dân TP Sài Gòn trước khi về quê hoặc đi du lịch ngày Tết đã không quên "tậu" cho mình bộ khoá xịn, sửa lại camera... để đề phòng lúc trở về thì "vườn không nhà trống" vì bị trộm cắp... "viếng thăm". Vì thế, các mặt hàng ổ khoá, camera bán "đắt như tôm tươi" ngày cuối năm.

Điều những người dân Sài Gòn lo ngại nhất trước khi về quê đón Tết hay đi du lịch chính là trộm cướp ghé thăm khi gia chủ vắng nhà. Chung cư tôi ở buổi sáng mùng Một Tết, đường xá vắng hoe. Rất nhiều người đã về quê ăn Tết. Nhà cửa đóng then cài, khóa vài ổ khóa to đùng ngoài cửa sắt vậy mà vẫn chưa yên tâm. Mấy năm nay văn minh hơn có nhà mua cả camera về gắn trước cửa nhà, phường tôi cũng đã có lần vận động bà con chung tiền mua camera gắn ở đầu mỗi lô chung cư, nhưng không hiểu sao sau này Phường lại đánh trống bỏ dùi, không có camera.

Bọn nghiện hút, xâm mình đi lại dài dài ờ hành lang chung cư. Thế nên ngày thường nhà nào cũng đóng kín cửa. Tôi ở nhà một mình cũng phải khóa cửa ngoài cẩn thận. Cứ bảy giờ chiều là đóng kín cửa, nằm trong nhà thôi.
Người dân Sài Gòn ngại nhất đạo chích nên luôn khóa cửa cẩn thận. Nhà tôi cũng khóa cửa luôn.
Nhưng ở nhiều nơi khác, những ngày qua, nhiều người đã mua ổ khoá, thay cánh cửa, sửa, gắn các loại camera để tăng cường an ninh.

Anh Tư Minh, nhà ở đường Quang Trung (P.10, Q.Gò Vấp) dù tất tả dọn dẹp nhà cửa, cúng kính cho kịp sáng sớm ra sân bay về quê vẫn không quên chạy đi mua cho mình 2 bộ khóa cửa. Anh Minh quyết định thay 2 ổ khóa ở cửa chính để "cho chắc ăn" không ai có thể xâm nhập được bên trong nhà mình.

Bên cạnh nhà anh Minh, anh Hoàng là người dân gốc Sài Gòn, không có quê để về, nên gia đình anh quyết định đi Singapore du lịch. Mặc dù cách đây 1 tháng, khi sửa nhà, anh Hoàng đã làm lại toàn bộ dàn cửa nhựa với giá hơn 30 triệu đồng nhưng vẫn không yên tâm, anh tiếp tục cho hàn thêm dàn cửa sắt phụ bên ngoài. Chưa chắc ăn, anh Hoàng còn mua thêm 2 bộ khóa có chức năng không bị làm giả chìa, có chuông báo động để thay dàn khóa cũ cho yên tâm trước khi... xuất ngoại.

Quan sợ thằng ăn cắp
Giá của mỗi bộ khóa từ 8-20 triệu đồng một bộ. Khách hàng phần nhiều là chủ những biệt thự, nhà phố, chung cư cao cấp cùng nhà các quan, từ quan nhỏ đến quan to. Ngày thường thì dân sợ quan như cọp, nhưng Tết thì quan lại sợ thằng ăn cắp.

Ông Luận cũng cảnh báo người tiêu dùng nên cẩn trọng tìm hiểu các tính năng, nguồn gốc của các loại ổ khóa để không bị "tiền mất, tật mang". "Khoá Trung Quốc có giá 4-15 triệu/bộ. Điểm mạnh là giá thành rẻ nên nhiều người mua. Tuy nhiên, cũng cần cẩn trọng vì những loại khóa này thường nhại theo mẫu mã các nước tiên tiến nhưng chất lượng không theo giá thành. Nói cho rõ đó là hàng Trung Quốc làm giả y chang như của các nước tiên tiến nhưng dùng vài lần đã hỏng. Đó là “nghề” của bọn gian thương Trung Quốc thường thấy ở VN nhưng không bao giờ diệt sạch được. Mua bất cứ cái gì cũng có thể là hàng giả. Từ thức ăn cho đến đồ dùng. Người VN đã đề phòng nhưng vẫn mắc lừa. Bọn Trung Quốc có trăm phương nghìn cách tuồn vào VN kể cả mấy người Việt lưu manh cấu kết với gian thương làm hại dân mình. Không tin vào cơ quan an ninh hay “dân phòng” nữa, mình lo thân mình thôi.
Màn hình camera theo dõi trộm cắp ở đường hoa Nguyễn Huệ.
Ăn cắp nhanh như chớp tại đường hoa Nguyễn Huệ
Năm nay thành phố không bắn pháo hoa, TP Sài Gòn tổ chức đường hoa trên đại lộ Nguyễn Huệ rất hoành tráng, dân tứ xứ cũng đổ về Sài Gòn đi chơi đường hoa. Nhưng sơ sẩy một tí thôi là mất cắp. Bọn trộm cắp toàn là dân “nhà nghề”, chúng ra tay rất nhanh, khách chưa kịp biết ai đụng vào mình thì đã mất toi cái bóp rồi.

Nhiều người bị cướp ví tiền, iPhone ở đường hoa Nguyễn Huệ: Một nữ Việt kiều tìm đến chốt bảo vệ đường hoa Nguyễn Huệ trình báo bị kẻ xấu móc mất chiếc iPhone 7 chứa nhiều tài liệu, rồi ôm chồng khóc.

Chị Nguyễn Ngọc Đào, Việt kiều Mỹ, sáng nay cùng gia đình ra đường hoa Nguyễn Huệ vui xuân. Trong lúc dạo chơi, chị bị kẻ xấu móc mất chiếc điện thoại iPhone 7. Nữ Việt kiều sau khi trình báo bảo vệ đường hoa đã ôm chồng khóc vì mất nhiều tài liệu công việc, hình ảnh đang lưu trong máy.

Cũng tìm đến chốt bảo vệ đường hoa, anh Phùng Lê (ngụ quận 1) cho biết vừa bị nhóm người dàn cảnh lấy mất chiếc iPhone 7 Plus. Người đàn ông này kể đã đưa điện thoại cho con gái chụp ảnh ở đường hoa. Khi bé đang hào hứng chụp hình thì bị nhóm phụ nữ khoảng 3 người dùng quạt che chắn rồi lấy mất chiếc điện thoại, truyền tay nhau phi tang. Chúng nhanh chóng lẩn vào dòng người đông đúc, rời khỏi khu vực.

Bảo vệ đường hoa ghi nhận nhiều trường hợp khác đến trình báo bị móc túi, ví tiền, điện thoại…

Thủ đoạn của bọn trộm cắp có nhiều “chiêu” qua mặt khách và bảo vệ. Có những băng nhóm dùng trẻ em để móc túi ở đường hoa Tết.

Nạn cờ bạc cũng diễn ra ngay trên đường phố, cành sát ngó lơ như không thấy. Theo một con bạc, những ngày đầu năm mới cơ quan chức năng thường hay “ngó lơ” nên các sòng bạc mới dám công khai hoạt động rầm rộ như vậy.

Việc tồn tại những chiếu bạc lớn công khai giữa ban ngày như vậy không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự mà còn kéo theo hàng loạt tệ nạn xã hội khác. Sau khi thua sạch túi, con bạc sẽ sinh ra trộm cắp, cướp giật để có tiền chơi tiếp. Tệ nạn xã hội, giết chóc nhau, gây thù chuốc oán cũng từ đó mà ra. Một xã hội như thế thì làm sao không loạn. Loạn từ trên loạn xuống, loạn từ ngoài loạn vào, loạn từ trong loạn ra. Tưởng là dân Sài Gòn là sướng mà thật ra ngày nào cũng lo, giờ nào cũng sợ. Sợ từ ông Cảnh Sát đến thằng ăn trộm, ngồi trong nhà quên đóng cửa cũng có thế chết vì cướp, ra đường cũng có thể chết vì tai nạn giao thông. Dân Sài Gòn đang toát mồ hôi giữa những ngày Tết đấy các bạn ơi.

Các quan làm gì?
Các quan và các đại gia còn mải bù khú với các em chân dài và chơi sang như “vua chúa” kiểu như chân dài Ngọc Trinh cùng tỉ phú Hoàng Kiều. Tỉ phú bỏ tiền “mua” chân dài làm vợ hờ, được vài tháng rồi “say good - bye”. Chàng được ốm ấp tấm thân “ngọc ngà”; nàng khoe kim cương long lánh đầy người và hàng trăm triệu đô la. Coi như huề cả làng hai ta cùng vui.

Mấy cậu ca sĩ cũng khoe của như Đàm Vĩnh Hưng 'khoe' biệt thự triệu đô ngập hoa quả đón Tết. Căn biệt thự "khủng" được nam ca sĩ tự tay trang hoàng bằng hàng chục các loại trái cây và hoa để đón Tết Đinh Dậu 2017.

Ca sĩ này vừa đăng tải hàng loạt hình ảnh căn biệt thự tràn ngập hoa trái lên trang cá nhân cùng lời chia sẻ: "Nhà 'đại ca' đã xong, còn nhà các bạn thì sao nào?".

Đúng là trò khoe của anh ca sĩ mới nổi lên thành “ranh ca”, khoe hàng một cách rất trơ trẽn, tưởng mình là cha thiên hạ nên xưng là “đại ca”! Trò rẻ tiền nay còn có mục đích là “đánh bóng” tên tuổi mình sáng chói như đèn pha ô tô. Ô hô! Thiên hạ biết hết rồi “ranh ca” ơi.

Chi tiền triệu chơi cá cảnh chơi gà tết
Quay lại chuyện đại gia, các quan chán kiều nữ quay ra chơi cá cảnh, chơi gà. Nhiều ông đã  tìm mua những con cá có giá từ 500.000 đến vài triệu đồng, thậm chí cả hàng chục triệu đồng như cá huyết long.

Cá cảnh chơi tết giá khủng nhất vẫn là huyết long hay còn gọi cá rồng, hoặc cá đại gia theo cách gọi vui nhiều người bởi giá mỗi con trên thị trường bán ở mức 10-20 triệu đồng. Với vảy óng ánh, có vây ửng đỏ và râu dài khi trưởng thành có rồng được bán hiện nay thường nhập từ Thái Lan, Indonesia.

Các quan còn chơi gà, gà chọi, gà đẹp cả trăm triệu đồng một con. Năm nay là năm Gà nên cái “mốt chơi gà” thành thú chơi thời thượng. Đại gia nào có gà đẹp, gày gáy sang là “sang nhất”. Còn một thú chơi gà nhỏ nhất thế giới mới lạ.

Thú chơi giống gà nhỏ nhất thế giới ở Sài Gòn
Giống gà Serama trưởng thành chỉ nặng khoảng 300gr, là loài gà nhỏ nhất thế giới chỉ bằng củ khoai lang đang được nhiều người Sài Gòn nuôi làm kiểng. Những chú gà này vẫn được giới nuôi sinh vật cảnh được nhiều đại gia yêu thích vì hình dáng đẹp và hình dáng thon gọn, đứng vừa vặn trong bàn tay người. "Giá loài này dao động từ 2- 4 triệu đồng một con trưởng thành. Tuy nhiên con đẹp có thể lên đến 20 triệu đồng. Giống gà này có nguồn gốc từ Malaysia. Hiện tại, đây là giống gà nhỏ nhất thế giới, mỗi con trưởng thành có trọng lượng chỉ khoảng 300 gram.
Vợ chồng cùng thu gom rác đến đêm 30 Tết chưa về nhà.
Ở Việt Nam, gà Serama được nhiều tay chơi sinh vật cảnh săn lùng bởi dáng đứng thẳng, đậm chất vương giả và màu lông đẹp, khác biệt so với các loại gà cảnh khác trên thị trường "Những con gà trống rất 'sung', chỉ nhìn thấy nhau là lao vào chọi. Loài này đẹp, đắt tiền nên người chơi chỉ làm kiểng chứ ít chọi”.

Hai vợ chồng người phu hốt rác ở khu phố tôi
Tôi không thể kể hết những chuyện khác biệt giữa Sài Gòn trong 3 ngày Tết năm nay. Các quan và đại gia cùng giới showbiz ở Sài Gòn hí hửng vui chơi, có ông bà nào nghĩ đến dân nghèo đâu. Dân vẫn đói từng bữa cơm.

Chiều tối 30 Tết, tôi đứng trên hành lang chung cư nhìn xuống phố, thấy cặp vợ chồng người gom rác vẫn vất vả vừa quét rác đưa vào thùng xe, vừa lau mồ hôi. Bộ đồ công nhân hốt rác cũng bụi lấm lem, hai vợ chồng anh phu hốt rác ở khu tôi vẫn chăm chỉ cúi xuống ngẩng lên liên tục cho đến tối mịt vẫn chưa về nhà. Chắc giờ này mấy đứa con đang mong mẹ về, chúng cũng đói meo. Biết đến giờ nào cha mẹ mới về!

Tôi biết nói gì đây khi Sài Gòn của tôi với cái khoảng cách giàu nghèo còn cách nhau quá xa. Các ông nhà nước cứ nói “xóa đói giảm nghèo” toàn là nói suông thôi. Dân Sài Gòn của tôi ngày càng khổ. Năm nay tôi tám mươi tư tuổi, hết nước mắt rồi mà vẫn muốn khóc cho Sài Gòn của tôi!

Văn Quang
(Sài Gòn 02/02/2017)

Khai Dân TríVăn Quang

2016/08/13

TRẢ LẠI CHO DÂN

TRẢ LẠI CHO DÂN

HỒ TẤN VINH

Bài hát này xuất hiện cách đây ba năm rồi. Nó đã từ từ thâm nhập vào lòng dân.

Tác giả là một cựu Tù Nhân Lương Tâm. Những đau khổ đã trải qua và ước vọng cho dân tộc kết tinh thành dòng nhạc và lời.

Khác hẳn với một kiến nghị năn nỉ, thỉnh nguyện thư xin xỏ, tiếng hát cất lên là một biểu hiện của quyết tâm, xác định một lập trường. Đây là cái thức tỉnh của người dân vùng lên đứng dậy. Khoác dưới hình thức văn nghệ, đây chính là một đòi hỏi huyệch tẹt thẳng vào mặt bạo quyền.

Bài hát kết nối mọi người dân vào hành động.

Nếu người dân từ Bắc Trung Nam, trong mọi trường hợp, bất cứ nơi nào, nơi tôn kính thờ phượng hay nơi hắc ám  khám đường, đứng chung một tập thể hay chỉ lẻ loi, cô độc một mình hát vang bài này thì cái uy lực của tiếng hát có thể chuyển hóa tình thế.

Không ai có thể ngăn cấm tiếng hát này. Tiếng hát này sẽ mỗi ngày mỗi quyết liệt hơn, nóng bổng hơn trong dân chúng và nó chính là bước tiến của nhân quyền và tự do. Cái uy lực của tiếng hát thay đổi được chế độ.

Mỗi người dân chỉ cần đóng góp một tiếng hát thôi. Có được không?

Đây là phương cách trí tuệ nhứt để tự cứu mình và cứu nước.

ĐỨNG TRƯỚC NGUY CƠ MẤT CÒN.

HÀNH TRÌNH DỰNG NƯỚC.

Bài viết hôm nay đánh dấu tiến độ cực kỳ khả quan của bài hát và nhiệt tình chung của quần chúng.


HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 14 tháng 8 năm 2016


TRẢ LẠI CHO DÂN

Trả lại đây cho nhân dân tôi
Quyền tự do, quyền con người
Quyền được nhìn, được nghe, được nói
Quyền được chọn chân lý tự do
Quyền xóa bỏ độc tài độc tôn.

Trả lại đây cho anh quân nhân
Quyền được sống đời trai hùng
Quyền tự hào, tự tôn nòi giống
Là bảo vệ non nước Việt Nam
Là bảo vệ dân lành Việt Nam.

Trả lại đây quyền phúc quyết của toàn dân
Dân biết điều gì dân cần
Để tự do mưu cầu hạnh phúc.

Trả lại đây quyền chính đáng của người dân
Dân biết chọn gì cho mình
Cho thái bình non nước Việt Nam.





Nhóm Thanh Niên Dân Chủ Bắc Trung Nam


Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

2016/07/16

THẰNG DÂN

THẰNG DÂN

Trong chuyện phiếm này, tôi gọi "thời chú Sam" để chỉ miền Nam trước tháng 4 năm 1975 và "thời bác Hồ" để chỉ miền Nam dài dài sau đó. Cho thấy miền Nam trước có chú, rồi sau có bác thay thế nhau chăm sóc tận tình. Thật là... đại phước !

Ở xứ nào không biết, chớ ở Việt Nam xưa nay người dân vẫn được coi như không có... kí lô nào hết, mặc dù họ đông như kiến !

Hồi thời Pháp thuộc ( Phải lấy thời này để làm cái mốc cho thời chú Sam và thời bác Hồ. Bởi vì không có Pháp thuộc thì làm gì có bác Hồ, làm gì có chú Sam ? ), có "ông Tây bà Đầm" ăn trên ngồi trốc. Người dân sanh ra vốn… thấp cổ bé miệng, không ngóc đầu lên được. Văn chương hồi đó hay viết "dân ngu khu đen" nghe thật miệt thị nhưng lại diễn tả rất rõ nét vị-trí... sát đất của người dân ( chỉ có ngồi lê dưới đất nên khu mới đen như vậy !) và xác nhận với chính sách ngu dân thời ấy, người dân ngu là cái chắc.

Câu "dân ngu khu đen" cũng từ từ biến thể cho hợp thời trang ngôn ngữ, và trở thành "dân đen" cộc lốc. Không… sáng sủa hơn bao nhiêu, nhưng bớt được tiếng "ngu" cũng đã là một… tiến bộ. Không phải nhờ vậy mà người dân khôn ra, lẽ dĩ nhiên. Nhưng hai tiếng "dân đen" nói lên rõ rệt sự khác biệt giữa dân bản xứ da vàng và nhà cầm quyền hồi đó, toàn là dân da trắng !

Người dân hồi đó được thực dân gọi một cách miệt thị : cu-li, nhà quê. Dù anh có ăn học, dù anh có nghề nghiệp, người da trắng vẫn coi anh là cu-li là nhà quê tuốt.

Nhớ lại một hôm, anh tôi và tôi đạp xe đi dạo bến tàu Sạc-ne ( sau này gọi là bến Chương Dương và sau này nữa tên là… Tôn Đức Thắng ! ). Thấy hai tên lính lê-dương (légionnaire) Pháp, to như cái tủ đứng, ngồi chồng lên nhau trên một chiếc xích-lô đạp, làm chổng bánh sau lên. Anh phu xích-lô, ốm tong ốm teo, không biết làm sao để giải thích rằng ảnh không thể nào chở được hai người, vì ảnh nhẹ quá. Ảnh bèn cầu cứu chúng tôi. Có lẽ ảnh thấy chúng tôi có vẻ học sinh sinh viên chắc biết ít nhiều tiếng Pháp nên nhờ thông-ngôn. Anh tôi " ra tay nghĩa hiệp " can thiệp. Một tên lê-dương túm ngực anh tôi, sừng sộ bằng tiếng Pháp : " Đi chỗ khác ! Đồ cu li khốn nạn !". Dĩ nhiên chúng tôi không đợi nói thêm một tiếng, vội vã phóng lên xe, đạp đi. Một đỗi xa nhìn lại thấy một thằng lê-dương đạp xích-lô chở một thằng lê-dương, chạy vù vù, cười hắc hắc ! Còn anh phu xích-lô thì hổn hển chạy bộ phía sau, chẳng nói chẳng rằng… Những hình ảnh đó bây giờ nhớ lại, đã hơn bảy chục năm qua mà sao lòng vẫn còn nghe căm phẫn !

Sau hiệp định Genève, Pháp… phú-lơ-căng ( Âm tiếng Pháp " Foutre le camp " = dông mất – rất thông dụng thời đó ) Việt Nam bị chia làm đôi, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Người dân miền Bắc sống với cái-gọi-là tự do của miền Bắc. Người dân miền Nam cũng có cái tự do riêng của miền Nam. Cũng là " tự do " cả nhưng trong hình thức có rất nhiều dị-biệt. Bắc Nam bỗng trở thành hai xứ như là lạ hoắc ! Tuy nhiên, dù đất nước bị chia hai, cái " khối " người dân không có gì thay đổi, nghĩa là vẫn còn nguyên là những con cờ…

Rồi miền Nam có ông vua Bảo Đại – chuyên sống ở Pháp – vì thương dân nên gởi ông Diệm về Việt Nam tham chánh. ( Ông vua này thì người dân biết từ lâu. Ít ra cũng biết… tên ! ). Rồi có ông Diệm, vì thương dân nên… lật ông Bảo Đại rồi lên làm tổng thống. ( Ông này thì người dân chỉ mới biết khi ổng trèo lên ghế tổng thống. Cứ nghe ra rả hằng ngày " Toàn dân nhớ ơn Ngô tổng thống ", không biết rồi cũng phải biết ! ) Rồi có chú Sam, vì thương dân Việt Nam, ra tay giúp đỡ ông Diệm hết mình. Người dân bắt đầu biết đến chú Sam với lá cờ nhiều sao và hình vẽ hai bàn tay nắm lấy nhau được dán lên nhiều món hàng ngoại quốc nhập cảng. Nhìn cái nhãn, người ta hiểu đơn giản là bàn tay chú Sam nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ. Chẳng nghe ai thắc mắc : " Chú Sam muốn nói chú giúp mình hay chú muốn nói tao bắt mày phải đi theo tao ? " Người dân miền Nam vốn… thiệt thà !

Bây giờ, người dân hết là dân đen. Không phải được… đổi màu như người dân miền Bắc, mà là được tẩy sạch trong từ ngữ miền Nam. Tuy nhiên tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp, tùy tâm trạng mà người ta cũng có gọi người dân bằng " thằng dân ", nghe hơi nặng một chút. Nhưng riết rồi " người dân " hay " thằng dân " đều nghe cũng… xêm xêm ( Âm tiếng Mỹ " Same same " = như nhau ). Bởi vì, nặng nhẹ gì thì người dân cũng đã quen được coi như không có kí lô nào hết xưa nay !

Lâu lâu người dân cũng nghe các chánh trị gia gọi mình là " khối quảng đại quần chúng " nghe thật… rổn-rảng khó hiểu nhưng lại khoái lỗ tai, hoặc gọi là " toàn thể nhân dân " rất nho-nhã nhẹ nhàn, và lắm khi gọi " đồng bào thân mến " nghe thật là… âu yếm !

Thật tình, người dân vào thời này bắt đầu thấy rằng mình coi vậy mà cũng " có giá ". Hết còn nghe gọi người " dân " cộc lốc, mà lại được ghép vào với tiếng " công " oai vệ để trở thành " công dân ". Không có gì, nhưng mang thêm chữ " công " vẫn thấy quan trọng như " công chức ", " công sở ", " công khố ", " công an " …những thứ " công " làm toát ra sự " chẳng có thằng nào dám đụng tới ". Sướng chớ ! Mà thật vậy, có ai dám gọi " thằng công dân " đâu ? Thường thì gọi " người công dân " hay ít lắm cũng gọi "anh công dân ". ( Chưa nghe ai gọi " ông công dân". Có lẽ tại vì gọi như vậy, người ta sẽ nghĩ là có " ẩn ý nhạo báng " ! )

Từ ngày mang " chức " công dân, người dân được nhà nước chiếu cố…" đậm ". Ngày nào cũng kêu gọi " Này công dân ơi ! Quốc gia đến ngày giải phóng…". Rồi gần đến ngày bầu cử tổng thống, dân biểu v.v… luôn luôn được nhắc nhở " đi làm bổn phận công dân ".

Người xưa nói " ý dân là ý trời ". Người nay cầm quyền, đã không cần đến ý dân thì đâu có ông nào nói với chú Sam : " Thưa chú, ông bà tôi nói như vầy…như vầy…". Cho dù có ai nói cho chú Sam thì cũng chỉ làm cho chú cười văng… sơ-quynh-gum, bởi vì chú đâu có tin. Chú đã từng bay lên trời, bay lên cung trăng, bay lên bay xuống như ăn hamburger hằng bữa… chú đã gặp ông trời đâu mà tin ! Vã lại xưa nay chú Sam chỉ thấy ý của chú là " năm bờ oan " thì chú đâu cần hỏi ý kiến của ai khác. Vì vậy, chú cứ… nhắm mắt đưa quân vào miền Nam như đi… vào chỗ không người. Chẳng có một người dân nào đứng lên phản đối. " Họ " – người dân – nói : " Mấy ổng ( ám chỉ nhà cầm quyền ) đã ô-kê Salem với chú Sam rồi, mình có la nô-gút nô-gút ( no good ! no good ! ) chỉ có… chó nó nghe !"
Nhân nói đến vụ bầu cử, phải thấy lúc đó người dân được… trọng vọng đến mức nào. Các ứng cử viên hay các liên danh ứng cử, trong thời gian vận động bầu cử, đều hết  lời " o bế " người dân. Hằng ngày, trên truyền thanh truyền hình, trên báo chí bích chương… họ cúi xuống nâng người dân lên như nâng trứng mỏng, nói ngon nói ngọt để người dân bầu cho họ. Còn khuyên " nên chọn mặt gởi vàng ", làm cho người dân thấy tự nhiên mình… giàu ngang xương ! Cái lá phiếu trong tay người dân - bằng giấy – coi vậy… mà nặng kí !

Sau bầu cử, người dân được trả về cương vị bình thường của người dân, cộng thêm những người bị thất cử. Những người này, không cần hỏi ý kiến ai, cứ " đánh trống thổi kèn" tuyên bố rân lên rằng "Chúng tôi đứng về phe người dân để đối lập với chánh quyền!" Làm như hễ là dân là phải đối lập với chánh quyền vậy ! Cũng chẳng thấy có người dân nào đứng lên phản đối. Đã nói: người dân miền Nam vốn… thiệt thà !

Bỗng một hôm, " người ta " đảo chánh ông Diệm. Người dân ngơ ngác bởi vì, trái với những lần bầu bán, lần này người dân không được ai " hỏi thăm " hết, thậm chí chẳng nghe ai tuyên bố theo… truyền thống rằng " đảo chánh vì dân " ! Thì ra," người ta " toàn là tướng tá, binh chủng này binh chủng nọ. Họ không phải…dân !

" Họ " đảo rồi, lại đảo nữa. Cuối cùng cũng lật được ông Diệm. Lần này, người dân thấy có vẻ an toàn nên cũng xuống đường hoan hô. Thật ra, trong thời đệ nhứt cộng hoà, người dân đâu có bị chèn ép đè đầu cỡi cổ bốc lột tơi bời như thời Pháp thuộc. Người dân chỉ " ngứa con mắt " ở cái lối trịch thượng ăn trên ngồi trốc quá lố lăng của gia đình ông Diệm, cộng thêm hành động kỳ thị tôn giáo quá lộ liễu. Vì vậy, khi ông Diệm và gia đình bị lật xuống, người dân thấy như được… nhổ cái gai trong con mắt, cho nên họ cũng vỗ tay hoan hỉ !

Tiếp theo là mấy ông tướng, ông tá đảo chánh nhau, đảo qua đảo lại. Người dân vẫn bị cho ra rìa, nên đứng ở bên ngoài xem như xem tuồng hài hước trên sân khấu. Vở tuồng đang diễn bỗng bị chú Sam núp ở đâu đó giựt giây hạ màn ! Người dân ngẫn ngơ, rồi cũng… xách đít " đi chỗ khác chơi " để " người ta " làm chánh trị.

Thật ra, vào thời điểm đó, miền Nam còn được cái may là có một người trong giới lãnh đạo " biết " nghĩ đến dân : đó là ông tướng tầu bay Nguyễn Cao Kỳ. Khi nắm chánh quyền, ông tuyên bố và cho kẻ khẩu hiệu đầy đường : " Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ là chính phủ của dân nghèo ". Thật là ngạc nhiên đến… ngỡ ngàng ! Người dân nào đã lỡ giàu bỗng thấy mình thuộc vào loại... vô chánh phủ nên cứ phập phồng lo sợ, còn người dân nghèo thì lại bâng khuâng không dám hoan hô vì không biết mình có thuộc vào cái…" típ " nghèo mà ông tướng đã tuyên bố ? Bởi vì có hạng nghèo xơ nghèo xác, có hạng nghèo rớt mồng tơi, có hạng nghèo mạc rệp, có hạng nghèo kiết .v.v… Thành ra, lời tuyên bố rất " nổ " của ông tướng giống như cục đá nhỏ rơi xuống mặc nước hồ, nghe cái chũm rồi… hết ! Tuy nhiên, lần đầu tiên người dân thấy mình được đứng chung với chánh quyền – dù chỉ là trên khẩu hiệu – cũng thấy có chút gì an ủi !

Rồi chú Sam ồ ạt đổ quân và đồ " PX " lên miền Nam mà chẳng thấy có " trưng cầu dân ý ".

Người xưa nói " ý dân là ý trời ". Người nay cầm quyền, đã không cần đến ý dân thì đâu có ông nào nói với chú Sam : " Thưa chú, ông bà tôi nói như vầy…như vầy…". Cho dù có ai nói cho chú Sam thì cũng chỉ làm cho chú cười văng… sơ-quynh-gum, bởi vì chú đâu có tin. Chú đã từng bay lên trời, bay lên cung trăng, bay lên bay xuống như ăn hamburger hằng bữa… chú đã gặp ông trời đâu mà tin ! Vã lại xưa nay chú Sam chỉ thấy ý của chú là " năm bờ oan " thì chú đâu cần hỏi ý kiến của ai khác. Vì vậy, chú cứ… nhắm mắt đưa quân vào miền Nam như đi… vào chỗ không người. Chẳng có một người dân nào đứng lên phản đối. " Họ " – người dân – nói : " Mấy ổng ( ám chỉ nhà cầm quyền ) đã ô-kê Salem với chú Sam rồi, mình có la nô-gút nô-gút ( no good ! no good ! ) chỉ có… chó nó nghe !"

Trong " thời chú Sam ", mặc dù đang đánh giặc với Bắc Việt, người dân vẫn đi lại thông thả, miễn là đừng... lội sông Bến Hải để ra ngoài Bắc. Năm khi mười hoạ mới bị hỏi căn cước. Trong trường hợp vào ra ở các " lãnh địa " của chú Sam thì lúc nào người dân cũng bị chú lính của chú Sam hỏi giấy bằng tiếng Việt bỏ sai dấu :" Cán cuốc!Cán cuốc !". Chẳng thấy người dân nào …cười !

Ngoài ra thì đời sống của người dân rất tự do thoải mái. Tự do buôn bán. Đồ PX ( dân gọi là pi-éc – là các mặt hàng nhập vào Việt Nam bán riêng cho quân đội chú Sam, không có thuế nên giá rẻ – lính chú Sam mua ra bán lại cho dân ) tràn ngập các chợ trời. Còn hàng hoá sản xuất trong xứ cũng bán đầy các chợ các phố. Tự do ngôn luận, in sách, ra báo. Thật tình, ở đây có… lạm phát : báo đủ loại – báo ngày, báo tuần, báo tháng… khoảng chừng trên 30 tờ ! Người dân đọc… mờ con mắt luôn !

Ngày 30 tháng tư năm 1975, cổng vào dinh Độc Lập đã được mở rộng để " đón tiếp các anh em Giải Phóng ", sau lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương văn Minh. Thay vì cứ đường hoàng oai vệ tiến thẳng vào dinh – vì là người thắng trận – mấy ông Bắc Việt đã dàng cảnh bằng cách đóng cổng lại để cho một xe tăng mang cờ Giải Phóng ủi sập rồi ngất ngưỡng… bò vào bên trong như một thằng say. Báo chí, truyền hình chụp ảnh quay phim liền tù tì, cho thế giới thấy rằng " chính quân đội và nhân dân ta đã tiến công ủi sập chính quyền miền Nam ". Trong màn diễn xuất đó, họ quên mất người dân nên chỉ thấy có lèo tèo mấy anh Giải Phóng ! Trong lúc đó, dân chúng – khá đông – đứng xa xa nhìn một cách bàng quan, không hiểu "tại sao không chạy thẳng cha nó vô cho rồi, chớ đóng cổng làm chi để rồi phải ủi sập mới vô được, thiệt… làm chuyện ruồi bu !"
Cuộc sống tương đối dễ chịu, dễ…thở. Đùng một cái,Việt Cộng tổng tấn công ngay trong ngày tết Mậu Thân. Chúng tin tưởng rằng " toàn dân miền Nam sẽ nổi dậy lật đổ chánh quyền !". Té ra, người dân, vì sợ, nên chỉ lo bồng bế nhau chạy ! Lần đó, Việt Cộng thất bại nặng. Lần đó, người dân thật sự thấy tận mắt Việt Cộng là ai, để sau đó biến sợ hãi thành căm thù. Chỉ cần một ngòi nổ là nó bùng lên để " quạt " cho Việt Cộng một đòn " chí tử ". Vậy mà không thấy chú Sam… nhúc nhích một ngón tay ! Chú không đánh trả, đã đành. Chú còn ngăn không cho quân đội quốc gia đánh trả. Chú đi một nước cờ mà không ai hiểu gì hết ! Và lần đó người dân nhìn chú Sam bằng một con mắt khác. Họ nói : " Không biết cái thằng cha chú Sam này muốn cái gì ? Thiệt là ngược đời ! Kẻ thù thì mình biết rõ còn thằng bạn đồng minh nhai sơ-huynh-gum này thì mình…mù tịt !".

Từ chỗ nhận định nói trên, người dân bắt đầu nghi ngờ cái ý nghĩa của hai bàn tay nắm lấy nhau dưới lá cờ nhiều sao làm nền cho loại nhãn dán trên các đồ viện trợ. Ai cũng nghĩ rằng cái nhãn đó có…hai mặt. Giống như chú Sam, chú cứ phải nhai sơ-huynh-gum liền tù tì để không ai " bắt gân mặt " mà đoán chú đang nghĩ gì, bởi vì chú muốn giấu " cái mặt bên kia " của chú, không phải giấu với địch mà giấu với thằng bạn đồng minh ! Thế mới đau !

Rồi vì không còn tin tưởng nữa, người dân lo… thủ. Ai cũng dự trữ đồ ăn ! Có tiền thì trữ nhiều, không tiền thì chạy nợ để trữ chút chút. Cho nó " ăn chắc ", bởi vì thằng cha chú Sam này coi vậy mà không phải vậy !

Tình trạng nhập nhằng này kéo dài tới hiệp định gì gì đó ở Paris. Tiếp theo là lính chú Sam " gô hôm " từ từ, trước sự dửng dưng của người dân, bởi vì họ đã lật tẩy " cái mặt bên kia " của chú. Cái nhãn " hai bàn tay nắm lấy nhau " không bị mưa mà nó cũng tróc, giống như đồ thợ mã !

Rồi thì " cơm không lành canh không ngọt " giữa chú Sam và ông Thiệu ( tổng thống đệ nhị cộng hoà – xin nhắc lại cho những ai không… muốn nhớ ! ) Đùng một cái, ông Thiệu ra lịnh bỏ Pleiku/ Kontum rút hết quân về vùng Duyên Hải. Quân đội và dân chúng ngạc nhiên đến bàng hoàng, bởi vì đã bị Việt cộng tấn công đâu mà phải rút ? Còn phía Việt cộng thì… giật mình vội vã " nâng cao cảnh giác ", nín thở bất động , bởi vì không biết " thằng ngụy ác ôn này định dở trò gì đây ?". Người ta đồn ( Hồi này, tin đồn đi nhanh hơn hỏa tiễn và người dân miền Nam chỉ sống bằng… tin đồn ! ) rằng ông Thiệu giận lẫy thằng bạn đồng minh " xỏ lá " nên chơi một cú cho nó xanh mặt ! Không biết chú Sam có xanh mặt hay không chớ thằng dân thì xanh mặt dài dài… Bởi vì không biết không hiểu gì hết. Cứ thấy quân đội tự nhiên rút chạy là cắm đầu chạy ! Mà có hỏi quân đội thì – than ôi ! – quân đội cũng bù trất ! Vậy là kinh hoàng, là hỗn loạn ! Vậy là cứ… nhắm mắt chạy. Càng chạy càng sợ ! Càng sợ càng chạy ! Người dân giống như những con cờ bị người chơi cờ hất trọn bàn cờ xuống đất, văng tung toé khắp nơi, rơi vào hốc vào kẹt, rơi vào lỗ cống đường mương… Ai biết ? Ai thèm biết ? Nghĩ mà thương cho người dân miền Nam " sanh chẳng gặp thời "…

Từ miền Trung dài vô Sàigòn, chỗ nào cũng thấy chạy. Dân chạy trước. Phía sau dân là quân đội. Phía sau quân đội, xa thật xa, là Việt cộng. Họ đã mất thời gian " điều nghiên tình hình " để nhận thấy hiện tượng " ngụy quân " rút đi là có thật. Thế là " ta " xua quân chạy theo " toé phở " nhưng vẫn láo phét rằng " quân ta đuổi chúng nó chạy…toé khói " !

Tình trạng hỗn loạn này được tiếp nối bằng sự ồ ạt di tản ra… biển Đông. Cũng là chạy nhưng chạy ra khỏi xứ !

" Thời chú Sam " được hạ màn vào cuối tháng tư năm 1975. Màn không được hạ từ từ theo đúng " điệu nghệ sân khấu " với giàn kèn đồng thổi bản " ò e rô be đánh đu " ! Màn bị hạ… cái rẹt như bị đứt giây, bởi vì anh hạ màn… bỏ mẹ nó xuống cho rồi để còn vắt giò lên cổ chạy cho kịp nhảy lên chiếc trực thăng di tản cuối cùng !

Chú Sam " gô hom " để lại miền Nam vô số sơ-huynh-gum đã… nhai rồi và một lô con lai, có trắng có đen… gọi là kỷ niệm !

Đây nói về người dân vào " thời bác Hồ "…

" Thời bác Hồ " được… kéo màn khai diễn bằng một hình ảnh lẽ ra phải hào hùng, nhưng mấy anh Bắc Việt đã dàn cảnh vụng về cho nên đã trở thành ra lố bịch. Số là…

Ngày 30 tháng tư năm 1975, cổng vào dinh Độc Lập đã được mở rộng để " đón tiếp các anh em Giải Phóng ", sau lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương văn Minh. Thay vì cứ đường hoàng oai vệ tiến thẳng vào dinh – vì là người thắng trận – mấy ông Bắc Việt đã dàng cảnh bằng cách đóng cổng lại để cho một xe tăng mang cờ Giải Phóng ủi sập rồi ngất ngưỡng… bò vào bên trong như một thằng say. Báo chí, truyền hình chụp ảnh quay phim liền tù tì, cho thế giới thấy rằng " chính quân đội và nhân dân ta đã tiến công ủi sập chính quyền miền Nam ". Trong màn diễn xuất đó, họ quên mất người dân nên chỉ thấy có lèo tèo mấy anh Giải Phóng ! Trong lúc đó, dân chúng – khá đông – đứng xa xa nhìn một cách bàng quan, không hiểu "tại sao không chạy thẳng cha nó vô cho rồi, chớ đóng cổng làm chi để rồi phải ủi sập mới vô được, thiệt… làm chuyện ruồi bu !"

Tiếp theo là lá cờ Giải Phóng Miền Nam lớn bằng tấm chiếu phe phẩy trên nóc dinh giống như người chạy việt dã vừa về tới đích. Và tiếp theo là hai câu đối thoại đáng " đi vào lịch sử " : Khi được ông Dương Văn Minh – vị tổng thống… phù du nhứt lịch sử – nói : "Mời các ông ngồi vào bàn để chúng tôi bàn giao ", một ông… nón cối Bắc Việt " phang " cho một câu " Bàn giao cái gì ? Các anh thua trận, đầu hàng vô điều kiện mà còn cái gì để bàn giao ? ". Không biết những người miền Nam có mặt lúc đó – tổng thống, tổng bộ trưởng v.v…– có nghe " đau như hoạn " ?

Tiếp theo là đi học tập ba hôm về đường lối chủ trương của cách mạng. Thượng vàng hạ cám gì cũng phải học tập ráo. Cùng ngồi chung với nhau – thường thì ngồi dưới đất vì không có đủ băng đủ ghế, và vì không đủ chỗ nên ngồi cả ra hàng ba, ra sân – cùng nghe chung những gì mấy cán bộ nói. Và vì mấy cha cán bộ nói dài quá, lại thay nhau nói cùng một đề tài bằng những lời lẽ y chang như nhau nên người " nhân dân ", kẻ trước người sau, cùng chung nhau… ngáp ! Suy cho cùng, ngáp cũng là một cách… phát biểu. Nó nói lên sự mệt mỏi chán chường. Về sau, khi đã…" quen nước quen cái " với những buổi hội họp học tập, với cái gọi là " Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý "…cách " phát biểu " độc đáo đó đã được người dân " khai triển " rất thoải mái, không phải giơ tay xin phép ai hết và cũng không sợ bị quy tội " bôi bác không khí nghiêm túc của hội trường ". Để thấy " Trong chế độ ta, nhân dân vẫn làm chủ… cái ngáp của mình đấy chứ !".
Vậy là…giải phóng ! Người dân cũng có vỗ tay. Hết chạy loạn là… vui rồi. Hết giặc, con cái hết đi lính… là vui rồi. Một phóng viên miền Bắc phỏng vấn một bà già miền Nam : " Thế… bà má có vui không nào ? ". Trả lời : " Ờ… vui chớ ! Nhờ có mấy ông giải phóng về kịp nên mới yên ! Chớ không, tụi Việt Cộng nó pháo kích riết chắc chết quá !". Ở một nơi khác, phỏng vấn một anh xích lô, anh ta trả lời : " Vui chớ sao không vui ! Đạp xích lô lúc nào cũng bị tụi nó nghi là Việt Cộng". Rồi anh chỉ vào mặt mình : " Anh coi ! Mặt tui vầy mà là Việt cộng à ?"

Mà vui thật ! Ở Sàigòn đông lắm. Thiên hạ đi đầy đường. Xe hơi, xe gắn máy, xe đạp… nối đuôi nhau nhích nhích. Vậy mà chẳng thấy ai gây gổ với ai, cũng chẳng nghe ai nóng nảy tin một tiếng kèn ! Đó là lần đầu tiên người dân tự động " xuống đường ", không phải để đấu tranh mà là để đi coi… bộ đội ! Cũng giống như đi coi chợ phiên sở thú. Vui lắm !

Gánh hát mới khai diễn chưa kịp đánh trống thổi kèn quảng cáo mời mọc mà đã được khán giả bốn phương kéo tới xem thật đông như vậy thì thật là…" thành công, thành công, đại thành công !" Người dân cũng thấy khoái bởi vì toàn là đào kép mới – cái gì lạ cũng hấp dẫn – và bởi vì được đi coi…thả giàn.

Sau mấy lớp hài hước mỡ màn như chuyện mấy anh bộ đội nói dóc nói phét " Hà Nội cái gì cũng có ", chuyện " nhà ỉa nhà đái... trong xô ".v.v… sân khấu bỗng chuyển sang bi hài kịch mà trong đó người dân được kịch tác giả cách mạng đẩy lên đóng vai chánh ! Người dân ngạc nhiên dở khóc dở cười… Vai chánh đó có cái tên nghe lạ hoắc : " nhân dân làm chủ " !

Từ một tay ngang bước lên sân khấu, dĩ nhiên là cần được các đạo diễn chăm sóc dạy dỗ tận tình để người dân được… lột xác biến thành kịch sĩ.

Đầu tiên, người dân được mang một cái tên khác cho đúng với điệu nghệ kịch trường: tên " Nhân Dân " ( Xưa nay, trong giới cải lương kịch nghệ có… truyền thống là khi đã " đi hát " thì người ta thường lấy một cái tên khác đẹp hơn kêu hơn là cái tên cúng cơm. Vậy mới là nghệ sĩ ! ) Rồi " cái " nhân dân đó được dạy hô khẩu hiệu – đó là những bài bản… gốc của cách mạng mà ai ai cũng phải biết hát, cũng như trong giới cải lương kép độc hay hề gì cũng phải rành " sáu câu "…Đại khái, chỉ có mấy khẩu hiệu như " vĩ đại, vĩ đại, vĩ đại ", như " muôn năm, muôn năm, muôn năm ", như " sống mãi, sống mãi, sống mãi ". Vậy mà không phải dễ ! Phải hô cùng một lúc và hô cho đúng nhịp. Hô lỏn chỏn là " có vấn đề đấy nhá !". Tiếp theo là tập vỗ tay. " À… vỗ tay cũng phải tập chứ ! Có phải như thời Mỹ Ngụy đâu mà các anh các chị muốn vỗ thế nào là vỗ. Muốn làm chủ, nhân dân phải tập cả vỗ tay nữa cơ !" Thế là học vỗ tay : mọi người trong hội trường cùng vỗ một lúc, không cần khoái tỷ hay thích thú gì ráo, chỉ cần thấy anh cán bộ đang nói bỗng ngừng lại vỗ tay là ta vỗ tay thôi !

Tiếp theo là đi học tập ba hôm về đường lối chủ trương của cách mạng. Thượng vàng hạ cám gì cũng phải học tập ráo. Cùng ngồi chung với nhau – thường thì ngồi dưới đất vì không có đủ băng đủ ghế, và vì không đủ chỗ nên ngồi cả ra hàng ba, ra sân – cùng nghe chung những gì mấy cán bộ nói. Và vì mấy cha cán bộ nói dài quá, lại thay nhau nói cùng một đề tài bằng những lời lẽ y chang như nhau nên người " nhân dân ", kẻ trước người sau, cùng chung nhau… ngáp ! Suy cho cùng, ngáp cũng là một cách… phát biểu. Nó nói lên sự mệt mỏi chán chường. Về sau, khi đã…" quen nước quen cái " với những buổi hội họp học tập, với cái gọi là " Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý "…cách " phát biểu " độc đáo đó đã được người dân " khai triển " rất thoải mái, không phải giơ tay xin phép ai hết và cũng không sợ bị quy tội " bôi bác không khí nghiêm túc của hội trường ". Để thấy " Trong chế độ ta, nhân dân vẫn làm chủ… cái ngáp của mình đấy chứ !".

Tiếp theo ( trong " thời bác Hồ ", lúc nào cũng có một sự " tiếp theo " nghĩa là chẳng bao giờ thấy một sự ngưng nghỉ, cứ " học tập tiếp theo học tập ", cứ " đấu tranh tiếp theo đấu tranh ", cứ " khai báo tiếp theo khai báo "…) nhân dân học tập khai lý lịch, học tập báo công báo tội, học tập làm sổ hộ khẩu sổ gạo… Hết học tập ở tổ dân phố thì kéo nhau ra học tập ở phường – cũng như vậy thôi nhưng đông hơn nên… vui hơn – rồi học tập ở quận… Rồi đi mết-tinh, đi đón tiếp phái đoàn này, đi chào mừng phái đoàn nọ, đi làm lễ đón nhận lẵng hoa của bác Tôn ( ông già này thay thế bác Hồ, nhân dân đoán như vậy ) Ôi thôi ! Rộn rịp, vui lắm !

Khác hẳn với " thời chú Sam ", người nhân dân bây giờ đi đến đâu cũng thấy cái sự làm chủ của mình nó… lòi ra cả đống. Bằng cớ là cái gì cũng thuộc về nhân dân ráo, cái gì cũng thấy dán nhãn " nhân dân " mà chẳng cần phải " cầu chứng tại toà ". Sướng như vậy ! Này nhá : Ủy Ban Nhân Dân này, Toà Án Nhân Dân này, Quân Đội Nhân Dân này, Công An Nhân Dân này… đến tờ báo to nhất nước – của Đảng – cũng phải mang tên " Nhân Dân " đấy ! Làm chủ , sướng nhá !

Thế nhưng, có hai cơ quan mà nhân dân không được làm chủ : đó là tổng cục kế hoạch và ngân hàng. Chỉ có hai cơ quan này là đặc biệt mang nhãn " Nhà Nước " nên được gọi là " Tổng cục kế hoạch Nhà Nước " và " Ngân Hàng Nhà Nước ". Nhà Nước nắm cái tổng cục để độc quyền lên kế hoạch… hốt bạc đổ vào ngân hàng của Nhà Nước, vậy là an toàn nhứt rồi ! Người ta nói : " Đồng tiền là huyết mạch, Nhà Nước nắm cái huyết mạch đó là nhân dân... nhăn răng ! " Nói như vậy là có ý bôi bác chế độ. " Hãy nhớ rằng, trong chế độ ta có sự phân công rõ rệt : Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ. Muốn quản lý, Nhà Nước phải nắm cái… hầu bao chứ. Không có cái đó thì quản lý cái đếch gì được. Rõ như thế đấy !". Lý luận chắc nịch như đinh đóng cột, nhân dân chỉ còn nước đi chỗ khác chơi.

Dù sao đi nữa, được lên đóng vai chủ trong vở trường kịch của " thời bác Hồ " vẫn thấy khoái hơn ở " thời chú Sam ". Thời đó, người dân chỉ là người dân quèn với bộ mặt thật của nó, chưa từng biết thế nào là " vẽ lọ bôi hề ". Còn bây giờ, trên sân khấu cách mạng, người dân được tô son trét phấn để có bộ mặt khác – một bộ mặt không giống ai – vui chớ !

Qua " thời bác Hồ ", cái gì cũng thay đổi hết. Đặc biệt là người dân. Ngoài chuyện " nhân dân làm chủ ", người dân bây giờ nhìn lại mình cũng thấy không còn là mình nữa ! Cả cái thân hình trước đây, chỉ còn lại có… cái miệng. Mỗi một người dân được xem như là một " nhân khẩu " – một cái " miệng người " – Tờ khai gia đình thời trước bây giờ được thay bằng " sổ hộ khẩu " trong đó kê khai có bao nhiêu…cái miệng ! Nghĩ cho cùng, Nhà Nước cách mạng có lý, bởi vì trong công tác " quản lý ", chuyện đầu tiên phải lo là " nuôi ăn ". Vậy, phải biết rõ " ta " có bao nhiêu cái miệng. Thế… Ngoài ra, nếu thấy cái miệng nào đã có ăn mà còn đòi cả quyền " nói " thì " ta " chận ngay không cho nó ăn. Có nói, đến chừng đói rã ruột ra thì cũng phải câm lại thôi. Đỉnh cao trí tuệ là ở chỗ này đấy !

Sau khi đã học tập tốt, nghĩa là người nhân dân đã rành bài bản để đóng vai " nhân dân làm chủ ", người nhân dân phải biết " đi thưa về trình ". Nói cho văn vẻ chớ thật ra là đi đâu phải xin giấy di chuyển của chánh quyền nơi cư ngụ và về phải trình lại giấy di chuyển có đóng dấu nơi mình đã đến. Nhân dân làm chủ khi dọn nhà qua ở chỗ khác phải làm thủ tục giấy tờ dời địa chỉ – gọi là chuyển hộ – có sự chấp thuận của chánh quyền hai nơi – nơi ở củ và nơi ở mới – Nhân dân làm chủ phải đi lao động xã hội chủ nghĩa ( Thời trước gọi là " đi làm…chùa " ). Nhân dân làm chủ " phải " triệt để thực thi quyền làm chủ của mình nghĩa là " phải " làm thế này, " phải " làm thế nọ… toàn là những thứ " phải " mà ở " thời chú Sam " tìm đỏ con mắt không có, ví dụ như phải đổi tiền, phải bị đánh tư sản, phải đi kinh tế mới, phải đi tập trung cải tạo... Chánh quyền mới gọi là " một cuộc đổi đời". Họ nói đúng ! Có điều là cuộc đổi đời đó xoay đến 180 độ, làm cho người dân thấy… ngất ngư !

Sau khi miền Nam được giải phóng, mấy cha Giải Phóng Miền Nam còn đang " cờ phất trống khua " trên sân khấu cách mạng bỗng bị… cúp điện hạ màn, đuổi vào hậu trường lảnh " lương cà phê " ( Tiếng nhà nghề nói gánh hát không trình diễn, nghệ sĩ chỉ lảnh chút tiền để uống cà phê thôi ) Họ bị giải tán một cách êm ru và dễ ợt như người ta liệng một miếng giẻ rách vào đống rác, trước sự ngạc nhiên của người nhân dân làm chủ. Bởi vì chuyện " đại sự quốc gia " như vậy mà chẳng thấy " lũ đầy tớ " nó hỏi qua ý kiến một lần ! Rồi đến vụ thống nhất đất nước,  những " công bộc của nhân dân "cũng cứ quyết định một mình ên !

Thật ra, lấy công tâm mà nói, nếu có được hỏi thì cái " nhân dân làm chủ " cũng chỉ gật đầu nhất trí. Cứ xem nhân dân miền Bắc, tính đến năm 1975, họ " làm chủ " đã hai mươi năm, có thấy họ không nhất trí bao giờ ? Người dân chắc nghĩ rằng mình làm chủ nhưng còn thằng khác nó làm chủ cái bao tử và sinh mạng của mình nữa, vậy, cứ luôn mồm nhất trí là…chắc ăn nhứt ! ( Một nhà văn lớn thời tiền chiến vào Nam thăm bạn bè sau 1975 đã nói nhỏ :" Tôi còn sống đây là nhờ tôi biết sợ ". Một câu để đời ! ) Cái ưu việt của chế độ là ở chỗ này đấy !

Tiếp theo là người dân học tập – lại học tập ! – đi bầu. Hồi thời trước, người dân cầm lá phiếu thấy mình… oai ghê lắm. Họ tự do chọn lựa ứng cử viên, họ nhìn ảnh của từng người và còn phê bình " líp ba ga " : ông này dễ thương, giống kép Hùng Cường , ông này…cha ! coi bậm trợn quá, à ! còn bà này giống Túy Hoa ghê, coi đặng à v.v… Bây giờ thì khác : Đảng chọn, dân bầu. Sợ nhân dân mất thời giờ và mất công nên Đảng chọn dùm cho dân. Nhân dân chỉ còn có… nhắm mắt bầu. Sướng gần chết còn muốn gì nữa ? Có điều là bầu bán bây giờ không còn rầm rộ trống kèn như thời trước nên chẳng thấy có gì hấp dẫn hết.

Sau giải phóng, người dân miền Bắc đua nhau vào Nam để " cứu trợ đồng bào ruột thịt miền Nam sống trong sự kềm kẹp của bè lũ ác ôn Mỹ Ngụy, đói khổ thiếu thốn vô cùng ". Còn người dân miền Nam, ít lâu sau, cũng lục tục kéo nhau ra miền Bắc, không phải để " tham quan " mà để… thăm nuôi thân nhân bị đưa đi tập trung cải tạo ngoài đó. Kẻ vô người ra như vậy thật là một sự… giao lưu đáng đồng tiền bát gạo, bởi vì nó " mở mắt " người dân của cả hai miền. Để thấy rằng dù " ở " với bác Hồ hay " ở " với chú Sam, người dân vẫn là những con cờ, không hơn không kém !

Bây giờ, hơn bốn chục năm sau giải phóng, cuộc sống miền Nam cũng đã ổn định, nghĩa là người dân vẫn… sống nhăn, không phải nhờ khẩu hiệu " dân giàu nước mạnh…" mà nhờ biết xoay sở để sinh tồn. Cũng có hàng hoá đầy chợ. Cũng có quán xá đầy đường. Cũng có vài tờ báo của đảng / đoàn / cơ quan để đọc – vài tờ cũng đủ… chán, đâu cần phải ba mươi tờ như " thời chú Sam " – Cũng có tiểu thuyết lai rai của Hội Nhà Văn – cái hội mà chế độ đẻ ra để " gò " các nhà văn đi cho ngay cho đúng " đường lối chủ trương " – Cũng có nhạc vàng lả lướt đã thông qua sự kiểm tra của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn, một loại "cục " lúc nào cũng thấy… nằm chình ình trên các DVD và băng nhạc dưới dạng con tem, trên đó có ghi rõ tên chương trình, hãng sản xuất, số giấy phép, mã số và hàng chữ đỏ "Nghiêm cấm in sao dưới mọi hình thức ".

Đảng vẫn lãnh đạo, Nhà Nước vẫn quản lý và Nhân Dân vẫn… làm chủ, lẽ dĩ nhiên !

Tính ra," thời chú Sam " chỉ dài có hai mươi năm. Cái " số " như vậy thầy bói gọi là… yểu tử ! Trong lúc " thời bác Hồ " vẫn còn tiếp diễn dài dài, hơn bốn mươi năm mà chưa thấy hạ màn ! Đó là cái " lô-gích " của thời đại bởi vì bác Hồ lúc nào mà chẳng " sống mãi! sống mãi ! sống mãi ! " ?

Chỉ tội cho người dân, với bộ mặt " không giống ai " vì bị tô son trét phấn, có nhăn nhó vì đau quặn ruột người ta cũng vẫn thấy như đang…cười ! Và người ta kết luận : " Tốt đấy chứ !". Ở đây, phải hiểu " người ta " là Đảng và Nhà Nước.

Tiểu Tử

Khai Dân TríTiểu Tử

2016/06/18

HY VỌNG VƯƠN LÊN TỪ TUYỆT VỌNG: 70 NĂM SẬP BẪY (02)

HY VỌNG VƯƠN LÊN TỪ TUYỆT VỌNG
Bài số 2

70 NĂM SẬP BẪY

HỒ TẤN VINH

A. NGƯỜI CHỦ MƯU
Hồ Chí Minh là người đem tai họa đến cho nước Việt Nam. Mấy ngày nay, gốc gác của HCM tràn ngập trên các trang thông tin.  Chính báo chí Trung Cộng với đầy đủ chi tiết và hình ảnh công khai cho biết thiếu tá HỒ TẬP CHƯƠNG đã đóng vai giả làm ‘cha già của dân tộc’ VN. Tin này có vẽ là thật 99 phần trăm. Sử gia Phạm Quế Dương, Giáo Sư Nguyễn Khắc Mai cũng đã đặt vấn đề. TS Hà Sĩ Phu cũng đã lên tiếng. Chỉ còn thiếu DNA nữa mà thôi.

Tuy nhiên có ba việc mà HCM đã thật sự có làm 100 phần trăm lận.

1/ HCM đã mời ‘cố vấn Trung Cộng’ qua trực tiếp chỉ huy giết hơn 170 ngàn người Việt trong cái gọi là ‘cải cách ruộng đất’.

2/ Người ta đã nói nhiều về công hàm của Phạm Văn đồng và đổ tội cho Phạm Văn Đồng. Nhưng nếu không có lệnh của HCM, Phạm Văn Đồng không thể một mình ký cái công hàm ngày 14/9/1958 thừa nhận tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.

3/ HCM là người ra lệnh đánh Miền Nam để thống nhứt đất nước. Thống nhứt đất nước chỉ là một ước mơ tình cảm, nhưng tai hại thực tế thì vô cùng. Nó tạo mâm cơm để CSBV đem dâng trọn nước VN cho Tàu. Nếu đất nước còn chia đôi, làm sao quân Trung Cộng giả dạng thường dân đến được tận Bình Dương hay Trà Vinh?

Cho nên, không cần đến chuyện HCM là giả hay thiệt, một Chủ Tịch nước mà phạm một trong ba tội kể trên là kể như là tội đồ của Việt Nam rồi - thiên thu phỉ nhổ. Huống hồ gì phạm cả ba tội chồng lên nhau.

B. KẺ THI HÀNH
Trung Cộng không cho Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch tham dự Hội Nghị Thành Đô năm 1990 giữa giới lãnh đạo hai đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) và Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trong Hội Nghị, Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười, Phạm Văn Đồng đã năn nỉ Trung Cộng cho Việt Nam làm một tỉnh tự trị và đã được chấp thuận. Sau Hội Nghị, Nguyễn Cơ Thạch mất chức Bộ Trưởng luôn cả chức Ủy Viên Trung Ương. Nguyễn Cơ Thạch đã đánh giá về Hội nghị Thành Ðô: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.”

Hội nghị Thành Ðô là một thảm bại ngoại giao của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nó cho thấy Trung Cộng đã khống chế toàn bộ lãnh đạo Việt Nam để dần dần thực hiện kế hoạch thôn tính. Khống chế về mặt đối ngoại, khống chế về mặt tổ chức nhân sự cũng như cơ cấu nhà nước của Việt Nam.

Từ đó ta có thể hiểu mỗi lần có Đại Hội đảng là VN phải phái người qua Tàu nhận chỉ thị hay Tàu phái người qua VN ban chỉ thị về thành phần nhân sự. Từ các Tổng Bí Thư đến các Ủy Viên đều do Tàu chọn.

TS-Viện Sĩ Benoit de Tréglodé, một chuyên gia uyên thâm về châu Á, nhất là Đông Nam Á. Ông từng sống ba năm ở VN khi còn Trường Viễn Đông Bác cổ (École Francaise d’ Extrême Orient). Hiện ông là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á hiện đại (Institut de Recherche de l’Asie du Sud-d’Est contemporain).

Benoit de Tréglobé viết, "Không có điều gì xảy ra ở VN mà không có dấu ấn chính trị của Trung Quốc và không chịu ảnh hưởng của đảng CSTQ" . . . "Các nhà lãnh đạo VN hiểu rằng 4 vị trí cao nhất - Tổng bí thư, Thủ tướng, Chủ tịch Nước, Bộ trưởng Quốc phòng cần có sự thỏa thuận của ĐCSTQ".

Vì là do Tàu tuyển chọn, không thể trông chờ từ ‘tứ trụ triều đình’ đến các Ủy Viện Bộ Chính Trị quây mặt chống lại Tàu. Vậy nhiệm vụ của đảng CSVN do Trung Cộng đóng dấu là cái gì? Trung thành với Trung Cộng, đảng CSVN chỉ có một nhiệm vụ quan trọng duy nhứt phải làm là ‘không làm cái gì hết’, chờ tế bào ung thư do HCM cấy từ năm 1945 từ từ lan rộng ra toàn cơ thể mà chết không thuốc chữa.

Đó là cái nguyên lý ngu xuẩn của cái mưu lược mang vẽ thông minh ‘ba không’ (bị đánh không nhờ ai giúp, bị đánh không trả đòn và bị đánh không giận!).

Đó là cái lý do cho đến bây giờ (sau gần 30 năm) không cho tổng kết cuộc chiến chống Trung Cộng 1979-1988. Không cho tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh bảo vệ biên cương. Không cho Quốc Hội bàn về Biển Đông. Không cho kiện Trung Cộng ra Toà Án Quốc Tế. Không cho biểu tình chống Tàu. Và gần đây nhứt, không cho công bố toàn bộ hồ sơ Formosa-Hà Tĩnh.

C. KẾT QUẢ
Sau 70 năm, chứng ung thư bây giờ đã đến giai đoạn cuối. Hết thuốc chữa rồi. Dương Khiết Trì chắc ăn quá, sướng miệng gọi CSVN là đám con hoang cũng không ai dám trả lời mà còn phải gởi Nguyễn Sinh Hùng, Trương Tấn Sang sang Tàu nghiêng mình, sụp lạy!

Nhìn đâu cũng nát bét.

Văn hóa, lịch sử ư? Có tên Tiến Sĩ tôn Mạc Đăng Dung là kẻ đã cởi trần quỳ lạy dâng đất cho tướng Tàu làm Mạc Thái Tổ!

Đạo đức ư? Con cái khôn lớn nhờ ơn đức cha mẹ. Mong đợi cái đạo đức gì với những hậu duệ của những người từng đấu tố cha mẹ mình để chứng tỏ lập trường giai cấp thất học của mình?

An ninh, quốc phòng ư? Đi lại tự do không ai dám xét giấy tờ, cả 100 ngàn quân Trung Cộng giả thường dân có mặt khắp cùng đất nước. Trung Cộng bây giờ có khả năng giết bất cứ ai tìm cách chống đối chúng.

Không có cách nào kể hết đâu vì nó sai bét trên mọi phương diện.

Tôi xin sử dụng những tin tức mới nhứt về tài chánh.

CTV Danlambao viết:

Bước vào năm 2016, dưới sự lãnh đạo tài... tiền của bầy sâu-chuột Ba Đình, 90 triệu người dân ôm một núi nợ to to, khoản 2,6 triệu tỷ đồng, tương đương với chừng 110 tỷ đôla, tương ứng với khoản 60% tổng sản sản phẩm quốc gia (GDP)...

Trước mắt chỉ biết trung bình mỗi người dân phải trả nợ cho các chúa chổm Ba Đình 1.100 USD.

CTV Danlambao - 2016/06/16

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

“Bộ máy nhà nước của chúng ta hiện nay có khoảng 2,8 triệu cán bộ, công chức (CBCC), viên chức. Nếu cộng cả đối tượng nghỉ hưu, các đối tượng khác hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước (NSNN), con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước. Còn nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy.

... 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức. Đó là chưa kể người dân chúng ta phải gánh chịu tình trạng quan liêu, sách nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ trong số 2,8 triệu công chức này.

Lê Thọ Bình - 2016/06/09 - VietTimes

Và đây là danh sách 6 tổ chức chính trị - xã hội, ăn lương để trang điểm mà không làm gì cả: Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (92,435 tỉ đồng); Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (551,505 tỉ đồng); Trung ương Hội LHPN Việt Nam (158,685 tỉ đồng); Hội Nông dân Việt Nam (346,515 tỉ đồng); Hội CCB Việt Nam (80,830 tỉ đồng); Tổng LĐLĐ Việt Nam (273,770 tỉ đồng). Nếu tính luôn cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỉ đồng.

Xài thả cửa. Xây tượng đài thả dàn. Xài vô trách nhiệm. Nhưng không sao hết. Tiền của xã hội chủ nghĩa là tiền của chung, nghĩa là không của ai hết! Đó là cái yên chí của cán bộ CSVN dầu cao hay thấp. Khỏi cần hiểu biết kinh tế nhiều, cái kiểu này là chẳng mấy chốc sập tiệm. Hơn 70 năm giăng bẫy, Trung Cộng chực sẳn ở bãi đáp để hào hiệp đứng ra thu dọn tàn cuộc dùm.


HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 18 tháng 6 năm 2016
(còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

2016/05/02

Thích cả cái nhỏ nhất đến cái to nhất

Thích cả cái nhỏ nhất đến cái to nhất

Chuyện VN trong tuần này có vô số cái oái oăm để kể. Dường như dư luận bây giờ thích nói đủ thứ chuyện, từ chuyện “nhỏ như con kiến” đến chuyện to như cái đình.

Chuyện nhỏ như con kiến như chuyện anh bán phở chưa “đăng ký kinh doanh” bị lôi ra tòa hình sự. Chuyện thích to có thể kể đến chuyện những “kỷ lục” về bánh chưng bánh dầy, tô hủ tíu, bánh trung thu to nhất nước, có thể là to nhất thế giới không chừng.
Quán cà phê “Xin Chào” và anh chủ quán.
Với hai cái đề tài ấy, hầu hết các báo VN xúm nhau vào khai thác tối đa, mỗi báo thêm vào một tí chi tiết “lâm ly bi đát” câu khách. Bởi ở VN tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè. Tháng này vẫn còn trong tháng ba nên các lễ hội mở ra rất linh đình. Từ làng xã xa xôi, từ các đền phủ thờ quan lớn quan nhỏ đến các vị anh hùng dân tộc cũng được mượn danh để tổ chức lễ hội. Mỗi lễ hội thường mang về cho địa phương một khoản tiền kếch xù, tất nhiên trong đó phải có lợi ích của các cấp các ngành. Cho nên các cụ rất hăng hái “phấn khởi hồ hởi” đánh mõ khua chiêng quảng bá rầm rộ cho mọi thứ lễ hội. Nhiều nơi tổ chức lễ hội rất thực dụng, chỉ nhằm kiếm chác, tìm cách chặt chém, làm sao được lợi nhất! Nói như chân dài Ngọc Trinh thì “không có tiền cạp đất mà ăn à?” Câu tuyên bố hùng hồn trắng trợn đó của “ranh ca” mới nổi bỗng trở thành thứ “triết lý” cho những nơi cần tiền làm cứu cánh cho hành động.

Ngày 20/4, người ta đã thống kê, năm 2009, Việt Nam có 7,966 lễ hội, thế nhưng, chỉ qua bảy năm, số lượng lễ hội đã vượt quá con số 8,000, nhiều nhất là lễ hội dân gian, kế đến là tôn giáo, lịch sử. Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền bạc của người Việt đổ vào những lễ hội của tháng ăn chơi. Mặc cho 90 triệu dân, hiện nay mỗi người Việt đang phải gánh khoản nợ công gần 29 triệu đồng. Đây là con số nợ công cao nhất từ trước đến nay. Tôi điểm qua vài nét về câu chuyện nhỏ xíu trước.

Đó là sự tồi tệ và không thể tưởng tượng nổi!
Chuyện anh chủ cửa hàng phở có cái tên dễ thương là “Xin Chào” bị công an lập biên bản và đưa ra tòa thành tội hình sự bỗng trở thành chuyện lớn. Cả ba tòa quan lớn bị lôi vào cuộc và phải khởi tố rồi lại được bồi thường. Câu chuyện thật ra chẳng đáng là gì, còn nhỏ hơn cái móng tay, đó là thứ chuyện đã và đang xảy ra trên khắp các hè phố, các con hẻm.

Thế mà bỗng dưng nó được bùng lên trên khắp các trang báo, nhảy vào cả Quốc Hội, hàng tá luật sư phải trổ tài hùng biện, nó như con cóc nhảy ra giữa những cuộc gọi là “tọa đàm” của các nhà nghiên cứu bằng cấp đầy mình. Chưa hết, chuyện anh bán phở còn được nâng lên tầm mức “vận mạng kinh doanh của quốc gia.” Bởi cái sự liên tưởng đến hàng triệu anh buôn bán nhỏ cũng có thể bị xử theo luật hình sự nên trong Hội nghị Kinh tế Vĩ mô vừa được tổ chức sáng 22-4 vừa qua tại Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cũng đem vấn đề này ra bàn cãi.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói trước hội nghị: "Tôi không thể tin được tại sao tư duy của cơ quan điều hành của một thành phố lớn, năng động lại ứng xử với một cá nhân kinh doanh nặng đến như vậy. Họ không có giấy phép kinh doanh thì phạt tiền, chậm đăng ký kinh doanh cũng đè ra phạt, xử lý hình sự... mà cơ quan công an lại nói nhỏ như móng tay. Quốc gia khởi nghiệp gì mà ông bán cà phê sau 5 ngày không có giấy phép kinh doanh thì phạt 17 triệu đồng ($755) và bị cho ra tòa, đó là sự tồi tệ và không thể tưởng tượng nổi. Làm vậy làm sao chúng ta khuyến khích được tinh thần khởi nghiệp nữa.”
- Đúng là chuyện bé xé ra to.

Đến nỗi Thủ tướng mới của chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp gọi điện cho chủ tịch UBND TP Sài Gòn - ông Nguyễn Thành Phong - yêu cầu dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự chủ quán cà phê. Cuối cùng Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao yêu cầu bồi thường cho chủ quán Xin Chào và bày tỏ thái độ xin lỗi chân thành đối với người bị oan. Rồi tiếp đến ông đại tá Nguyễn Văn Quý - Trưởng Công an huyện Bình Chánh bị mất chức. Bằng ấy sự việc khiến anh chủ quán phổng mũi và hy vọng hàng quán của ông nổi tiếng đắt như tôm tươi. Ngoài người thân, bạn bè, khá đông khách lạ tìm đến uống cà phê ủng hộ và chia vui với ông.

Xin cảm ơn “quý vị khách quý” đã vô tình yểm trợ cho anh hàng phở. Xin chào…
Kết luận lại là các quan thích cả cái to nhất đến cái bé nhất.

Đến chuyện thích cái to nhất
Đó cũng chính là câu chuyện của chiếc bánh chưng khủng 2.5 tấn do Công Viên Văn Hóa Đầm Sen (TP. Sài Gòn) tổ chức gói, làm lễ vật dâng cúng trong ngày Giỗ Tổ Vua Hùng mới đây. Chiếc bánh chưng cần tới 1.2 tấn nếp, 300 kg đậu xanh, 200 kg thịt heo, 300 kg lá chuối và 50 kg lá dong, được đun nấu liền 4 ngày đêm, phải có xe cẩu di chuyển. Tính ra, chiếc bánh chưng này ngốn hết 160 triệu đồng, trong đó tốn nhất là khuôn bánh, lò (100 triệu đồng), còn lại chi phí cho bánh 60 triệu đồng.
Chiếc bánh chưng khủng 2 tấn rưỡi do Công viên Văn hóa Đầm Sen tổ chức gói, làm lễ vật dâng trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.
Nhà báo Hoàng Linh trên facebook của mình cho biết, ông Nguyễn Hữu Trung, Phó Giám Đốc Đầm Sen quyết định Giỗ Tổ năm sau sẽ làm cái bánh chưng… to hơn, rồi làm bánh trung thu khổng lồ vào dịp Tết Trung thu.
- Sợ chưa?!

Người dân chưa quên vụ bánh chưng, bánh dày khủng năm 2008, cũng do Công Ty Văn Hóa Đầm Sen dâng cúng vào ngày Giỗ Tổ. Chiếc bánh chưng gần 2 tấn, chiếc bánh dầy nặng gần 1 tấn. Rút cục, bánh chưng bị vữa, lên men, bánh dầy bị mốc xanh. Đặc biệt, bánh dày thật ra chỉ có lớp bột mỏng bên ngoài, bên trong hoàn toàn bằng mút xốp (mousse).

Người dân cũng chưa quên, chỉ vì tham vọng “lớn nhất, to nhất” mà trước đó, tháng 2, 2015, tô hủ tiếu “kỷ lục lớn nhất” VN được xác lập tại Hội Hoa Xuân tại TP Sa Đéc (Đồng Tháp), có đường kính 1.5 m, sâu 0.7 m, được nấu bằng 100 kg hủ tiếu gạo, 100 kg tôm, thịt, 60 lít nước súp và các loại rau, gia vị khác, sau đó đã phải… đổ đi vì thiu không ăn được?

Cái bệnh thích to đã trở thành bất trị của các quan đầu ngành đầu tỉnh, ngoài ra còn cái bệnh cái gì của tỉnh nhà cũng phải to hơn tỉnh bên cạnh, đó là “tinh thần thi đua tích cực” còn dân sống thế nào cũng mặc. Đó cũng chính là cái bệnh “lên gân” của các cơ quan từ trên xuống dưới. Xin điểm qua vài nét về lễ hội Đền Hùng năm nay đang được dư luận bàn tán xôn xao chưa ngớt.
30 phút sau thời điểm mở hàng rào chắn, lượng người vẫn tắc nghẽn ở cổng đền.
Khóc thét, ngất xỉu giữa biển người trong lễ hội Đền Hùng
Sáng 16-4 vừa qua (tức 10-3 âm lịch), ngay sau nghi thức dâng hương của lãnh đạo Nhà nước kết thúc, lực lượng chức năng đã mở hàng rào an ninh để nhân dân cùng nhau lên dâng hương làm lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. Ước tính khoảng 1.5 triệu người tới dự lễ, vượt quá sức chứa của ngọn núi Nghĩa Lĩnh.

Người ta chen nhau lao về phía trước, lực lượng cảnh sát quá vất vả để giữ gìn trật tự, trong khi người dân bất chấp nguy cơ giẫm đạp, cứ lao lên như một làn sóng. Dưới là biển người, phía trên là cái nắng dội xuống, nhiều người bị ngất xỉu. Cảnh sát giúp đỡ những phụ nữ bị ngất, rất may tất cả đều được đưa đi cấp cứu kịp thời. Nguy hiểm hơn, hàng trăm cháu bé bị mắc kẹt trong đám đông, người lớn không bế nổi trẻ em vì kiệt sức, rất dễ bị té ngã. Lực lượng công an đã phải giải cứu các cháu tập trung về một điểm, chờ cha mẹ đến đón. Nhìn biển người chen lấn xô đẩy tranh cướp như đám loạn quân thật kinh hoàng. Tại sao con người lại mê cuồng đến thế?
Ngất xỉu, khóc thét trong biển người dự lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.
Trên Báo Mới bạn An Lê đã giải thích:

“Nhìn biển người ào ào lao lên Đền Hùng, thấy có điều rất không bình thường. Những gương mặt hớt ha hớt hải, lo âu như sợ người khác tranh cướp cái gì đó ở phía trước. Hình như họ không phải đi dâng hương trong tâm thế nhớ về nguồn cội mà đi giành giật phúc lộc cho riêng mình. Họ thờ phụng vua Hùng hay đi mặc cả với vua Hùng bằng chút lễ vật mang theo, họ mặc cả điều gì thì chỉ có họ biết. Những hành động cầu xin điên cuồng đã biến tín ngưỡng dân gian lành mạnh hoặc lễ hội dân gian thông thường thành sự buôn thần bán thánh. Ngày này qua tháng khác, cái ý nghĩa ban đầu của lễ hội bị biến chất, có thể thấy rõ điều này ở nhiều lễ hội hiện nay.

“Người ta đi tìm niềm tin vào thần linh, bất kể đó là vua chúa, thánh thần, Phật, Chúa. Không riêng gì ở Đền Hùng mà nhiều địa điểm, đền thờ có đồn đãi linh thiêng, thế là người ta kéo tới như một cơn lên đồng tập thể. Đây không phải là niềm tin tôn giáo, càng không phải tín ngưỡng lành mạnh mà là sự mê muội. Câu hỏi đặt ra là vì sao con người ngày càng đổ đốn như vậy?

“Sự mất thăng bằng trong đời sống tinh thần đã dẫn đến các hình thức cân bằng khác, để rồi tin vào thần thánh một cách mê cuồng.

“Người ta đã bàn đến ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thức ăn nhưng có một thứ ô nhiễm ghê gớm nhất đó là ô nhiễm văn hóa. Những lễ hội dân gian thông thường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng không có thuốc chữa. Độc tố của ô nhiễm đã xâm nhập sâu trong cơ thể của nền văn hóa đất nước, nguy thay!”
Nguy thật, đến văn hoá cũng nhiễm độc thì hết thuốc chữa.
Bạn Hoàng Huy viết trên báo Ngày Nay “năm lý do vua Hùng không muốn tổ chức giỗ từ năm sau.” Tôi xin tóm lược những lý do đó.

5 lý do vua Hùng không muốn tổ chức giỗ từ năm sau

- Lý do thứ nhất: Hàng ngàn năm sau khi Vua mất, gần 100 triệu con dân của Người, phần đông vẫn không học được những điều đơn giản nhất mà hầu hết cả thế giới đều biết - đó là xếp hàng. Phải tự giác giữ trật tự ở chỗ đông người, không chen lấn xô đẩy gây hỗn loạn, biết giữ văn minh khi đi du lịch, tham quan... Khổ bà già, tội trẻ con, thương người có bệnh. Từ trên đỉnh non cao, nhìn đàn con cháu “có lớn mà không có khôn”, Vua thấy mà buồn không tả xiết!

- Lý do thứ hai: Cứ đến ngày giỗ của mình, Vua lại thấy đau lòng trước thói ưa hình thức, lãng phí kệch cỡm đến vô lý của đám cháu con. Thời xưa, dù cho bánh chưng là đất, bánh dày là trời thì cũng chỉ nhỏ nhỏ xinh xinh như một nét văn hoá đẹp, chứ không phải bánh chưng hai tấn rưỡi, bánh dày năm tạ như bây giờ.

Ở miền cao, trẻ em còn mơ được ăn cơm có thịt. Miền Tây sắp khô hạn cả rồi. Đất nước còn nghèo khó, nợ công mỗi lúc một dày. Vua lòng dạ nào mà ăn cho được. Và hơn cả, Vua đâu dám ăn vì ai dám chắc thịt nhân bánh không có chất tạo nạc, gạo nếp kia không phải hạt nhựa Tàu, ăn vào có khi Vua “băng hà” lần nữa. Ngẫm mà đắng lòng!

Cảnh chen chúc, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau trong Lễ Hội Đền Hùng.
- Lý do thứ ba: Mỗi lần giỗ, Vua mệt mỏi vì những lời khấn nguyện xầm xì của cháu con. Kẻ cầu cho con được trúng mánh cho đời lên hương, đứa thì mong được thăng quan tiến chức, ti tiện hơn thì cầu cho con năm nay xà xẻo được nhiều nhiều... Vua nghe xong chỉ muốn đuổi cả lũ về, tìm ngay lại chuyện Mai An Tiêm mà đọc. Không có quả ngọt nào chỉ cần cầu khấn mà có. Đến thế kỷ này rồi mà vẫn còn mơ làm ít ăn nhiều. Phải là nước mắt, mồ hôi gian khó, trí tuệ cần cù mới mong có hoa thơm trái ngọt. Vua thấy mà thêm sầu!

- Lý do thứ tư: Vua buồn khi cháu con chỉ mượn cớ giỗ mình để thêm ngày nghỉ, bày trò nhậu nhẹt tối ngày, say xỉn hò hét như thể nơi rừng xanh núi đỏ. Để rồi mỗi lần giỗ xong là năm sau lại thành giỗ của vài ngàn đứa chết vì tai nạn giao thông hay đánh nhau ẩu đả. Thương cha Lạc mẹ Rồng thì cố gắng làm lụng chăm chỉ, đừng hò nhau đổ về Phú Thọ nữa, núi Nghĩa Lĩnh đã chật chội lắm rồi. Vua ngẫm mà thấy ứa nước mắt.

Bánh chưng, bánh dày dâng vua Hùng.
- Lý do cuối cùng: Giỗ Vua nhưng ngày càng càng ít cháu con biết về lịch sử. Vua Quang Trung giờ chúng nó còn cho là bạn chiến đấu của Nguyễn Huệ thì nói gì đến vua ở cách đó cả ngàn năm. Lịch sử cách đây vài chục năm đã bị xói mòn nghiêm trọng, Gạc Ma không ai nhắc tới, Vị Xuyên ngày càng nhiều người quên... thì nói gì đến 18 đời vua Hùng tên dài dòng khó nhớ. Vua nghĩ tới mà giận khôn cùng! Tổ tiên nào cũng mong muốn được thờ cúng, được cháu con nhớ tới, nhưng hơn hết tất cả tổ tiên mong muốn cháu con sống tốt, sống đẹp, sống có ích trong một đất nước hùng cường - văn minh - lịch sự. Vua mất cả ngàn năm nay rồi còn thiết tha gì nữa đâu một ngày giỗ mọn. Chi bằng từ năm sau toàn dân vẫn cứ đi làm ngày 10/3 Âm lịch nhưng lấy lương bổng ngày đó để làm từ thiện cho đồng bào. Suối sâu còn cần cầu, núi cao học sinh còn cần "Cơm có thịt", đồng bằng cần học phép tắc ứng xử văn minh, trẻ con cần học ngoan ngoãn, người lớn cần tự sửa mình để lúc nào cũng làm người tử tế chứ đợi lúc về hưu thì đã quá muộn. Chỉ cần vậy thôi là Vua chẳng cần giỗ nữa mà vẫn sống đời đời bên cháu con hạnh phúc.

Đó là 5 lý do vua Hùng không muốn con cháu tổ chức giỗ vào năm sau. Theo TS Nguyễn Văn Vịnh: “Tôi thấy ở nước ta có nhiều kỷ lục linh tinh, kỷ lục vớ vẩn.”

Nghĩ mà đau lòng cho đất nước ngày một suy thoái trầm trọng. Văn hoá, đạo đức, tâm linh và cả niềm tin cũng mất. Khi con người mất niềm tin bởi những bất an trong đời sống đành trông vào thánh thần chứ còn biết tin vào cái gì bây giờ? Xin thông cảm cho người dân Việt chúng tôi giữa thời đại này.

Văn Quang
Viết từ Sài Gòn ngày 02.05.2016

Khai Dân TríVăn Quang