Showing posts with label Tôn Giáo. Show all posts
Showing posts with label Tôn Giáo. Show all posts

2014/09/30

VỀ NGUYÊN NHÂN CHIA RẼ TRONG CĐNVQG HẢI NGOẠI

VỀ NGUYÊN NHÂN CHIA RẼ TRONG CĐNVQG HẢI NGOẠI
 
Thưa Quý vị Quan tâm,
 
      Câu chuyện xào xáo trong cộng đồng VN tại hải ngoại dĩ nhiên là xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Song đi tìm đến tận cùng, chúng ta sẽ thấy rằng cái nguyên nhân to lớn nhứt… xuất phát từ các “Tu Hội Nhà Chúa” và “Liên Đoàn Công Giáo VN Hải Ngoại” do Vatican và CS Hànội dựng lên sau 30-4-1975, được điều động bởi các “Linh mục ĐỎ” do CS đào tạo chánh quy bởi các “Trường Dòng” ở trong nước. Từ sau 1975 chiếm được miền Nam, với chủ trương & chánh sách “Một 100 năm trồng người” của chế độ CS, các trường Dòng được đào tạo theo tài liệu hướng dẫn do Đảng CS soạn thảo, dạy cho các Linh Mục phải biết Yêu Chủ Nghĩa Xã Hội. Và sau khi tốt nghiệp Linh Mục, họ phải Tuyên Thệ trung thành với Đảng, để trở thành Cán Bộ Tôn Giáo Vận. 
 
     Mặt khác, ở hải ngoại, dưới sức ép của Vatican, các hàng giáo phẩm như Linh mục, Giám Mục Công giáo buộc phải công nhận “Nhà nước Việt Cộng” và cấm KHÔNG được chống cộng. Ai bất tuân sẽ bị loại bỏ. Có nhiều giáo dân buộc phải khóc mà giả từ nhà thờ Công giáo VN, đi qua dự lễ ở các nhà thờ Công giáo Mỹ, sau khi phải chứng kiến cái cảnh lá Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ nơi giáo đường bị hạ. Đồng thời các bài giảng của các linh mục bắt đầu “đổi giọng” ca bài ca con cá nó sống vì nước… Việt cộng! Thật là đau lòng xiết bao!
 
     Dĩ nhiên là phía bên các chùa Phật Giáo cũng bị VC xâm nhập nhưng mức độ không quá lộ liễu công khai 100% theo Cộng như các nhà thờ phía bên Công giáo. CS Hànội móc nối nhà sư Chánh Lạc, rồi từ Chánh Lạc (Chủ tịch VP2/VHĐ) móc qua các sư Viên Lý  (Chùa Điều Ngự) trong kế hoạch trường kỳ xâm nhập, lần lượt đưa các sư Quốc Doanh từ trong nước qua, cài đặt vào các chức vụ chủ chốt trong hàng Giáo phẩm  GH/PGVNTN để chuẩn bị lật đổ Ngài Quảng Độ và Giáo Hội PGVNTN dâng cho CS Hànội. Chuyện nầy tuy bất thành, nhưng hàng ngũ Giáo Hội PGVNTN bị phân rã thảm hại: Đã phát sinh  Giáo Hội Về Nguồn ly khai… nay lại có thêm Tăng Đoàn Dị Giáo ra đi… 
 
    Có điều may mắn, các nhà chùa Phật giáo hầu hết vẫn duy trì việc treo lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ, là biểu tượng của người Quốc gia. 
 
    Nhưng nói gì thì nói, phải nhìn nhận rằng Khối Công Giáo hải ngoại có vẻ “đoàn kết” không có gây xáo trộn vì các con chiên ngoan ngoãn tuân hành “Đức Vâng Lời”, dù có bất mãn các bề trên đến đâu cũng không dám chống các Cha Cộng sản. Thực chất thì phía Công giáo đã bị “quốc doanh hoá”… từ khi Hoa Kỳ bãi bỏ lịnh cấm vận CS Hànội. Toàn bộ Khối Công Giáo hải ngoại đã thần phục “quốc doanh”, cho nên các nhà thờ tự do, “công khai” thi hành NQ36, như công khai hạ cờ vàng, công khai hô hào làm mục vụ đô la, góp tiền bạc và công sức đem về giúp VC xây dựng đất nước; công khai hô hào đừng chống CS nữa, vì Cộng sản nó cũng là con cái của Chúa... Để rồi từ đó phát sinh ra các vụ xáo trộn đánh phá các tôn giáo trong cộng đồng hải ngoại như hiện nay do bọn đặc tình CS đội lốt các tôn giáo chủ trương.
 
     Cụ thể như nhóm Liên Thành, Việt Sĩ & Dương Đại Hải, đội lốt Công giáo tích cực đánh phá Phật Giáo;  như tên đặc tình CS Tuấn Phân đội lốt PGHH, đánh phá cả Công giáo, Phật giáo và thậm chí đánh luôn Khối PGHH Thuần Túy, không thuần phục CS của Tu sĩ Lê Quang Liêm; Như 2 tên đặc tình CS Bảo Quốc Kiếm & Phạm Hoàng Vương, đội lốt Phật tử đánh phá cả Phật Giáo và Công Giáo, luôn cả những ai chống Cộng… 
 
     Chính hành động của lũ Việt gian trên đây đã tác động mạnh mẽ làm xáo trộn, phân hoá trong CĐNVQG tại Hải ngoại như hiện nay;  gây hiểu lầm và làm cho các tôn giáo kình chống nhau... ngư ông VC đắc lợi.
 
 
     Kính mời Quý vị theo dõi tài liệu sau đây nói rõ hơn :
 
From:@gmail.com>
Sent: Sunday, June 30, 2013 12:20 PM
Subject:
SDD, SƯ ĐOÀN ĐEN ĐỎ.
 
CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA!
 
     NHỮNG ĐIỀU GIÁO DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM CẦN BIẾT: GIÁO HỘI LA MÃ ĐÃ LÀM GÌ Ở VIỆT NAM SAU NĂM 1975.
 
     Từ lâu, giáo dân ‘công giáo’ Việt nam luôn nghĩ Vatican là một thực thể THẦN THÁNH, THÁNH THIỆN; Chẳng thế, người ta thấy sau ngày 30/4/75 Vatican đã ĐOẠN GIAO và giữ thái độ LẶNG THINH với chính quyền CSVN trong suốt 30 năm; Vatican chỉ MỚI NỐI LẠI SỢI DÂY LIÊN LẠC với chính quyền CSVN trong năm năm đổ lại; Do Việt cộng XIN ĐƯỢC TÁI BANG GIAO.
 
      Sự thực không như thế! Từ trước đến nay, Vatican chưa hề ngưng liên lạc với Việt cộng; Và suốt quãng thời gian bốn mươi năm qua (1975-2013), trong bóng tối, Vatican âm thầm nỗ lực cùng Việt cộng thực hiện hai việc quan trọng nhằm giúp Việt cộng đối phó với cộng đồng người Việt tự do ở hải ngoại về lâu về dài:
 
     1.    Thành lập Liên đoàn Công giáo Việt nam ở hải ngoại, trực thuộc và điều hành bởi Hội đồng giám mục Việt nam.
     2.    Tái thành lập Tu hội Nhà chúa ở trong nước.
 
     Mặc dù hai việc này, tưởng như rất nhỏ và vô hại, nhưng hiện nay chúng đã đem lại những thành quả lớn lao cho tổ hợp V&V, đưa đến những tác hại khủng khiếp cho người dân Việt nam trong công cuộc chống ngụy quyền bạo tàn Việt cộng trong nước và bảo vệ lãnh thổ, tổ quốc trước nạn xâm lăng của giặc Hán.
 
1-/ LIÊN ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI:
 
     -TÁC PHẨM CỦA TÒA THÁNH ROMA VÀ HĐGM VIỆT NAM, ĐƯỢC THÀNH LẬP NGAY SAU NĂM 1975, KHI GIÁO HỘI LA MÃ NHẬN THẤY RẤT ĐÔNG GIÁO DÂN NGƯỜI VIỆT BỎ NƯỚC RA ĐI TỴ NẠN CỘNG SẢN.
 
     · Hội đồng giám mục Việt nam (HĐGMVN) được phép và sự giúp đỡ của Vatican để thành lập Liên đoàn công giáo Việt nam ở hải ngoại.
 
     · Qua Liên đoàn công giáo Việt nam hải ngoại (LĐCGVNHN), HĐGMVN vẫn có thể tiếp tục theo dõi, kiểm soát, và điều khiển được các giáo Dân Việt đã vượt biên ra ngoại quốc tỵ nạn CS, khiến họ không bỏ đạo, theo đạo khác (Tin lành) hay gia nhập vào các giáo xứ (?) của người bản xứ Âu, Mỹ.
 
     · Qua LĐCGVNHN, HĐGMVN có được cơ hội mở mang thêm các cơ sở kinh tài ở ngoài nước để kiếm thêm nguồn tài chánh, tạo ảnh hưởng và nắm chắc được sĩ số giáo dân công giáo Việt tỵ nạn ở hải ngoại. (Chính sách “đi sâu, đi sát”!!!!)
 
     · Qua LĐCGVNHN, dù ở trong nước, HĐGMVN vẫn có thể khống chế và chi phối giáo dân Việt tỵ nạn; Buộc giáo dân tỵ nạn phải tuân phục các giáo luật và giáo điều do HĐGMVN đặt ra như các giáo dân Việt trong nước. 
 
     · Từ trong nước, HĐGMVN theo chỉ thị của  Vatican và VC (Tổ hợp V&V) để ra lệnh cho LĐCGVN ở hải ngoại tung tin đồn nhảm, hoặc không cho phép các giáo xứ Việt tỵ nạn đấu tranh chống cộng, không cho treo cờ quốc gia VNCH, không khuyến khích “làm chính trị” …
 
Mục đích & nhiệm vụ của LĐCGVN:
 
     · Làm việc dưới sự điều khiển trực tiếp của HĐGMVN.
     · Làm tê liệt hay ngăn cản một phần nào sức chống cộng, chống Tàu đỏ xâm lược, xoi mòn ý thức bảo vệ tổ quốc của giáo dân Việt tỵ nạn.
     · Phối hợp với cơ quan ngôn luận Công giáo Việts Catholic, sau đó là tu hội Nhà Chúa để thao túng và cách ly giáo dân Việt tỵ nạn ra khỏi cộng đồng người Việt tỵ nạn thế giới.
     · Bịt miệng giáo dân Việt tố cáo tội ác của VC trước diễn đàn ngôn luận quốc tế, làm lợi cho VC trên trường quốc tế.
     · Dùng tôn giáo để “ru ngủ” giáo dân Việt tỵ nạn và chia rẽ tình đoàn kết dân tộc nơi khối đại đoàn kết người Việt tỵ nạn hải ngoại. 
 
     · Khơi dậy tinh thần NGÔ ĐÌNH DIỆM trong các cựu đảng Viên Đảng Cần-lao cùng lúc với tinh thần THÍCH QUẢNG ĐỨC do nhóm tu sĩ nón cối “Phật giáo” của nhà nước (cũng do VC xuất cảnh ra hải ngoại để làm công tác địch vận) đang phát động trong và ngoài nước để chọc cho những đồng bào giáo dân, phật tử hải ngoại “đánh nhau” vỡ đầu; VC hưởng nhàn!!  
     -Linh mục Cao văn Luận, cựu cố vấn của nhà Ngô, nhận lệnh giáo hội để thành lập LĐCGVN vào những năm 75-76 ở Đức.
     -Năm 1979, khi Giuse Phạm minh Văn, SDD từ Việt nam được gởi qua Thụy sĩ, LĐCGVN được chuyển giao cho Giuse Phạm minh Văn và tu hội NHÀ CHÚA   – DOMUS DEI CLERICAL SOCIETY OF APOSTOLIC LIFE (viết tắt: THE SOCIETY OF DOMUS DEI, SDD) để tiếp tục phát triển. 
 
2-/ TU ĐOÀN NHÀ CHÚA SDD:
 
     Cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết rõ gốc gác của tu đoàn Nhà chúa ở đâu; Vì sao tu đoàn Nhà chúa xuất hiện trong cộng đồng Việt tỵ nạn, mặc dù tu sĩ của các dòng khác nơi đây không thiếu. Lắm người còn tưởng lầm tu đoàn Nhà chúa là một dòng tu của Mỹ khi được giới thiệu bằng tên Mỹ: Domus dei Clerical Society of Apostolic Life, Viết tắt SDD. 
 
     -Các tu sĩ tu đoàn Nhà Chúa luôn tránh né, không muốn nói nhiều về xuất xứ, ngọn nghành của tu đoàn; Khi có người hỏi đến thì luôn tìm cách trả lời quanh co cho qua chuyện. -Tại sao?
 
     Có hai lý do chính đáng khiến các linh mục tu đoàn Nhà Chúa phải “nửa nạc nửa mỡ”, mập mờ đánh lận con đen” với mọi người:
 
     A.   Lý do thứ nhất: Nguồn gốc và xuất xứ của tu đoàn Nhà Chúa.
          Nguồn gốc của tu đoàn Nhà Chúa là một vấn đề nhạy cảm với những ngưởi Việt ái quốc: Các tu sĩ của tu đoàn Nhà Chúa chính là đồ tử, đồ tôn của ông linh mục gián điệp Roma Alexander de Rhodes.Tiền thân của tu đoàn Nhà Chúa chính là DE JESUS MISSIONARY, cơ sở “tiền thám” và truyền đạo của đế quốc Roma thời trung cổ, do các tu sĩ gián điệp dòng “tiền thám” Jesuit và Francisco de Pina lập ra ở miền bắc Việt nam ở thế kỷ 15,16.
 
     L.m Alexander de Rhode khi sang thay l.m Francisco de Pina để trông coi De Jesus Missionary đã đổi tên De Jesus Missionary thành DOMUS DEI, tu hội Nhà đức chúa B’lời, rồi tu hội Nhà Chúa. (Tiếng Latin DOMUS = NHÀ, HOUSE; DEI = ÔNG TRỜI, GOD)
     L.m Alexander de Rhodes muốn chơi trội hơn người tiền nhiệm nên đã  trở thành “gián điệp nhị trùng” giữa Chúa Trịnh ở miền bắc và Chúa Nguyễn ở miền nam Việt nam; Như thế Alexander de Rhodes đã làm gián điệp cho cả ba phe: Roma, Trịnh, Nguyễn.
 
     Khi những “vai” gián điệp của l.m Alexander de Rhodes bị bại lộ, Alexander de Rhodes bị cả hai chính quyền Trịnh, Nguyễn bắt và đuổi khỏi Việt nam, tu hội Nhà Chúa cũng bị chính quyền Trịnh, Nguyễn càn quét. Các tu sĩ và tín đồ của tu hội Nhà Chúa bỏ trốn; Phần còn lại bị bắt, bị xử chém. với các tội danh: Tà đạo, gián điệp, phản quốc để trở thành 117 ông thánh tử đạo VN được Vatican phong thánh sau này.
 
     Domus Dei hay tu hội Nhà Chúa bị “lộ tẩy”, L.m Rhodes bị Roma bất tín nhiệm; Giáo hoàng Roma bắt L.m Rhodes sang Pháp thành lập một tổ chức tiền thám khác để thay thế Domus Dei. Paris Foreign Missionary, Apostolic Vicariat ra đời và được trao lại cho l.m Francois Pallu và L.m Pierre Lambert de La Motte đưa sang Việt nam.
 
     - Xong việc, Alex de Rhodes được tòa thánh Roma cho đi “nghỉ mát dài hạn” ở Persia; Thất vọng và chán nản, sáu tháng sau Alex de Rhodes chết ở đó. Số phận của tu hội Nhà Chúa, các tu sĩ, đệ tử DD (Domus Dei) tàn tạ theo cái chết của Alexander de Rhodes do bị ảnh hưởng lây: tội không vâng lời, qua mặt thượng cấp dòng Jesuit của Alex de Rhodes. Sự chèn ép của Paris Foreign Missionary, sự tranh dành ảnh hưởng, ẩu đả giữa các dòng tu Công giáo ở Việt nam, khiến tu hội Nhà chúa bị Roma bỏ rơi và chỉ tồn tại ở Việt nam như một loại con ghẻ của Roma trong suốt năm thế kỷ.
 
     Cho đến năm 1975, để giải “nước cờ” bị Mỹ, sau đó là Việt cộng “Chiếu” bí, Vatican và HĐGM Việt nam mới chợt nhớ đến tu hội Nhà Chúa với những ưu điểm sẵn có; Có thể dùng để giải quyết được những thách đố cũ thời thế khó khăn trước mặt: Vatican cho phép tu hội Nhà Chúa hoạt động trở lại với nhiệm vụ làm cơ quan tình báo trung gian giữa Vatican và Việt cộng; tương tự dòng SSS ở Pháp, dòng CSSR ở Mỹ.
 
     B.   Lý do thứ hai: -Nguyên nhân, thời điểm tu hội Nhà Chúa SDD “tái xuất giang hồ”
     -Vào thập niên 70 trở về trước cho đến 45-55, Hệ thống tình báo của cả ba phe: Vatican, VNCH và VC đều biết rõ gốc tích “bất hảo” của tu hội Nhà Chúa; Vì thế cả ba đều từng đặt vấn đề để nghi ngờ tu hội Nhà Chúa là nơi tiềm phục gián điệp của những phe đối nghịch:
 
     Ø  Vatican đa nghi, không tin tưởng tu hội Nhà chúa vì sự không vâng lời của kẻ sáng lập  là Rhodes, phần đã đoạn giao với tu hội Nhà Chúa ở miền bắc Việt nam đã quá lâu.
     Ø  Việt nam cộng hoà nghi ngờ tu hội Nhà chúa có cán bộ cộng sản miền bắc tiềm phục. Trong suốt 20 năm ở miền nam, dù Lm Nguyễn duy Khang cố gắng vận động, đơn xin phép hoạt động của tu hội Nhà Chúa chỉ dậm chân tại chỗ, mặc dù cả hai đời tổng thống VNCH đều là giáo dân Công giáo.
     Ø  Việt cộng nghi ngờ Tu hội Nhà chúa là ổ gián điệp của Vatican, Pháp và VNCH gài lại.
 
     Sau năm 1975,  vì lợi ích chung của cả hai, Vatican và VC đã bắt tay nhau để thành lập tổ hợp V&V và Tổ hợp V&V cần có nhân sự để hoạt động tình báo và địch vận ở  ngoại quốc. 
 
     Bản tính đa nghi quỷ quyệt của cả hai khiến VC không tin và chấp nhận dòng tu nào của Vatican có sẵn ở hải ngoại hay nhân sự, tu sĩ nào đã được đào tạo trong nam, dưới chính thể đệ nhất và đệ nhị cộng hoà; Ngược lại Vatican cũng thế.
 
Cứu cánh cho cả Việt cộng lẫn Vatican là Tu hội Nhà Chúa do ông tu sĩ gián điệp dòng Jesuit của Roma thời trung cổ Alexandre de Rhodes lập ra.
 
     Từ năm 75 trở về trước, “tổng đàn” của tu hội Nhà Chúa ở miền bắc VN có thể là nơi các gián điệp “đồng sàng dị mộng” tiềm ẩn; Nhưng khi Vatican và Việt cộng cùng nắm tay hát bài “Kết đoàn chui vô mùng … làm bậy. Kết đoàn ta lật “tẩy” cho nhau xem” thì các “ngài” tu sĩ gián điệp SDD của hai phe sẽ “cùng giường, chung mộng”; Chẳng tốt hơn sao? –Dùng SDD là “chắc cú”!
 
     Trong bốn thập niên qua, kế hoạch xử dụng tu đoàn Nhà Chúa SDD đã được tổ hợp V&V khai triển từng bước: 
 
     · Dùng kế “kim thiền thoát xác”, tránh sự nghi ngờ, bàn tán của giáo dân trong và ngoài nước, Năm 1977, HĐGM VN thừa lệnh của tổ hợp V&V cho phép chi nhánh Tu hội Nhà chúa trong Sài gòn hoạt động trở lại, sau đó mới dời bộ chỉ huy tu hội Nhà Chúa ra miền bắc.
     · Tu hội Nhà Chúa bắt đầu tuyển chọn và đào tạo các linh mục cán bộ để gởi ra nước ngoài hoạt động. Đối tượng được tổ hợp V&V chọn để làm tu sĩ cán bộ của tu hội Nhà chúa là những thành phần trẻ trong nam, lớn lên dưới chế độ XHCH, hoặc từ miền bắc đưa vào để tránh tình trạng: “não trạng nhiễm độc ý thức hệ tư bản”, bị mua chuộc, hũ hóa.
 
     · Năm 1979, tu hội Nhà Chúa được tổ hợp V&V đổi tên thành tu đoàn Nhà chúa để “xuất quân” ra ngoại quốc.
     · Tu đoàn Nhà chúa còn có thêm tên Mỹ “lẫn” La tinh: Domus Dei Clerical of Apostolic Life, viết tắt: Society of Domus Dei, SDD để tăng phần “huyền nhiệm”; “đánh lận con đen” với dân Việt tỵ nạn (sẵn đã “mù mịt” về nguồn gốc tôn giáo của mình và ngoại ngữ) khiến họ tưởng lầm tu đoàn the society of Domus Dei là một dòng tu của Mỹ hay của Roma mà nể sợ!
     Sau khi tu đoàn Nhà Chúa được thành lập và được phối trí đi đến những nơi cần đến trên thế giới, các chứng tích về: Chỉ thị, giúp đỡ điều động … của Vatican và VC được xóa sạch sẽ.
 
     Ngày nay, bên ngoài, SDD, the society of Domus Dei hay tu đoàn Nhà chúa là một tổ chức hoàn toàn Việt nam; Các tu sĩ của họ hoàn toàn là người Việt; Chi phối và điều khiển bởi HĐGMVN. Bề trong, cũng như dòng SSS của tổ hợp VF, dòng CSSR của tổ hợp VUS, dòng SDD của tổ hợp V&V được thành lập, đưa ra ngoài để xây dựng cơ sở và thi hành những công tác ngoại vụ có lợi cho cả Vatican và Việt cộng.
 
     §  Cũng trong năm 1979, linh mục “cán bộ khung” của SDD, Giuse Phạm minh Văn nhận “sự vụ lệnh”, cầm đầu một số linh mục cán bộ SDD đưa ra ngoại quốc (Thụy sĩ, quốc gia trung lập) bắt đầu hoạt động và xây dựng cơ sở ở Âu châu.
     §  Việt cộng tung ‘hoả mù’ và đồng thời gián tiếp công nhận SDD bằng cách cho dựng lại tượng gián điệp Alexandre de Rhodes ở Sài gòn và suy tôn Rhodes là ông tổ chữ Việt.
     §  Vatican “thả bùa mê” cho giáo dân Việt bằng cách phong thánh cho 117 ông thánh tông-đồ tử đạo của tu hội Nhà Chúa (đệ tử của Alex de Rhodes), những kẻ đã bị xử trảm bởi chính quyền Việt nam ở thế kỷ 16 vì tội làm gián điệp và phản lại tổ quốc Việt nam.
     §  Những năm cuối của thế kỷ hai mươi, từ Âu châu, linh mục “cán bộ khung” của SDD Giuse Phạm minh Văn tìm đường vào Mỹ.
     §  Năm 2000, với sự giúp đỡ của Mai thanh Lương, Phạm minh Văn thành lập được trụ sở SDD đầu tiên trên miền đông nước Mỹ, tiểu bang Louisiana; Mai thanh Lương được Vatican trả công bằng chức giám mục và thuyên chuyển về Cali để che dấu chứng tích.
     §  Năm 2004, với sự giúp đỡ của Phạm văn Ninh, Vũ Hải Đăng của tu đoàn Nhà chúa từ giáo xứ St. Gallen, Thụy sĩ qua tuyến đường Louisianna thâm nhập vào giáo xứ La vang ở Portland, Oregon.
     §  Năm 2010, các tu sĩ cán bộ thuộc tu đoàn Nhà Chúa SDD chiếm cứ giáo xứ La vang, Oregon và đẩy các tu sĩ người Việt thuộc những dòng tu khác đang phục vụ tại trung tâm La vang và các giáo xứ Việt tỵ nạn lân cận ra khỏi vùng Tây-bắc Mỹ.
     §  Năm 2011, Cán bộ chỉ đạo trung ương của tu đoàn Nhà Chúa Đoàn văn Vinh và giám mục đỏ Vũ huy Chương được linh mục cán bộ “quản giáo” giáo xứ La vang Giuse Phạm hữu Đạt SDD mời sang Oregon để dự lễ khánh thành trụ sở thứ hai của tu đoàn Nhà Chúa mới mua cách đây năm năm ở Washougal, Wasington, cách thành phố Portland khoảng nửa tiếng lái xe. 
 
     -Năm nay, 2013, vào tháng bảy, các tu sĩ cán bộ của tu đoàn nhà chúa, SDD từ khắp nơi chuẩn bị đổ về giáo xứ La vang trong dịp hành hương Groto để: 
 
     v  Ăn mừng chiến thắng của Giuse Phạm hữu Đạt, SDD, “quản giáo” giáo xứ Đức Mẹ La vang trong việc “trấn ếm” các hoạt động yểm trợ chống cộng, chống ngoại xâm của hàng xứ cũng như qua mặt được giáo dân Việt Portland để dùng tiền giáo dân mua thêm cơ sở cho tu hội SDD có đất dụng võ, tổ hợp V&V có thêm bất động sản ở Mỹ.
 
     v  “Lên khung” kế hoạch vận động phát triển VĂN HOÁ VIỆT…CỘNG ở hải ngoại nhằm đầu độc và tẩy não trẻ Việt ở đây. Đồng thời hợp thức hóa hồ sơ thường trú nhân cho các nữ tu sĩ cán bộ ở Việt nam qua Mỹ theo “diện” du học mà Đạt đã ký “lậu” để họ có được thẻ xanh để ở lại Mỹ vào hai năm trước: Các nữ tu cán bộ sẽ trở thành các cô giáo dạy tiếng Việt cho các trung tâm Việt ngữ trên nước Mỹ.
 
     Nếu kế hoạch Phát triển “văn hóa Việt … cộng” của SDD thành công thì đây là phương tiện để Tổ hợp V&V xuất cảnh cán bộ Việt cộng sang Mỹ hoạt động hàng loạt một cách hợp lý và hợp pháp.
 
     3-/ “TỔ TAM-TAM”: LIÊN ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI, VIỆTS CATHOLIC VÀ TU ĐOÀN NHÀ CHÚA (THE SOCIETY OF DOMUS DEI), HAY SDD VÀ NHỮNG SỰ PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG CHẶT CHẼ, HỮU HIỆU CỦA NÓ:
 
     Hiện nay, cả ba tổ chức của công giáo Việt nam: LĐCGVN, Viêts Catholic, tu đoàn Nhà Chúa SDD bề ngoài cố làm ra vẻ hoạt động rời rạc và độc lập nhằm đánh lừa dư luận, thực chất cả ba đang phối hợp chặt chẽ để hoàn thành đắc lực nhiệm vụ “trên trao” (tổ hợp V&V).
 
     Tu đoàn Nhà chúa SDD với các thành phần tu sĩ cán bộ trẻ, đa dạng, năng động, mới lạ sẽ là “mũi nhọn xung kích” trong mặt trận tâm lý, địch vận, Văn hoá để chống lại và hũ hóa thành phần quốc gia trong các cộng đồng Việt hải ngoại.
 
 - NHIỆM VỤ CỦA TU ĐOÀN NHÀ CHÚA, SDD:
 
     · Nhờ sự “bảo lãnh” của Vatican để qua lọt cửa của các toà Tổng giám mục ở các quốc gia Âu Mỹ, sự che đậy của cơ quan truyền thông Công giáo Việts Catholic, SDD xử dụng chiêu bài “Liên đoàn Công giáo Việt nam” để ra sức tranh dành ảnh hưởng (giáo dân), đánh chiếm địa bàn hoạt động (giáo xứ người Việt tỵ nạn) với các linh mục Việt nam tỵ nạn cộng sản ở các nơi này.
 
     · Lợi dụng tình trạng hỗn loạn của thời cuộc, không ai nắm bắt được nguồn gốc của tu đoàn SDD; Lợi dụng “sự vụ lệnh” của HĐGMVN, các “tu sĩ cán bộ” SDD xâm nhập các giáo xứ Việt tỵ nạn để dụ dỗ giáo dân; Mua chuộc, hũ hoá, hay thanh trừng, triệt tiêu các linh mục tỵ nạn VNCH để chiếm chỗ.
 
     · Tìm cách đẩy các linh mục trẻ trưởng thành ở Mỹ, thế hệ thứ hai của VNCH, thuộc các dòng tu khác ở địa phương đang có mặt trong các giáo xứ Việt đi qua các giáo xứ của người bản xứ để dễ bề thao túng giáo dân, chiếm lĩnh môi trường hoạt động trong cộng đồng Việt tỵ nạn. 
 
     · SDD nắm quyền điều khiển LĐCGVN để liên kết và tập hợp mọi giáo xứ Việt tỵ nạn trên thế giới dưới quyền điều khiển của tu đoàn SDD và HĐGMVN.
 
     · Về mặt CHÍNH TRỊ, SDD xử dụng tôn giáo để “ru ngủ” và trấn-át các phản ứng của giáo dân Việt hải ngoại với những việc làm tàn hại đồng bào và đất nước của Việt cộng ở trong nước. Giáo dân nơi các giáo xứ do SDD chiếm cứ sẽ “tụ thủ bang quan” với các việc làm của Việt cộng trong và ngoài nước.
 
     · Về mặt ĐỊCH VẬN, SDD, Việts Catholic giảng và viết những điều gián tiếp xúi dục các giáo dân cuồng tín, các cán bộ của đảng Cần lao cũ gây những trận bút chiến tôn giáo trong các diễn đàn hải ngoại với các tu sĩ cán bộ Phật giáo cũng được Việt cộng gởi ra từ trong nước nhằm gây sự hoang mang, chia trí và xé nát sự đoàn kết chống cộng của khối người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại.  
 
     · Về mặt VĂN HÓA, với chiêu bài “phát triển văn hóa Việt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại” SDD vận động để đưa các nữ cán bộ văn hóa Việt cộng đội lốt nữ tu Công giáo ra hải ngoại làm công tác giảng dạy văn hóa Việt đồng thời làm công tác tuyên truyền trong giới trẻ Việt ở hải ngoại.
 
-MỤC ĐÍCH CỦA TU ĐOÀN NHÀ CHÚA SDD:
 
     1./ Phụng vụ cho Việt cộng dưới cán dù của HĐGM (chính sách ‘Nối vòng tay lớn’):
     · Thay thế tất cả những linh mục chống cộng ở hải ngoại đang giữ các chức vụ quan trọng hay đang nắm giữ các giáo xứ của người Việt tỵ nạn.
     · Dùng “chúa-thánh-thần” cùng “luật hội thánh” để “ma mị” quần chúng và chặn họng những giáo dân Việt hải ngoại chống Việt cộng.
 
     · Các đồng chí tu sĩ cán bộ “Cong ráo” (vì các đồng chí không ngay thẳng, chuyên nói láo và ưa “lắp đít” trẻ con) Phối hợp với các đồng chí tu sĩ cán bộ “Phạt giáo” (Phạt có nghiã là ‘chém’ vì các đồng chí chọc … ‘gậy bánh xe’ này chuyên nghiệp ‘cắt túi’ và ‘chém cổ’ các phật tử thuần thành để lấy tiền gởi về cho đảng và nuôi vợ con ở VN đồng thời có nhiệm vụ làm ô danh các nhà tu Phật giáo chân chính theo lệnh của VC) “thằng tung, thằng hứng”, thằng bênh Trí Quang, thằng phò Nhu, Diệm  để: gây ra những trận bút chiến giữa các tôn giáo trên các diễn đàn, trong các cộng đồng làm chia trí và nản lòng chống VC và Tàu cộng ở người Việt tỵ nạn hải ngoại.
 
     · Giúp VC và HĐGMVN “vắt sữa” đàn bò hải ngoại (quên đồng bào hải ngoại) bằng cách kêu gọi giáo dân về VN hành hương, đóng tiền để trùng tu các nhà thờ khắp nơi trong nước.
     · Vận động phát triển Văn hóa Việt nơi hải ngoại sau đó “xuất cảng” ‘Văn hoá Việt … cộng’ ra nước ngoài để tẩy não thế hệ trẻ Việt tự-do, khiến họ không biết phân biệt sự đúng sai giữa quốc và cộng.
 
     · Lợi dụng chương trình phát triển văn hóa Việt đưa các ‘cán bộ giảng dạy văn hóa Việt-cộng XẠO HOÀI CHƯA HẾT ra ngoại quốc để làm công tác “tư tưởng” trong các trường công lập, thư viện của Mỹ.
     · Lợi dụng kẽ hở của luật di trú hoa kỳ đưa hang loạt các tu sĩ cán bộ SDD, các nữ tu sĩ cán bộ nằm vùng từ các dòng tu ở Việt nam vào Mỹ để làm công tác giảng dạy trong các giáo xứ Việt tỵ nạn.
 
     · Cô lập giáo dân hải ngoại trước những biến động của dân tộc ở trong nước.
     · Cắt đứt tiếng nói của thế hệ trẻ người Việt tự do trên diễn đàn quốc tế: song song với việc Việt cộng đang cho “xuất cảng” các tệ trạng đĩ, du đảng, buôn lậu, trồng “cỏ”, ăn cắp, ăn cướp, giết người … khiến chính quyền và dân bản xứ có ác cảm với người Việt tị nạn trên nước họ. (VC đã làm các điều này ở đông Âu, thành công)
     · Cắt đứt niềm hy vọng của giới trẻ Việt đang đấu tranh trong nước về những sự hỗ trợ bên ngoài của cộng đồng Việt tỵ nạn thế giới.
 
      2./ Phụng vụ cho giáo hội “Mẹ” Vatican (trong việc ‘nối vòng tay bé’ giữa Vatican và chính quyền VC):
     · Giúp Vatican củng cố niềm tin với VC để Vatican được VC cho phép vào Việt nam hoạt động trở lại.
     · Giúp Vatican có cơ hội mượn tiền VC để “xử lý” cơn khủng khoảng tài chánh vừa qua ở đền Thánh.
     · Giúp VC có chỗ để “giặt rửa” và hợp thức hóa những đồng dollars do những sự buôn bán bất-chính, hay tiền ăn cắp của những tổ chức nhân đạo thế giới, cũng như những đồng bạc bóc lột của người dân Việt nam.
 
     · Cung cấp hàng loạt những linh mục cán bộ Việt nam cuồng tín cho Vatican để điền vào chỗ trống ở những giáo phận trên thế giới đang thiếu linh mục Âu Mỹ trông coi.
 
     SỰ TRỢ GIÚP GIÁN TIẾP TU HỘI NHÀ CHÚA SDD CỦA VATICAN
 
Để các linh mục trẻ Việt nam, những người trưởng thành và được giáo dục trong môi trường tự do ở hải ngoại,(Tu “triều” hay tu dòng tu ở các nước tự do bản xứ) do đối nghịch về tư tưởng QUỐC-CỘNG không gây trở ngại trong việc dòng SDD phát triển và chiếm lĩnh, chi phối các giáo xứ người Việt tỵ nạn hải ngoại; Vatican gián tiếp giúp SDD bằng cách phối trí, đưa các linh mục này, hoặc những Linh mục có tư tưởng quốc gia về những giáo xứ của người bản xứ Âu Mỹ, tách  họ rời khỏi các cộng đồng người Việt ở đây.
 
      Đây cũng là chính sách “một công hai việc” của Vatican dùng để đối phó với tình trạng ngày càng thiếu hụt tu sĩ bản xứ, thiếu người cai quản các bất động sản, các giáo xứ Công giáo ở Âu-Mỹ, cũng như trên thế giới của Vatican.
 
     Hiện nay, Vatican đang phải đối đầu với những vấn đề nghiêm trọng ở Âu châu: Sau tám trăm năm chiếm hữu, số giáo đường quá nhiều phải bỏ hoang trong khi giáo dân Âu Mỹ giảm mạnh; Dân Âu Mỹ ngày càng ít người đi tu bởi trình độ dân trí cao, cộng thêm nạn ấu âm của các giám mục, linh mục vô đạo đức và bệnh bao che, dối gạt, độc tài của hệ thống Công giáo Vatican ngày càng rõ nét trước công luận thế giới. Để tồn tại, Vatican đang muốn xây dựng một lớp Linh mục trẻ Á châu cuồng tín, nói lưu loát tiếng bản xứ (sinh ngữ Anh-Pháp) để điền vào những chỗ thiếu hụt đó: Các linh mục Việt sinh ra ở ngoại quốc, thế hệ thứ hai của VNCH là những đối tượng tốt nhất, thích-ứng cho nhu cầu cấp-bách và cần thiết này của giáo hội.
 
          TẠM KẾT:
 
     Tổ “tam-tam”: Liên đoàn Công giáo Việt nam, Việts Catholic, tu đoàn Nhà Chúa SDD với các việc làm phối hợp trong bốn mươi năm liên tục ở nước ngoài và những việc làm của HĐGMVN ở trong nước là bằng chứng của chính sách “NỘI ỨNG, NGOẠI HỢP” đủ để chứng minh cho sự cấu kết và hợp tác chặt chẽ giữa Vatican và chính quyền Việt cộng tứ trước đến nay.
 
     Hiện nay, tổ hợp V&V (Vatican & Việt cộng) và đám Phật giáo quốc doanh đang hợp tác để ‘tung’ ra các đòn chính trị, tạo các cuộc tranh luận vô ích giữa hai tôn giáo lớn của người Việt ở ngoài nước để đánh lạc hướng chú ý của họ về những việc đang xảy ra trong nước giữa Việt cộng và người dân, giữa Trung cộng và Việt cộng.
 
     Hãy để ý và tìm hiểu về Tu đoàn Nhà Chúa SDD để thấy lịch sử tu đoàn Nhà chúa SDD đầy khuất tất, che giấu; Hãy ngược dòng lịch sử Việt và liên hệ với giáo sử Công giáo và SDD để biết sự thật về Tu đoàn Nhà chúa SDD và âm mưu của tổ chức đứng sau, Để biết họ là ai.
 
     Lẽ đương nhiên, những chuyện như SDD có thể xảy ra ở cộng đồng giáo dân, thì tại sao trong cộng đồng Phật tử và các tôn giáo khác không thể xảy ra chuyện tương tự??
 
     Xin nhớ: Chính trị muôn mặt, xuất hiện mọi nơi không chừa Tôn giáo.Tôn giáo không cần ai bảo vệ, nó tự sinh tự diệt; Điều người Việt cần bảo vệ chính là dân tộc và tổ quốc Việt nam./-

Võ Văn Sáu

Khai Dân TríVõ Văn Sáu

2014/04/05

BẺ GÃY CÁC LUẬN CỨ CỦA THIÊN CHÚA GIÁO VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA CHÚA TRỜI

BẺ GÃY CÁC LUẬN CỨ CỦA THIÊN CHÚA GIÁO
VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA CHÚA TRỜI

A.L. De Silva
(Trích dịch từ tác phẩm Beyond Belief
A Buddhist Critique of Fundamentalist Christianity)

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhRE6XXBaPJM-eVimBZkIgDIgu4nLJtuwhKLWeScFy4rwDVvQMuOdUO776RkBlGV1nGfF2xvULeMCgHMR_4pJ-aKgjYS4s2R0IlpFYx9UUM__bS5a3kmb46mJaHZUBRvvyN_BB0hCFac1X6/s1600/Beyond+Belief.jpg

Tác phẩm Beyond Belief của tác giả A.L. de Silva  trước hết xuất hiện dưới dạng in ấn bằng giấy (Three Gems Publications, Australia, 1994), sau đó, khoảng cuối thập niên 90’, xuất phát từ Tích Lan (Sri Lanka), toàn bộ cuốn sách dưới dạng điện tử với một vài thay đổi nhỏ và hình bìa mới đã được phổ biến rộng rãi trên Internet. Về tông tích của tác giả A.L. de Silva, chúng ta không biết gì nhiều ngoài gốc dân của ông là người Úc, và đã từng là một Giáo sĩ Thiên Chúa giáo trong nhiều năm. Sau đó, chúng ta được biết thêm là ông đã nghiên cứu Phật học và trở thành một Tỳ kheo.

Tác giả viết cuốn nầy để trang bị cho các Phật tử một số luận cứ hầu trả lời cho những nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo trong các chiến dịch cải đạo Phật tử tại Á châu. Dưới đây là Chương 2 của cuốn sách, được Trí Tánh dịch ra tiếng Việt.


Các tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng một Chúa Trời thông thái nhân từ đã tạo ra và cai quản vũ trụ. Họ đã dùng nhiều luận cứ để chứng minh cho khẳng định này. Chúng ta sẽ nghiên cứu từng luận cứ một và phản bác các điều đó từ góc độ Phật giáo.

Thẩm quyền của cuốn Kinh Thánh

Khi được hỏi làm sao để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời, các tín đồ Thiên Chúa giáo thường mở Kinh Thánh ra và bảo rằng "Kinh Thánh bảo Chúa Trời hiện hữu, thì Ngài phải hiện hữu thôi.”  Vấn đề là nếu chúng ta hỏi một người Ấn Độ giáo, một  người Hồi giáo, người đạo Sikh hay Do Thái giáo cùng một câu hỏi đó, thì tín đồ các tôn giáo nầy lại cũng sẽ chỉ vào các Thánh thư tương tự của họ như là bằng chứng về sự hiện hữu của Thương đế của họ. Tại sao chúng ta tin vào Kinh Thánh Thiên Chúa giáo mà không tin vào Thánh thư của những tôn giáo khác. Thực ra, chúng ta sẽ chứng minh sau này với chứng cớ mạnh mẽ rằng Kinh Thánh là một tài liệu không đáng có độ tin cậy cao.

Kinh Coran Hồi giáo, Kinh Thánh Thiên Chúa giáo, Kinh Vệ Đà Ấn giáo
Tại sao chúng ta tin vào Kinh Thánh Thiên Chúa giáo mà không tin vào Thánh thư của những tôn giáo khác ?


Sự hiện hữu của Vũ trụ

Trong các nỗ lực của họ để chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời, tín đồ Thiên Chúa giáo đôi lúc sẽ nói rằng “Vũ trụ đã không thể tự nhiên mà có được, phải do ai đó đã tạo ra, và vậy thì phải có một Chúa Trời đấng tạo hoá.” Luận cứ này có một điều thiếu sót rất lớn. Khi trời bắt đầu mưa, các bạn sẽ không hỏi “Ai đang làm ra mưa?” bởi vì chúng ta biết rằng mưa không do ai gây ra cả mà là do cái gì khác làm ra, “cái” đó là các hiện tượng thiên nhiên khác như nhiệt năng, sự bốc hơi của nước, sự đóng băng của chất lỏng v.v. Khi chúng ta thấy các viên sỏi trơn nhẵn trong một giòng sông, chúng ta sẽ không hỏi “Ai đã đánh bóng các viên sỏi đó?” vì chúng ta biết rằng bề mặt trơn tru của các viên sỏi đó không do một ai gây ra cả mà do một cái gì khác – là các nguyên nhân thiên nhiên như tác động bào mòn của nước và cát.

Tất cả các điều này đều có một hay nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đó không nhất thiết phải là một thực thể “Ai”. Với vũ trụ cũng thế - nó hiện hữu không phải do một Chúa Trời mà do các hiện tượng thiên nhiên như sự phân thân của hạt nhân, trọng lực, lực quán tính, v.v. Tuy nhiên, ngay cả nếu chúng ta tin rằng một thực thể “Ai” thiêng liêng là cần thiết để giải thích vũ trụ đã hiện hữu như thế nào, thì chứng cớ nào cho biết thực thể đó là Chúa Trời của Thiên Chúa giáo?  Có thể vũ trụ được tạo ra do Thượng đế của Ấn Độ giáo, Thương đế của Hồi giáo hay các vị thần linh được những tôn giáo bộ lạc tôn thờ. Nói cho rốt ráo, hầu hết các tôn giáo, không chỉ riêng Thiên Chúa giáo, đều khẳng định rằng Thượng đế hay thần linh của họ đã sáng tạo ra vũ trụ.

Luận cứ về khả năng Thiết kế

Để trả  lời những phản bác trên, tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ cứ cãi rằng vũ trụ không thể hiện hữu khơi khơi như vậy mà sự hiện hữu của nó là một thiết kế hoàn hảo. Họ có thể nói rằng chính một trật tự và một sự quân bằng hoàn hảo như thế đã chứng tỏ rằng vũ trụ phải được thiết kế bằng một trí thông minh cao hơn, và sự thông minh cao hơn đó là Chúa Trời. Nhưng như trước, luận cứ này lại có một số vấn đề.

Trước hết, làm sao tín đồ Thiên Chúa giáo biết rằng Chúa Trời của họ là người ở đằng sau sự sáng tạo đó? Có thể là các thần linh của những tôn giáo “phi-Thiên Chúa” đã thiết kế và sáng tạo ra vũ trụ thì sao.

Thứ hai, làm sao tín đồ Thiên Chúa giáo biết rằng chỉ mỗi Chúa Trời là thiết kế ra mọi thứ? Thực ra, vì vũ trụ quá phức tạp nên chúng ta nghi rằng có thể phải cần sự thông minh của nhiều, có thể hàng tá, thần linh để thiết kế và tạo dựng ra vũ trụ. Do đó, điều mà luận cứ về khả năng thiết kế chứng tỏ được là phải cần đến nhiều thần chứ không phải chỉ có một Thần như Thiên Chúa giáo khẳng định. 

Hình trái: Thế giới CỰC ĐẠI (Vũ trụ “quan sát được”: bán kính khoảng 46.600.000.000 năm ánh sáng, và chứa đựng khoảng 10.000.000.000.000.000.000.000.000 ngôi sao)
Hình phải: Thế giới CỰC TIỂU (Có vào khoảng 75.000.000.000.000 phân tử trong cơ thể một người trưởng thành. Phân tử nhỏ nhất là Diatomic Hydrogen với “đường kính” là 0,00074 nanometer)
Theo Kinh Thánh, trong một ngày, có một ông Chúa đã chế tạo ra hai thế giới cực đại và cực tiểu nầy. Cũng theo Kinh Thánh, từ ngày đó cho đến nay đã được khoảng 6.000 năm, ông Chúa đã theo dõi, kiểm soát và quản lý đời sống và vận hành của từng ngôi sao, từng phân tử trong hai thế giới đó… Thế mà cũng có người tin !


Kế tiếp, chúng ta sẽ phải hỏi rằng liệu vũ trụ có được thiết kế một cách hoàn hảo không? 

Chúng ta phải hỏi điều này vì nếu Chúa Trời hoàn hảo đã thiết kế và sáng tạo ra vũ trụ, thì vũ trụ ấy tất cũng phải hoàn hảo. Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn các hiện tượng vô tri giác để xem liệu chúng có được thiết kế hoàn hảo không. Mưa cho chúng ta giọt nước trong lành để uống nhưng đôi lúc vì mưa quá nhiều nên con người bị chết đuối chết chìm, bị mất nhà cửa và mất cả phương kế sinh nhai của họ trong lũ lụt. Lại có đôi lúc chẳng mưa tí nào cả và hàng triệu người đã bị chết vì hạn hán và đói kém. Đấy là thiết kế hoàn hảo sao? Núi non cho chúng ta niềm vui khi thấy chúng vươn lên bầu trời cao. Nhưng những vụ lở đất và núi lửa phun trào từ hàng thế kỷ nay đã gây ra tàn phá và chết chóc.  Đấy là thiết kế hoàn hảo sao? Những cơn gió nhẹ mơn man chúng ta nhưng cũng có những cơn giông bão liên tục gây ra chết chóc và tàn phá. Đấy là thiết kế hoàn hảo sao?  Những điều đó và các thiên tai khác chứng tỏ rằng các hiện tượng vô tri giác nầy không biểu hiện ra được một thiết kế hoàn hảo và, vì thế, chúng đã không phải do một Chúa Trời hoàn hảo sáng tạo ra.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn các hiện tượng có tri giác để xem liệu chúng có biểu lộ sự thiết kế hoàn hảo không. Nhìn một cách hời hợt, thiên nhiên có vẻ xinh đẹp và hoà hợp; thiên nhiên cung cấp cho mọi tạo vật và mỗi tạo vật đều có một nhiệm vụ riêng để chu toàn. Tuy nhiên, như bất cứ một nhà sinh vật học nào cũng sẽ xác nhận, rằng thiên nhiên thì cũng cực kỳ tàn nhẫn. Để sống sót, mỗi sinh vật đều phải ăn các sinh vật khác và tranh đấu để tránh bị các sinh vật khác ăn mình. Trong thiên nhiên, chẳng có thì giờ để thương xót, yêu thương hay nhân từ. Nếu có một Chúa Trời lòng lành đã thiết kế ra mọi thứ, thì tại sao vị đó lại tạo ra một thiết kế với hậu quả tàn nhẫn như thế? Giới động vật chẳng những không hoàn chỉnh trong ý nghĩa đạo đức, mà cũng không hoàn chỉnh ngay chính trong quá trình tạo dựng ra giới động vật. Mỗi năm, có hàng triệu trẻ sơ sinh bị sinh ra trong điều kiện thể chất và tinh thần khiếm khuyết, chết non hay chết ngay sau khi vừa mới sinh ra. Tại sao một tạo hoá hoàn hảo và lòng lành như Chúa Trời lại thiết kế các điều kinh khủng như thế?

Vậy thì, nếu có một thiết kế trong vũ trụ, đa phần thiết kế đó thì khiếm khuyết và tàn bạo. Điều này có vẻ chỉ ra rằng vũ trụ đã không được sáng tạo bởi một Chúa Trời lòng lành và hoàn hảo.

Luận cứ về Nguyên nhân Đầu tiên

Tín đồ Thiên Chúa giáo đôi lúc sẽ nói rằng mọi thứ trên đời đều có một nguyên nhân, và từ đó, cứ truy tầm lên mãi sẽ phải có một nguyên nhân đầu tiên, và Chúa Trời của họ chính là nguyên nhân đầu tiên đó. Luận cứ xưa cũ này tự nó đã phản bác lại chính nó, vì nếu mọi thứ đều có nguyên nhân đầu tiên, thì nguyên nhân đầu tiên đó cũng phải có một nguyên nhân chứ.

Có một vấn nạn khác với luận cứ nguyên nhân đầu tiên nầy. Chẳng  có lý do hợp lý nào để cho rằng mọi thứ đều chỉ có một nguyên nhân đầu tiên độc nhất. Có thể có sáu, có mười, hay có ba trăm nguyên nhân xảy ra cùng một lúc để tạo ra mọi thứ.

Luận cứ về các Phép lạ mầu nhiệm

Tín đồ Thiên Chúa giáo khẳng định rằng các phép lạ đôi lúc được thực hiện nhân danh Chúa Trời, và phép lạ sau đó đã xảy ra, điều nầy chứng tỏ rằng Chúa Trời quả thật hiện hữu. Đây là một luận cứ hấp dẫn cho đến khi ta nhìn kỹ hơn.

Trong lúc tín đồ Thiên Chúa giáo vội vàng khẳng định rằng nhờ những lời cầu nguyện của họ mà kẻ mù có thể nhìn thấy, người điếc có thể lắng nghe và người bị tay chân co quắp được nắn lại thẳng thắn, thì họ lại rất chậm chạp trong việc đưa ra bằng chứng để hổ trợ cho các khẳng định của họ. Thật ra, vì có một số tín đồ Thiên Chúa giáo quá quan tâm đến chuyện chứng minh rằng các phép lạ xảy ra tại các buổi lễ cầu nguyện của họ, nên sự thật thường bị lạc mất trong một giòng thác các khẳng định bừa bãi, các khoác lác quá độ, và thậm chí đôi lúc là những dối trá có hậu ý.

Trái: Hốc đá tại Massabielle, ở Lourdes (Pháp), nơi cô bé 14 tuổi Bernadette Soubirous khẳng định đã thấy Bà Maria, mẹ của Chúa Giêsu, hiện ra và sau đó bay lên trời nhiều lần vào năm 1858. Bốn năm sau, Vatican chính thức xác nhận phép lạ nầy … có thực. Và từ đó, hốc đá nầy trở thành nơi hành hương để chửa bệnh của tín đồ Công giáo.
Phải: Cũng như các Mục sư Tin Lành tại Mỹ, các đạo sĩ Bà La Môn ở Ấn Độ cũng có “khả năng chửa bệnh” thông qua quyền năng của Thần linh - Trong hình, Thần Goud của Ấn Độ giáo nhập vào một vị đạo sĩ để làm phép lạ như chửa bệnh suyển cho một bệnh nhân tại thành phố Hyderabad, Ấn Độ.

Sự thật là những việc khác thường và khó giải thích đôi lúc đã xảy ra trong các hoạt động tín ngưỡng – nhưng không chỉ xảy ra cho tín đồ Thiên Chúa giáo mà thôi. Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Lão giáo, v.v. tất cả đều khẳng định rằng Thượng đế hay các thần linh của họ đôi lúc cũng thực hiện các phép lạ. Chắc chắn Thiên Chúa giáo không có độc quyền về các phép lạ. Do đó, nếu các phép lạ được thực hiện nhân danh Chúa Trời để chứng tỏ rằng Chúa Trời của Thiên Chúa giáo có thật, thì các phép lạ được thực hiện nhân danh nhiều Thượng đế khác cũng phải chứng tỏ điều tương tự, nghĩa là Thượng đế của các tôn giáo khác cũng có thật. 

Tín đồ Thiên Chúa giáo có thể cố vượt qua phản bác này bằng cách khẳng định rằng khi các phép lạ xảy ra ở các tôn giáo khác thì các phép lạ nầy được thực hiện do quyền năng của Ma Quỷ. Có lẽ phương thức tốt nhất để chống lại luận cứ này là trích dẫn ngay chính Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo. Khi Giê-su chữa lành người ốm, những kẻ thù của Ngài buộc tội Ngài làm việc này thông qua quyền năng của Ma Quỷ. Ngài trả lời rằng chữa lành người ốm dẫn đến việc thiện và nếu Ma Quỷ lẩn lút quanh đó làm việc thiện thì nó sẽ bị tự hoại (Mk, 3:22-26). Như thế, ta cũng có thể nói tương tự như vậy đối với các phép lạ do Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, đạo Sikhs thực hiện. Nếu các phép lạ tạo ra tốt lành, làm sao chúng có thể là tác phẩm của Ma Quỷ được?

Luận cứ về sự Cần thiết phải có Chúa Trời

Tín đồ Thiên Chúa giáo  thưòng khẳng định rằng chỉ bằng cách tin tưởng vào ý muốn của Chúa Trời thì con người mới có sức mạnh để đương đầu với các vấn đề của cuộc sống, và vì thế niềm tin vào Chúa Trời là tất yếu cần thiết. Khẳng định này hình như được hỗ trợ bằng nhiều cuốn sách do các tín đồ Thiên Chúa giáo viết ra (mà họ gọi là  “chứng nhân”) thường  vốn đã cam chịu và vượt qua các khủng hoảng khác nhau thông qua quyền năng của Chúa Trời. Một số sách này tạo hứng khởi cao độ trong lúc đọc, nhờ vậy mà sự khẳng định rằng con người chỉ có thể đương đầu với các vấn đề bằng sự giúp sức của  Chúa Trời có vẻ thuyết phục hơn. Cho đến khi chúng ta nhìn sâu hơn một tí.

Nếu khẳng định này là thật, chúng ta sẽ thấy rằng hầu hết những người phi-Thiên Chúa trên thế giới sẽ phải kéo dài một cuộc sống trong đau khổ, bối rối và vô vọng, trong lúc đó thì đa số tín đồ Thiên Chúa giáo, thông qua niềm tin với Đức Chúa Trời của họ, sẽ có thể luôn luôn đương đầu được với các vấn đề của họ và chẳng bao giờ cần tìm các cố vấn hay các chuyên gia tâm thần để giúp đỡ gì cả. Tuy nhiên, rõ ràng rằng những người của các tôn giáo phi-Thiên Chúa, và thậm chí những người không theo tôn giáo nào, cũng đủ khả năng đương đầu với các khủng hoảng của cuộc sống như tín đồ Thiên Chúa giáo, thậm chí có khi còn giỏi hơn nữa. Cũng đôi khi có người sùng đạo Thiên Chúa mà lại đánh mất niềm tin nơi Chúa sau khi trực diện với các vấn đề cá nhân nghiêm trọng. Do đó, khẳng định rằng niềm tin nơi Chúa là cần thiết để đương đầu và vượt qua các vấn nạn của cuộc sống là vô căn cứ.

Luận cứ “Thử và Phản Chứng”

Khi tín đồ Thiên Chúa giáo nhận ra rằng họ không thể chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời với các chứng cớ và luận lý đáng ngờ ở trên nữa, họ có thể chuyển chiến thuật và bảo “Có thể tôi không thể chứng minh được rằng Chúa Trời của chúng tôi hiện hữu, nhưng các người cũng không thể phản chứng được rằng Chúa của chúng tôi không có thật.” Tất nhiên phản biện nầy của họ hoàn toàn có lý. Bạn không thể chứng minh được Chúa Trời của Thiên Chúa giáo không hiện hữu – thì cũng giống như bạn không thể chứng minh được Thượng đế của Lão giáo, Ấn Độ giáo và hàng tá các tôn giáo khác cũng không hiện hữu vậy. Nói cách khác, mặc cho mọi ngoa ngữ, mặc các khẳng định quá mức và mặc các tuyên bố chắc nịch, chứng cớ về sự hiện hữu của Chúa Trời Thiên Chúa giáo thì cũng chẳng nhiều gì hơn các chứng cớ về sự hiện hữu thần linh mà các tôn giáo khác thờ phụng.

Lời Chứng 

Sau khi mọi luận cứ đều thất bại, cuối cùng người tín đồ Thiên Chúa giáo có thể sẽ cố thuyết phục chúng ta rằng Chúa Trời hiện hữu bằng cách đánh vào mối xúc động của người đối thoại. Một tín đồ như thế sẽ nói, và có thể nói một cách rất thành thực, rằng “Tôi thường không có hạnh phúc và sống bất mãn, nhưng sau khi hiến mình cho Chúa Trời thì tôi sung sướng và bình an với chính mình” Các lời chứng đó có thể làm ta cảm động sâu xa, nhưng họ chứng minh được cái gì? Có hàng triệu người cũng sống hạnh phúc và có ý nghĩa như vậy sau khi họ theo Phật giáo, Ấn Độ giáo, hay Hồi giáo. Tương tự như thế, sự thật là có nhiều người mà cuộc sống đã chẳng thay đổi gì tốt hơn sau khi họ trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo – đôi lúc các nhược điểm xưa và các vấn nạn cũ trong cuộc sống vẫn còn đó. Thế thì luận cứ này, cũng như tất cả mọi luận cứ khác, chẳng chứng minh được sự hiện hữu của Chúa Trời của Thiên Chúa giáo.

A.L. De Silva

Khai Dân TríA.L. De Silva