Showing posts with label Định Nguyên. Show all posts
Showing posts with label Định Nguyên. Show all posts

2015/10/27

TƯỢNG ĐÀI DƯƠNG VĂN MINH: ĐÒN CHÍNH TRỊ BÁ ĐẠO CỦA CSVN

TƯỢNG ĐÀI DƯƠNG VĂN MINH
ĐÒN CHÍNH TRỊ BÁ ĐẠO CỦA CSVN
 
Định Nguyên

Tin tức cho biết đầu tháng 11 tới (2015) chính quyền CSVN sẽ khánh thành tượng đài ông Dương Văn Minh (DVM).  Đọc tin nầy, hầu như ai cũng ngạc nhiên và tự hỏi, tại sao CSVN lại dựng tượng một vị tướng, Tổng thống cuối cùng của VNCH!  Có đích thực rằng ông  DVM là người của họ, đã “trèo cao, lặn sâu” trong hàng ngũ tướng lãnh miền Nam để giật sập VNCH theo kế hoạch của cộng sản Bắc Việt không?  Chuyện nầy chỉ có hai người biết, đó là CSVN và chính ông ta, không có một tài liệu nào, Việt Nam cũng như quốc tế, nói đến cả.  Ông DVM đã qua đời, không có cách nào để kiểm chứng sự nhận vơ lạ lùng của CSVN cả.  Vì thế, viết bài nầy, tôi không có mục đích (và cũng không đủ khả năng) làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ông DVM và CSVN để bào chữa cho ông ta.  Tôi chỉ muốn nêu lên vài điểm chứng tỏ đòn chính trị bá đạo của CSVN qua việc dựng tượng nầy.

CSVN có mục đích gì khi dựng tượng ông DVM?
Nên nhớ, CSVN không làm một việc gì mà không có mục đích chính trị cả.  Tình nghĩa chỉ là thứ phù phiếm đối với một tập đoàn mà sự tồn tại chỉ nhờ vào thủ đoạn như họ. Dựng tượng DVM cũng thế, họ có thủ đoạn, thủ đoạn rất thâm độc.

Hạ nhục VNCH
VNCH đã đi vào lịch sử, đã bị họ giật sập, thế mà họ vẫn chưa buông tha.  Dựng tượng ông Tổng thống VNCH/DVM mà họ gọi là “đồng chí” là một nắm bùn ném vào thể chế chính trị tại miền Nam trước năm 1975, đặc biệt là một cái tát vào mặt những quân dân cán chính VNCH tại hải ngoại đang ngày đêm sôi sục chống cộng.  Họ muốn bôi nhọ Chính Nghĩa Quốc Gia mà chúng ta đang theo đuổi.  Họ muốn hạ bệ thần tượng VNCH mà người Việt chống cộng đang ca tụng và tôn thờ.

Củng cố chế độ
Từ sau 1975, bộ mặt của của chế độ CSVN trở nên nhem nhuốc. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ còn là rác rưởi, không còn ai tin tưởng nữa, kể cả chính họ. Họ phải tìm một thế đứng, một điểm tựa khác để tồn tại.  Thế đứng đó là dân tộc và điểm tựa đó là Phật giáo.  Để biết được âm mưu của CSVN, chúng ta nên nhớ lại bối cảnh chính trị tại miền Nam Việt Nam, nhất là thời Đệ I VNCH khi có cuộc tranh đấu Phật giáo chống chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm.  Đó là một biến cố đậm nét nhất, vang dội nhất, gây chia rẽ dân tộc và tôn giáo nhất mà đến giờ nầy vẫn chưa kết thúc.  Dựng tượng Hoà Thượng Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm, CSVN muốn chiếm được sự hậu thuẩn của giới Phật tử.  Trường hợp ông DVM cũng thế.  Là một tướng lãnh Phật tử lãnh đạo cuộc cách mạng lật đổ chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 01 tháng 11 năm 1963, ông DVM rất được giới Phật tử và những thành phần chống đối Nhà Ngô ủng hộ.   Dựng tượng DVM chắc chắn CSVN muốn kéo những thành phần nầy theo mình.  Dù không theo bằng cách gia nhập đảng cộng sản nhưng ít ra người Phật tử không liều thân để chống đối chế độ như đã chống Đệ I VNCH.  Đó là mục đích chính trị của CSVN, họ chẳng tình nghĩa gì với Hoà Thượng Thích Quảng Đức cũng như ông DVM cả.

Kích động hận thù tôn giáo
Như đã nói trên, ông DVM là người Phật giáo, lại là “Phật giáo Ấn Quang”, một tổ chức chủ chốt trong việc chống chế độ Ngô Đình Diệm dẫn đến sự tiêu vong của chế độ nầy.  Biến cố nầy đã gây hiềm khích  giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo.  Lúc đầu còn tiềm tàng nhưng sau năm 1975, nhất là tại hải ngoại sự hiềm khích nầy đã lộ rõ.  Với Phật tử và những người chống chế độ Ngô Đình Diệm, ông DVM là người hùng.  Nhưng với một số đông người Thiên Chúa giáo và Đảng Cần Lao, ông DVM là một “phản tướng”.  Họ không tiếc lời mạt sát ông DVM và “Phật giáo Ấn Quang” như là một thứ “tội đồ dân tộc”.   Cho dựng tượng DVM, CSVN muốn đổ thêm dầu vào lửa, giúp nhóm bài DVM và “Phật giáo Ấn Quang” có thêm khí thế để xông lên…tố tới bến!  Cuộc chiến hiềm khích tôn giáo bắt nguồn từ một biến cố chính trị trong quá khứ cứ thế kéo dài. Dân tộc Việt Nam tiếp tục đánh nhau, tiếp tục chia rẽ..., và CSVN sẽ tiếp tục hưởng lợi, chế độ họ sẽ vững như bàn thạch.

Đó là trò chính trị bá đạo của CSVN
Tôi không có tham vọng can gián ai trong việc bày tỏ lập trường chính trị.  Tôi chỉ có một lời khuyên: Tượng đài DVM là một đòn chính trị thâm độc của CSVN.  Đề nghị bà con người Quốc Gia nên dè dặt để khỏi rơi vào bẩy sập của họ.  Như đa số, tôi không nghĩ ông DVM là người của VC, nhưng chứng minh được điều nầy không phải dễ.  Mỗi người cứ quan sát thực tế để có nhận định riêng.  Với cái nhìn của tôi, nếu ông DVM là người “nằm vùng”, đã giúp miền Bắc giật sập VNCH thì ông phải có công rất lớn đối với CSVN.  Nếu có công lớn, tại sao ông không ở lại quê hương để cùng mừng chiến thắng, cùng hưởng vinh hoa phú quý cùng các “đồng chí” của ông, việc gì ông phải ly hương tỵ nạn, sống nhờ đất khách, thác chôn quê người?  Khi VC chiếm Dinh Độc Lập, ông DVM tuyên bố: “Chúng tôi đợi các bạn để bàn giao chính quyền”.  Tên cán bộ VC xấc láo: “Các anh là kẻ chiến bại lấy tư cách gì để bàn giao”!  Điều nầy chứng tỏ ông DVM không phải là “đồng chí” của CSVN như họ đang lếu láo.  Trước sau ông DVM cũng chỉ là “hàng tướng” từ phía VNCH, không phải “chiến tướng” từ phía cộng sản.  Nếu là “chiến tướng” của cộng sản, ông DVM sẽ được đối xử khác, nhất là khi ông ta còn sống.  Tại sao khi ông DVM còn sống, CSVN không tuyên dương công trạng, không gọi ông DVM là “đồng chí” mà đợi đến lúc ông ta đã chết rồi mới “tiết lộ” rồi xây tượng đài “vinh danh”?!  Phải chăng vì không thể yêu nhau, lấy nhau được khi còn sống, CSVN phải dựng xác chết của ông DVM dậy để cưỡng  dâm một cách vô đạo?  Cưỡng dâm xác chết DVM, CSVN đồng thời cũng đã cưỡng dâm lịch sử một cách ngang ngược và lố bịch, bất chấp dòng sinh mệnh và lương tâm dân tộc.

Hành động đó không phải là trò lưu manh chính trị thì gọi là gì?

Định Nguyên
Mùa Halloween 2015

Khai Dân TríĐịnh Nguyên

2015/09/27

Trả lời 9 điều ông Định Nguyên vu khống Võ Văn Ái

Trả lời 9 điều
ông Định Nguyên vu khống
Võ Văn Ái

Ngày 23.9 vừa qua, ông Định Nguyên đưa lên mạng bài viết có tựa đề “Phật giáo Việt Nam Thống nhất – Vì ai gây dựng cho nên nỗi nầy ?”.

Mở đầu ông tự giới thiệu ông không là Phật tử, rồi ông tự thấy “Đúng ra, là người ngoại cuộc không nên can thiệp vào nội bộ của giáo hội”. Nói thế nhưng ông không tự chế và vẫn can thiệp vào chuyện không phải của ông, với lý do “trong thời gian qua tôi là một trong những người lên tiếng bảo vệ giáo hội tích cực nhất trước những phong ba bão táp, trước việc giáo hội bị chụp mũ Cộng sản, trước hiện tượng các thế lực vô minh mạ lỵ và xấc láo đối với các vị cao tăng Phật giáo”. Nên ông viết bài đưa ra “vài nhận xét về hiện tình của giáo hội”.

Với nhận định khách quan cùng tính hào hiệp thấy chuyện bất bình không tha, người đọc chờ đợi ông đóng góp để hiểu rõ thêm vấn nạn. Nhưng ông đã thất bại. Thất bại vì ông chỉ nghe và tin theo giới tay chân của Sư Giác Đẳng làm cơ sở phán đoán, mà mục tiêu ông nhắm là tố khổ triệt để kẻ “Đạo Tặc”, chữ của ông Định Nguyên, là tôi, Võ Văn Ái.

Sự sai lầm trọng đại của ông Định Nguyên là thấy có hai phe.

Chưa bao giờ và không hề có hai phe trong biến động vừa qua, thưa ông.

Biến động xẩy ra do một thành viên trong Văn phòng II VHĐ, là Sư Giác Đẳng, bất khâm tuân Đức Tăng Thống, chống lại Hiến chương của Giáo hội. Nên Giáo hội xử lý một kẻ làm bậy. Thế thôi.

Giáo hội nói đây là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đang xử lý với một thành viên đi trật lối, lập trường, quy chế của Giáo hội. Không thể gọi là “hai phe” tranh chấp nhau.

Nói cho ông Định Nguyên dễ hiểu, nó từa tựa như ngày xưa ông Định Nguyên là sĩ quan Cảnh sát ở Huế, ông phục vụ cho chính phủ VNCH. Nếu có một người, một nhóm phản loạn chống lại chính quyền, thì ông có gọi là “hai phe” tranh chấp nhau không ? Lúc ấy ông đứng vào phe nào ? Phía chính quyền lãnh đạo ông, hay phe phản loạn ?

Tôi rất tiếc không được ở Huế thời ông làm sĩ quan cảnh sát để biết cung cách ông bảo vệ dân ra sao ?

Khi có người dân bị vu cáo hãm hại, ông liền bắt giam người đó, kết án người đó theo lời vu cáo, và tống họ vào ngục ? Hay ông điều tra xem lời vu cáo kia thật hay giả, trước khi ra lệnh tống giam ?

Cách phán đoán của ông qua bài viết, cho thấy ông biết nghe, nhưng không biết suy nghĩ, không biết điều tra. Ông nghe rồi tin ngay lời đồn đãi, lời bạn bè ông nói lại, hoặc thủ hạ của Sư Giác Đẳng tại Sacramento và San Jose tỉ tê.

Ngày xưa ông nắm quyền sinh sát trong tay cảnh sát. Quyền này ông đã mất khi bước chân tới Hoa Kỳ. Chúng tôi bình đẳng với ông. Ông chẳng có quyền hay tư cách gì để kết án tôi là “Đạo Tặc”, rồi theo quán tính cảnh sát xuống lệnh “Hãy loại bỏ tên đạo tặc này càng sớm càng tốt”. Ông chẳng có tư cách gì thay luật pháp Hoa Kỳ kết án bừa bãi như thế. May mà ông không là sĩ quan Cảnh sát Mỹ, nên tôi mới còn được tự do ! Kiểu kết án bừa bãi “Đạo tặc” hay “Việt Cộng” này ngày xưa ở Huế, chắc ông đã ám hại khá nhiều người hiền lương ?!

Cung cách tố khổ qua bài ông viết chẳng khác chi cung cách hành dân của nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội ngày nay. Ông và Cộng sản Hà Nội đều vi phạm Điều 14, khoản 2 trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị của LHQ:
“Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo luật pháp”.

Ông vừa làm Cảnh sát vừa làm Quan toà tôi thấy bất tiện quá ! Hoa Kỳ là nước văn minh, dân chủ, không ai cho phép biểu diễn thứ luật rừng này.

Nay tôi nêu 9 điểm sai lầm của ông mà tôi gọi là vu khống, vì nhẹ dạ đem lời vu cáo của tha nhân làm luận chứng kết tội, bất chấp sự lương thiện thí thức :

1. Ông cho biết đã nghe đoạn ghi âm, mà nhóm sư Giác Đẳng gọi là Khẩu lệnh Đức Tăng Thống “hoàn chỉnh” (sao lại hoàn chỉnh ? cắt xén xong xuôi như ý ư ?). Băng thu ấy có đúng chăng thì cũng đã quá thời, chẳng có giá trị chi, vì Đức Tăng Thống đã chấm dứt mọi chức vụ trong GHPGVNTN của Sư Giác Đẳng bằng giáo lệnh của Viện Tăng Thống.

Nghe băng xong, chẳng cần suy nghĩ, ông trích ra một câu hợp với chủ đích mắm muối cho bài ông viết : “Lấy danh nghĩa Tăng Thống, tôi giao toàn quyền cho Hoà Thượng (Q. Chủ tịch VP II, Thích Giác Đẳng) giải quyết vấn đề này-thực hiện ý kiến của tôi…khỏi cần văn kiện gì hết”. Đây là chỗ mập mờ đánh lận con đen, mà sư Giác Đẳng muốn mọi người hiểu theo ý tôn vinh cái đại ngã của sư. Ai được nghe đoạn băng này, đều không thấy kết luận giản đơn qua câu trích nhuốm đầy tư ý. Vì Đức Tăng Thống dặn đi nói lại nhiều lần Sư Giác Đẳng phải triệu tập phiên họp toàn thể Văn Phòng II để thảo luận (trong Văn phòng II có cả Tăng Ni lẫn Cư sĩ). Giao quyền là giao cái quyền ấy, quyền triệu tập họp Văn phòng II để thảo luận, chứ không là quyền lãnh đạo Giáo hội trong và ngoài nước, như Sư Giác Đẳng ước mơ hão.

Ngài cũng dặn không nói ra ngoài sợ quần chúng hoang mang, là phong cách tiên ưu của Đức Tăng Thống. Trong cuộc phỏng vấn của Cư sĩ Ỷ Lan vừa qua Ngài cũng nhắc lại sự quan tâm của Ngài đối với Văn phòng II mà thôi. Chẳng qua lúc ấy Sư Giác Đẳng làm Quyền chủ tịch, nên Ngài giao trọng trách tổ chức bàn thảo với mọi thành viên trong Văn Phòng II có đủ hai giới Tăng Ni và Cư sĩ.

2. Ông viết rằng : “Nếu điều nầy được thực hiện, vai trò của Thầy Giác Đẵng tại hải ngoại trở nên quan trọng hơn, trong khi đó thì vai trò của ông Võ Văn Ái (VVA) sẽ lu mờ ; ông Lê Công Cầu (LCC), Tổng thư ký VP1/VHĐ sẽ “thất nghiệp”. Hai ông nầy đã “tiên hạ thủ vi cường”, hợp lực chống phá Thầy Giác Đẳng”.

Khẳng định như thế là một vu khống. Đồng thời chứng tỏ ông Định Nguyên chẳng biết gì về Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) và những người con Phật phục vụ Giáo hội. Ông ở Huế tất chứng kiến tinh thần phục vụ, hiến dâng của Phật giáo đồ trong cuộc tranh đấu 63 ?

Vì lý trưởng Đại thừa chúng tôi phục vụ Giáo hội ngày nay. Nhất là vào lúc Giáo hội bị chế độ Cộng sản khủng bố. Làm gì có chuyện “vai trò” với “thất nghiệp” ! Chỉ có sự hiến dâng tâm chí cứu Giáo hội, như người con hiếu thảo nhà nghèo lo cho gia đình. Muốn có danh lợi, chúng tôi thừa sức kiếm được ngoài đời với khả năng chúng tôi hiện có, cần chi đâm đầu vào một Giáo hội trắng tay trong một đất nước tan thương ?.

Giáo chỉ số 12 do Đức Tăng Thống ký ngày 5-3-2015 là sự khai triển mạch lạc và cụ thể mấy điều Đức Tăng Thống nói sơ bộ qua băng thu với Sư Giác Đẳng vào lúc Ngài buồn lo khi mất một cộng sự viên đạo hạnh và đắc lực — Cố Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt, Viện trưởng Viện Hoá Đạo. Sư Giác Đẳng thu băng rồi hoàn chỉnh sự cắt xén dùng cho việc đề cao cá nhân mình, chuẩn bị thực hiện mưu chước phá đổ GHPGVNTN.

Tối ngày 22-3-2015, tôi mời sư Gíac Đẳng đến bàn chuyện Phật sự trong nước tại khách sạn tôi tá túc ở Houston. Nhân dịp này, tôi trao tận tay cho Sư Giác Đẳng Giáo chỉ số 12 có sự chứng kiến của Cư sĩ Ỷ Lan. Trong văn kiện này ghi rõ tại Điều 5 và Điều 6 như sau :

Điều 5 : Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế trực thuộc Tổng vụ Truyền Thông Viện Hoá Đạo cần được duy trì và phát triển trong bất cứ hoàn cảnh nào, để GHPGVNTN không mất đi tiếng nói của mình trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Điều 6 : Phòng Liên lạc Quốc tế trực thuộc Tổng vụ Truyền Thông Viện Hoá Đạo cần được duy trì và phát triển trong bất cứ hoàn cảnh nào, để tạo sự giao tế cho Giáo hội, và tạo điều kiện thuận lợi trên trường quốc tế cho việc phát triển Giáo hội ở thời kỳ hậu Cộng sản.

Vậy thì vai trò của tôi “lu mờ” ở chỗ nào ? Nói để trả lời ông. Chứ thực tế thì tôi chẳng xem vai trò đó là gì cả. Vì sao ? Vì tôi là Phật tử, hoạt động với quý Thầy lãnh đạo trong nước từ thập niên 50 đến nay, do lý tưởng Phật đà mà hoạt động, không vì chức, không vì tiền. Từ năm 1963 đến nay đem thân đi vận động quốc tế cho Giáo hội, tôi chưa hề ăn một đồng lương nào. Tiền bạc và công sức tôi bỏ ra cho giáo hội thì có. Năm mươi hai năm đổ công, đổ sức, đổ tiền bạc như thế không ít đâu thưa ông.

Nói về chức vụ, hiện nay trong một số tổ chức quốc tế tôi có chân và có chức vụ quan trọng hơn chức trong Viện Hoá Đạo. Nễ kính Đức cố Tăng Thống Huyền Quang, người mà tôi đã cộng tác với Viện Hóa Đạo từ giữa thập niên 60, nên tôi nhận lời giúp Phật giáo khi Ngài mời tôi năm 1993 ; rồi cũng nễ kính Đức Tăng Thống Quảng Độ mà tôi còn tiếp tục tới ngày nay. Nói tóm, vì đức độ của hai Ngài, và sự xảo trá, độc tài Cộng sản mà tôi đem tâm phục vụ GHPGVNTN. Dù vậy đã ba (3) lần tôi biên thư xin các Ngài cho từ chức. Vì nhiệm vụ đối với quê hương của tôi trong cơ sở Quê Mẹ, ra đời tại Paris cuối năm 1975 quá nặng, tôi không đủ thì giờ làm hết. Còn thêm những nghĩa vụ khác với các tổ chức nhân quyên, dân chủ quốc tế. Nhưng các Ngài không cho phép, như tôi đã trình bày chi tiết này trong bài viết Tưởng niệm Cố Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt.

Những kẻ khát khao chức tước và tiền bạc, như sư Giác Đẳng là một, mới tưởng rằng ai khác cũng tham vọng giành giật cho đại ngã của họ. Kẻ nào làm được những điều tôi làm năm mươi năm qua mới hiểu được việc tôi làm.

Đứng trước Giác linh Ngài Phó Tăng Thống Thích Hộ Giác, tôi có thể nói với ngài mà chẳng thẹn với lương tâm, là Sư Giác Đẳng không lương thiện, sư đã vọng ngữ khi bảo rằng có hai Giáo chỉ 12, và rằng Giáo chỉ 12 “thật” “không có điều 5 và 6” thượng dẫn.

Sư Giác Đẳng chẳng có đường dây nào để được nhận trực tiếp các văn kiện trong nước, như Giáo chỉ số 12 là một. Ấy là do cơ cấu hành chánh Giáo hội. Từ hai mươi năm qua, tôi là người nhận tất cả văn kiện của Hội đồng Lưỡng Viện trong nước để chuyển lại cho Văn Phòng II Viện Hoá Đạo. Vì chức vụ tôi ở cấp Viện Hoá Đạo. Các thế lực phá hoại Phật giáo hay bọn Dư Luận Viên dựa vào chỗ này hư truyền rằng mọi sự do tôi “soán quyền”. Nói cho ông Định Nguyên dễ hiểu, tựa như Tổng Thống Obama xuống lệnh gì đó, Tổng thống giao cho cấp thừa hành ở văn phòng Tòa Bạch Ốc chuyển đi. Không có chuyện Tổng thống đạp xe đạp đem tới tận tay người nhận !

Một Giáo hội có truyền thống hai nghìn năm lịch sử lấy đạo hạnh làm đầu mà qua ngòi bút của ông Định Nguyên giống như chuyện một tiểu đội quân cảnh hành quân diệt địch : “Tiên hạ thủ vi cường” hợp lực chống phá Thầy Giác Đẳng” (sic). Năm năm qua, tôi bỏ công hậu thuẫn Sư Giác Đẳng và nâng uy tín cho sư dễ làm việc, thì chuyện chi “chống phá” sư ? Chúng tôi làm việc đất nước và giáo hội, đâu phải như thói đời tranh chiếu đình làng để có cái đuôi hay cái đầu con lợn ?!

3. Ông Định Nguyên như người đi trong đêm sương mù dày đặc, khi viết 16 câu “giải thích” cho Phật tử chúng tôi biết chuyện tiền mua chùa, chuyện nợ nần phải trả, chuyện Sư Giác Đẳng đưa 6 người vào Ban Quản trị họp với ba người cũ thành 9 người. Rồi kết luận kiểu thầy bói : “Với hiện trạng đó, Thầy Giác Đẳng khó mà có được sự đồng thuận của cả 9 người để lấy Phật Quang làm chùa riêng được”.

Tương lai không xa sẽ trả lời cao kiến của ông. Nay tôi đã có thể nói 6 người đưa vào chẳng có chức vụ gì trong Văn Phòng II VHĐ, tức là một việc làm bất hợp pháp, phi Hiến chương Giáo hội. Ngày 18-8, tức 14 ngày sau khi xin từ chức và được Đức Tăng Thống chấp nhận, sư Giác Đẳng vẫn phây phây triệu tập buổi họp đưa 6 người thủ hạ của sư vào, mà không mời Cư sĩ Ỷ Lan vào họp để góp ý (Ban Quản trị đăng bạ có 3 người sáng lập là Sư Giác Đẳng, Cư sĩ Ỷ Lan và ông Trần Đình Minh).

Sau đó sư ban chức tước cho 6 Kẻ Lạ tay chân của sư, mà ông Steven Điêu, chưa hề là thành viên GHPGVNTN, lên ngôi Chủ tịch Văn phòng II VHĐ GHPGVNTN ?! Một việc làm vừa sai luật pháp Hoa Kỳ, vừa vi phạm Hiến chương GHPGVNTN. Sáu thủ hạ gọi dạ bảo vâng do sư đưa vào, nằm trong tay sư như con cờ, thì có chi khó mà không đạt sự “đồng thuận” ? Họ vào để phục vụ sư kia mà. Ông Định Nguyên ngây thơ quá.

Ông không là Phật tử, cũng không là thành viên Giáo hội chúng tôi, sao lại có thể khinh suất phong thần cho một việc làm gian lận và giả trá như thế ?

4. Ông viết “Phật Quang là chùa của giáo hội nhưng người đứng tên vay nợ lại là Thầy Giác Đẳng. Bàn giao tư cách con nợ lại cho giáo hội, giáo hội có “qualify” không ?”. Một câu viết mang mâu thuẫn trong nội tại, người đời gọi là câu trên chửi câu dưới. “Phật Quang là chùa của giáo hội” rồi lại viết “Giáo hội có “qualify” không ?”.

Trả lời ngay, người vay nợ là Văn phòng II Viện Hoá Đạo, thưa ông. Bằng cớ là các ngân phiếu gửi về đóng góp hay cho vay đều đề tên người nhận là “Văn phòng II Viện Hoá Đạo”, không đề tên Giác Đẳng hay Pham Đang là tục danh của sư.

Lạ nhỉ. Giáo hội mua chùa cho Giáo hội chứ đâu mua cho sư Giác Đẳng. Chẳng qua khi mua, sư Giác Đẳng giữ chức Quyền chủ tịch Văn phòng II VHĐ, nên sư đại diện đại diện Giáo hội ký tên. Bằng khoán vẫn đề tên người mua là GHPGVNTN kia mà. Vậy thì khi hết nhiệm kỳ, người khác thay, ở đây sư xin từ chức, thì người kế nhiệm điều hành việc Giáo hội, người đó sẽ tiếp tục cáng đáng nợ nần vay mượn cho Giáo hội. Sao lại không “qualify” ? Chính Hoà thượng Huyền Việt đã công bố trên Đài Saigon Radio ở Houston rằng Hoà thượng khuyên sư Giác Đẳng bàn giao sổ sách, tài chánh, chương mục theo Quyết Định số 20 của Đức Tăng Thống, kể cả nợ nần, Hoà thượng sẽ lo kia mà. Nhưng sư Giác Đẳng từ khước. Vì sao không bàn giao ? Vì sợ sẽ lòi ra những số tiền biển thủ chăng. Ông sẽ hỏi bằng chứng biển thủ ? Nếu sư chịu bàn giao sổ sách, chương mục Văn phòng II VHĐ ở ngân hàng Chase / Houston tất sẽ biết. Hoặc khi cơ quan IRS làm Audit tất chạy trời không khỏi nắng. Sự lương thiện của Sư Giác Đẳng nằm trong động thái bàn giao theo luật pháp, theo Hiến chương, theo lương tri con người. Sao sư không nắm lấy cơ hội bày tỏ sự “lương thiện” của sư, nếu sư có.

5. Nói về Đại hội tại San Jose đầu tháng 10 này, ông Định Nguyên là người ngoại cuộc làm sao biết được quy tắc hành chánh của GHPGVNTN. Ông viết “Theo tôi tìm hiểu, Sư Bà Nguyên Thanh là người tổ chức Đại hội này”. Ông sai rồi. Sư bà có tổ chức thì cũng sai nốt, vì Hiến chương không cho Sư Bà làm chuyện này. Còn Sư Giác Đẳng hết chức quyền từ khi xin từ chức, ai cho quyền tổ chức Đại hội cho Giáo hội ?

Thông bạch Nội bộ số 2 của Viện Hoá Đạo ký ngày 28-8-15 giao trách vụ tổ chức Đại hội cho Hoà thượng Thích Huyền Việt trong cương vị Phó chủ tịch Văn phòng II VHĐ nay kiêm nhiệm chức Xử lý Thường vụ để chấn chỉnh việc ly khai của nhóm sư Giác Đẳng. Sư Bà Nguyên Thanh đã bất khâm tuân lệnh Giáo hội. Nên một Đại hội như thế bất hợp lệ, bất hợp pháp.

Mọi văn kiện triệu tập Đại hội, dù do Sư Bà Nguyên Thanh ký, nhưng tất cả xuất phát từ Email sư Giác Đẳng ở chùa Pháp Luân gửi đi, cho thấy cái trò lạy ông tôi ở bụi này.

Một vị sư viết thư xin từ chức với giọng điệu tu hành “Con xin khâm tuân Đức Tăng Thống”. Nhưng hành xử thì “Tao làm gì mặc tao”. Đó là con người thật của sư Giác Đẳng.

Ông Định Nguyên hậu thuẫn cho một cá nhân như thế sao ? Thử hỏi ngày xưa ở Huế ông Định Nguyên có “quyền” cãi lệnh của Tổng nha Cảnh sát như sư Giác Đẳng đang xử sự với Giáo hội không ?

6. Ông Định Nguyên viết : “Ông VVA là người có quyền hạn rất cao, trên cả các tăng ni trong hàng ngũ lãnh đạo giáo hội tại hải ngoại. Việc gì mà ông VVA không gật đầu, quý Thầy không dám tự quyết định”.

Viết như vậy là ông Định Nguyên vừa vu khống, vừa xúc phạm chư Tăng Ni, các vị Hoà thượng, Thượng toạ, Đại đức đấy. Ông khinh thường các ngài không đủ trí tuệ hay sao mà để cho một Cư sĩ như tôi hay bất cứ ai “chỉ đạo” ?

Ông xác định không là Phật tử, ông là người ngoài cuộc. Nên chắc chắn ông chưa bao giờ đọc Hiến chương GHPGVNTN, hay Quy chế Viện Hoá Đạo, để biết hệ thống hành chánh cùng phận vụ của từng người trong Hội đồng Lưỡng Viện và trong Văn phòng II VHĐ.

“Ông VVA là người có quyền hạn rất cao, trên cả các tăng ni trong hàng ngũ lãnh đạo giáo hội tại hải ngoại” như ông hình dung. Quyền đó là quyền gì vậy thưa ông ?.

Ngoài hai ngài Chủ tịch và Phó chủ tịch, Viện Hoá Đạo có 13 (mười ba) Tổng vụ và 2 (hai) Giám đốc Phòng, trách nhiệm trên các lĩnh vực khác nhau. Cũng thế, ngoài hai vị Chủ tịch và Phó chủ tịch, Văn phòng II Viện Hoá Đạo có 11 (mười một) Tổng vụ trách nhiệm trên các lĩnh vực khác nhau.
Tôi buồn nhất tại Lễ Phát nguyện là nhìn thấy cảnh xa hoa, trưởng giả, quên mất chuyện đau thương, khốn khó của Giáo hội trong nước, qua việc HT Trí Lãng thuê hai chiếc Limousine trắng toát và dài thòng chở Tăng Ni ra hội trường, thuê xe moto cảnh sát dẫn lộ. Trời ơi, nghĩ tới cảnh Đức Tăng Thống cô quạnh trong bốn bức tường quản chế, chư giáo phẩm đại diện tại 20 tỉnh bị khủng bố, sống trong cảnh công an bao vây, nghèo khó, Phật tử thành viên Giáo hội bị mất việc, con cái không được đến trường vì là thành viên GHPGVNTN… chưa kể khối dân đen khốn cùng, mà nay các ngài tăng sĩ có thể an tâm hí hửng ngồi trong xe bóng nhoáng chạy trên đường phố San Jose như Tổng thống Obama sao ?! Truyền thống tri túc của Trưởng tử Như Lai ở đâu ? Tôi chợt hiểu vì sao mà một số các ngài cầu mong chức tước, giành giật nhau chức tước, phỉ báng nhau vì chức tước.
Phần tôi giữ chức vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ Truyền Thông Viện Hoá Đạo kiêm nhiệm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế trực thuộc Tổng vụ Truyền thông và Phát ngôn nhân Viện Hoá Đạo GHPGVNTN. Làm sao ngoài trách nhiệm truyền thông, tôi lại có thể “có quyền hạn rất cao, trên cả các tăng ni trong hàng ngũ lãnh đạo giáo hội tại hải ngoại”như ông suy diễn. Huống chi chức vụ tôi nằm trong lĩnh vực đối ngoại. Chớ suy diễn theo kiểu hí luận của bọn Dư Luận Viên mà quên đi thực tại. Ở cấp quốc gia, chức này như Bộ trưởng Bộ Thông tin. Bộ Thông tin làm sao “soán quyền” hay “khống chế” các bộ khác trong Chính phủ ?

7. Ông bảo tôi tranh chấp với Hoà thượng Trí Lãng ngày Lễ Phát nguyện 19-1-2014 tại San Jose vì “Thầy Trí Lãng đề nghị thay đổi một mục trong chương trình. Thay vì để ông VVA trình bày nội tình của giáo hội (như đã sắp xếp), Thầy đề nghị Thầy Giác Đẳng làm việc nầy”. Nên “Sự bất đồng nầy khiến Thầy Trí Lãng thấy khó làm việc nên xin từ chức và được Tăng Thống chấp thuận ngay, không cần tìm hiểu tại sao !”.

Ông Định Nguyên lại hearsay, tam sao thất bổn rồi. Chuyện bất đồng và chuyện từ chức của HT TRí Lãng là hai việc khác nhau.

Hôm lễ Phát nguyện, hai người, tôi và sư Giác Đẳng, đều có hai đề tài thuyết trình khác nhau. Ông lại bảo đề tài thuyết trình tôi nhường cho sư Giác Đẳng là trật lất. Không đúng sự thật. Hai đề tài cho hai người do buổi họp của Văn Phòng II VHĐ quyết định tập thể. Quyền gì HT Trí Lãng phản lại quyết định tập thể ? Đó là sự vi phạm, làm việc theo cá nhân chủ nghĩa. Đề tài của tôi là công đức của hai Ngài Tăng Thống Huyền Quang và Quảng Độ trong việc bảo vệ GHPGVNTN. Chuyện này không xa lạ với tôi, bởi ở hải ngoại tôi là người duy nhất làm việc trực tiếp với Ngài Huyền Quang kể từ năm 1993, với Ngài Quảng Độ từ năm 1999, khi Ngài ra tù nhờ áp lực quốc tế.

Nhưng một ngày trước Lễ Phát nguyện, Hoà thượng Trí Lãng xin tôi đừng thuyết trình, nói rằng vì bọn Bảo Quốc Kiếm và Phạm Hoàng Vương đệ tử của Chánh Lạc viết bài đánh phá tôi, tôi xuất hiện sẽ gây ngộ nhận. Tôi liền thưa với Hoà thượng : Họ đánh phá tôi nhưng sự đánh phá ấy có đúng không ? Hoà thượng có tin lời viết của bọn Dư Luận Viên không ? Hoà thượng đáp : Dĩ nhiên là không tin rồi !

Trước cách nhìn của một vị lãnh đạo như thế, tôi nhân nhượng nói thêm : “Bạch Hoà thượng, đã thế thì ngày mai tôi không đến thuyết trình gì hết để bảo toàn thanh danh cho Hoà thượng”. Tôi nói lời này trên chuyến xe từ Sacramento về San Jose hôm 18-1-2014, có sự chứng kiến trong xe của Hoà thượng Huyền Việt và sư Giác Đẳng.

Tối trở về khách sạn tôi thấy hai Sư bà Nguyên Thanh, Tịnh Thường cùng mấy đạo hữu chờ tôi. Sư bà Nguyên Thanh khuyên lơn, bảo rằng Hoà thượng Trí Lãng đã biết Hoà thượng sai, khẩn cầu tôi cứ ra hội trường ngày mai thuyết trình. Do tăng sai, tôi nhận lời tham dự. Việc chỉ có thế, sóng dậy trong tách trà, có chi mô mà lộng ngôn ?

Việc Hoà thượng Trí Lãng xin từ chức Chủ tịch Văn phòng II VHĐ xẩy ra 5 tháng sau. Hoà thượng Trí Lãng viết đơn từ chức ngày 16-5-2014, được Ngài Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Đại lão Hoà thượng Thích Như Đạt, ra Quyết định chấp nhận ngày 21-5-2014.

Tôi buồn nhất tại Lễ Phát nguyện là nhìn thấy cảnh xa hoa, trưởng giả, quên mất chuyện đau thương, khốn khó của Giáo hội trong nước, qua việc HT Trí Lãng thuê hai chiếc Limousine trắng toát và dài thòng chở Tăng Ni ra hội trường, thuê xe moto cảnh sát dẫn lộ. Trời ơi, nghĩ tới cảnh Đức Tăng Thống cô quạnh trong bốn bức tường quản chế, chư giáo phẩm đại diện tại 20 tỉnh bị khủng bố, sống trong cảnh công an bao vây, nghèo khó, Phật tử thành viên Giáo hội bị mất việc, con cái không được đến trường vì là thành viên GHPGVNTN… chưa kể khối dân đen khốn cùng, mà nay các ngài tăng sĩ có thể an tâm hí hửng ngồi trong xe bóng nhoáng chạy trên đường phố San Jose như Tổng thống Obama sao ?! Truyền thống tri túc của Trưởng tử Như Lai ở đâu ? Tôi chợt hiểu vì sao mà một số các ngài cầu mong chức tước, giành giật nhau chức tước, phỉ báng nhau vì chức tước.

Vì sao Hoà thượng Trí Lãng từ chức ? Lý do đến từ việc tạo mãi chùa Phật Quang. Trong quá khứ đã có trường hợp dựa vào uy danh Đức Tăng Thống kêu gọi tài chánh mua chùa. Đứng ra mua là một vị Tăng. Đến khi vì lý do chính trị, vị Tăng này ly khai Giáo hội và lấy luôn ngôi chùa của Giáo hội làm của riêng mình. Cho nên Đức Tăng Thống muốn tránh tình trạng lợi dụng tập thể làm của riêng, ngài chỉ thị phải đăng bạ pháp lý Hoa Kỳ để có thể tạo mãi chùa dưới danh nghĩa GHPGVNTN. Vì khó khăn gì đó, Hoà thượng Trí Lãng họp Văn phòng II VHĐ sau lễ Phật Đản ở Houston hôm 3-5-2014 yêu cầu các thành viên Văn Phòng II chấp thuận cho Hoà thượng mua lại một nhà thờ Tin Lành để sửa làm chùa cho Giáo hội. Hoà thượng đem Chùa Thích Ca Đa Bảo ở San Jose làm bảo chứng mượn tiền ngân hàng. Hai ba hôm nữa sẽ có tin ngân hàng khứng nhận, nên phải lấy quyết định gấp nếu không sẽ mất cơ hội bằng vàng. Hoà thượng khẳng định : “Khi nào trả hết nợ mua chùa, Hoà thượng sẽ tặng chùa lại cho Giáo hội”, thì có sao đâu. Các thành viên có mặt trong buổi họp hôm đó không đồng ý, kể cả tôi, gợi lý do phải tuân hành chỉ thị Đức Tăng Thống không để cá nhân đứng tên mua chùa. Phản ứng của Hoà thượng hôm đó rất giận dữ, mặt đỏ bừng và doạ từ chức. Tôi là người phân trần với Hoà thượng trước mặt mọi người, tôi nói : “Tất cả những người có mặt hôm nay, chư Tăng Ni và Cư sĩ, ai cũng kính mến và tin cậy Hoà thượng, xin Hoà thượng hiểu cho, việc bất đồng không để Hoà thượng đứng tên mua chỉ vì khâm tuân chỉ thị Đức Tăng Thống”.
Dù muốn dù không việc làm của ông Trịnh Hội có màu sắc xã hội và chính trị, ông chưa hề là thành viên hay có chức vụ trong GHPGVNTN. Không thể cứ nói “nó là đệ tử tôi” bắt Giáo hội phải làm theo. Giáo hội ta không làm chính trị. Hơn nữa, việc cứu trợ đến từ một tôn giáo thì tôn giáo ấy phải đảm đang. Bọn nằm vùng và Dư Luận Viên luôn tạo chuyện đánh phá Giáo hội mấy năm qua, ta nên cẩn thận đừng tạo khe hở cho chúng duồng gió bẻ măng. Khi chúng biết Giáo hội đem tiền cho một tổ chức khác có màu sắc chính trị làm thay. Dù tổ chức này thiện xảo đến đâu.

Tất cả các thành viên có mặt trong buổi họp đều đồng ý Gíao hội phải tự quản trong vấn đề cứu trợ Phi. Sau này chưa kịp đi cứu trợ thì HT Trí Lãng từ chức. Nhưng Hoà thượng đã chuyển món tiền 60 nghìn Mỹ kim thu được của đồng bào Phật tử sang cho HT Huyền Việt đi cứu trợ. Kịp khi sư Giác Đẳng nhậm chức Quyền Viện trưởng, HT Huyền Việt lại chuyển 60 nghìn ấy cho sư Giác Đẳng là người xung phong đi Phi. Việc cứu trợ đem ra bàn nhiều lần trong các buổi họp. Nhưng sư Giác Đẳng vẫn không thi hành việc cứu trợ Phi theo kế hoạch Văn phòng II VHĐ vạch ra. Và món tiền này sư Giác Đẳng vẫn cất trong túi sư.
Sự giận dữ của Hoà thượng Trí Lãng tại buổi họp hôm 3-5 ở Houston biến thành sự thật. Ngày 16-5-2014, Hoà thượng viết bản Tường trình dài 11 trang nói tất cả sự “phá hoại ngăn cản” việc làm của Hoà thượng trong việc tạo mãi chùa đến từ HT Huyền Việt, TT Giác Đẳng, Sư Bà Nguyên Thanh và Đạo hữu Võ Văn Ái — toàn là những người xấu theo HT Trí Lãng viết qua bản Tường trình. Riêng tôi, còn được Hoà thượng Trí Lãng tiết lộ trong bản Tường trình là tôi “làm việc cho Liên hiệp quốc tại Châu Âu, lương gần 100 ngàn đô một năm” (sic) ! Kết luận bản Tường trình Hoà thượng Trí Lãng xin từ chức với 4 lý do : Một là, “Con không có được sự tin tưởng của quý Ngài cho rằng con thiếu chính chắn và thiếu phân minh”. Hai là, “Con không thể làm việc với những nhân sự trên (HT Huyền Việt, TT Giác Đẳng, Sư Bà Nguyên Thanh và Võ Văn Ái). Ba là,“Một Cư sĩ không thể làm cố vấn cho chư Tăng” (ý nói Cư sĩ Võ Văn Ái, do sự kiện Viện Hoá Đạo ra Thông bạch số 15 chỉ định thành lập Ban Kiến thiết để tạo mãi và sửa sang thành chùa, giao trách nhiệm cho 4 người : Trưởng ban : HT. Thích Trí Lãng — Phó trưởng ban : HT. Thích Huyền Việt — Thư ký : TT. Thích Giác Đẳng — Thủ quỹ : Sư bà Thích Nữ Nguyên Thanh — Cố vấn công trình : Cư sĩ Võ Văn Ái).Bốn là, Chủ quyền của cơ sở không được xác định rõ ràng : VĂN PHÒNG II hay GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ, vì HAI bộ phận này hoàn toàn khác nhau do đó mới có HAI Chủ Tịch”. (trích tử bàn Tường trình của HT Trí Lãng).

Đâu phải vì Võ Văn Ái như ông Định Nguyên khăng khăng khẳng định ?!

Điều cần nói thêm như một vấn nạn lâu nay. Trong một cuộc phỏng vấn truyền hình, ngài Chánh Lạc, cựu Chủ tịch Văn Phòng II VHĐ, vung tay quá trán khi khẳng định “GHPGVNTN là chuyện của các Thầy không phải chuyện của Cư sĩ”. Nay ngài tân chủ tịch Trí Lãng khẳng định một cách vi hiến khi nại lý do từ chức thứ ba khi viết : “Một Cư sĩ không thể làm cố vấn cho chư Tăng”. Lỗi của hai ngài làm việc Giáo hội mà chẳng bao giờ đọc bản Hiến chương GHPGVNTN, nên lẫn lộn giữa sinh hoạt tôn giáo với một tổ chức xã hội.

Vào chùa, vào Chánh điện, học Phật Pháp, xin quy y thì Tăng là vị Thầy chỉ đạo, Cư sĩ chỉ có tuân theo. Nhưng GHPGVNTN là một tổ chức tôn giáo có tính xã hội, Tăng và Cư sĩ khác nhau tuỳ theo trách nhiệm thông qua chức vụ, chứ không còn thuần tuý tôn giáo, học đạo, quy y. Hiến chương GHPGVNTN ra đời lần đầu năm 1964 quy định ở Điều 5, Chương ba, và qua 5 lần tu chỉnh Điều 5 ấy vẫn còn :

Điều 5 : Thành phần của GHPGVNTN gồm Tăng sĩ và Cư sĩ thuộc Bắc tông và Nam tông chấp nhận bản Hiến chương này.

Viện Hoá Đạo đầu tiên năm 1964, Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Tổng Thư ký Viện Hoá Đạo. Giả dụ thời ấy HT Trí Lãng có chân và giữ chức một Tổng vụ trong VHĐ thời ấy, thì Hoà thượng cũng nằm dưới quyền một Cư sĩ mà thôi. Chớ nên mang đầu óc quan lại đem vào tôn giáo. Trong tôn giáo như Phật giáo thì lấy đạo cao đức trọng làm đầu, chứ không lấy sự lạm quyền, nịnh trên nạt dưới làm tiêu chuẩn, thưa ngài Trí Lãng.

Ở tại nước văn minh dân chủ mấy chục năm trời mà HT Trí Lãng không biết Tổ chức LHQ là gì, thì làm sao Hoà thượng dẫn dắt cuộc đấu tranh cho nhân quyền trong nước ? LHQ là tổ chức của các thành viên quốc gia, không bao giờ trả lương cho những tổ chức Phi chính phủ (ONG) như “Uỷ ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam” của chúng tôi đến hoạt động. Câu viết của HT Trí Lãng chẳng khác chi các bài viết báo Công An cộng sản vu cáo tôi “ăn tiền” chứ chẳng vì lý tưởng nhân quyền, tự do, dân chủ gì cả. Thêm nữa, trụ sở chính của LHQ đặt tại New York, ở Hoa Kỳ chứ không là một tổ chức Châu Âu như Hoà thượng viết trong Tường trình.

Paris cách San Jose chừng 6000 miles đường máy bay. Ông Định Nguyên cách thành phố San Jose của HT Trí Lãng chỉ là số trăm chứ không số nghìn miles với ba tiếng đồng hồ lái xe, mà câu viết vu vạ của ông Định Nguyên đối với tôi xa cách sự thật đến mấy nghìn năm ánh sáng.

8. Vụ Thầy Nguyên Thảo, ông Định Nguyên viết :

“Thầy Thích Nguyên Thảo, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xã Hội VPII/VHĐ, đã quyên được $50,000.00(năm chục ngàn) để cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Phillipine. Trong một buổi họp để bàn kế hoạch cứu trợ nầy, Thầy đề nghị sẽ phối hợp với nhóm Voices của Trịnh Hội, “đạo hữu VVA” phản đối, cho rằng Trịnh Hội có liên hệ với Tin Lành và nhóm thanh niên trong nước. Thầy Nguyên Thảo nói lại : “Tôi đã làm việc với Trịnh Hội từ lâu, hơn nữa Trịnh Hội đã là đệ tử của tôi đã mấy năm nay nên tôi rất tin tưởng” nhưng vẫn không được “đạo hữu VVA” cho phép. Từ đó Thầy Nguyên Thảo không còn sinh hoạt với VPII/VHĐ nữa !”.

Ông Định Nguyên lại vo tròn bóp méo. Sự thật như thế này :

Ngay khi Phi Luật Tân bị nạn bão lụt, đầu năm 2014 Đức Tăng Thống chỉ thị phải sang Phi cứu trợ gấp. Phi Luật Tân từng cưu mang con dân nước Việt vượt biển tìm tự do sau 75. Nay Giáo hội phải đền ơn dù ít dù nhiều. Tại buổi họp Văn phòng II VHĐ do HT Trí Lãng chủ toạ, vấn đề cứu trợ đem ra thảo luận. Hoà thượng cho biết TT Nguyên Thảo xin cáng đáng việc này vì có người đệ tử là ông Trịnh Hội hứa giúp, mình chỉ mang tiền sang giao cho ông. Ông hứa lo mọi chuyện.
Việc làm cho Giáo hội nói đây là Giáo hội đang khổ nạn trong nước chứ không là “Giáo hội” Giác Đẳng – Steven Điêu. Chớ đánh đồng Giáo hội với sư Giác Đẳng. Những buổi họp viễn liên Văn phòng II VHĐ tôi đều tham dự, khi phải đi vận động ở Quốc hội Châu Âu hay LHQ tôi đều Email thông báo cho sư Giác Đẳng biết vì sao tôi vắng mặt. Những lúc có nhiều chuyện khẩn không thể vào họp, tôi nhờ chị Ỷ Lan thay tôi. Từ giữa tháng 5 đến suốt tháng 6, tôi nhập viện 4 lần, cho những căn bệnh khác nhau, hai lần giải phẫu, một lần giải phẫu tim lần thứ ba mà các bác sĩ hội chẩn người thúc đẩy ca mỗ gấp, người ngăn cản chớ mỗ vì có nguy cơ thập tử nhất sinh. Cô Viên Từ biết chuyện này, hỏi sư Giác Đẳng anh Ái đau sao thầy không điện thoại thăm. Sư Giác Đẳng trả lời điện thoại mà Gs Ái không trả lời ! Không một ông bà hay chư tôn túc nào trong Giáo hội hỏi thăm thời gian tôi nằm viện. Nói cho ông Châu hiểu tình nghĩa của các ông, chứ tôi chả trách đâu. Ông Châu hãy dẹp cái chuyện đạo đức giả “tim tôi nhói lên” đi, dẹp cái câu cao mạn cật vấn “Trách nhiệm đâu ? Lòng tôn kính Chư Tôn Túc đâu ?”. Ông nên hỏi trách nhiệm của chính ông Châu và nhóm ly khai sư Giác Đẳng ở đâu ? Lòng tôn kính của chư Tôn túc và các đạo hữu trong Văn phòng 2 và Giáo hội Hoa Kỳ ở đâu đối với Đức Tăng Thống ngày đêm vò vỏ giữa bốn bức tường quản chế, và thầy tổ đang lâm nguy trong nước ! Lòng thương mến của các đạo hữu và chư tôn đức để đâu khi người đồng sự đau ốm ? Ông Châu làm gì trước sự đàn áp Viện Hoá Đạo của Công an trong nước ? Ngăn chận không cho Tổng Thư Ký VHĐ gặp gỡ các Phái đoàn Âu Mỹ ? Hãy ráng mà “nhói tim” đi ông Mai Xuân Châu trước cảnh thầy tổ trong nước bị khủng bố, cảnh 90 triệu dân đói nghèo, không có tự do, nhân quyền.
Tôi góp ý kiến rằng, tôi biết ông Trịnh Hội, ông người dễ thương, bặc thiệp, năng nỗ. Tuy nhiên phải hiểu rằng ông có Funds tài trợ rất cao để giúp cho giới thanh niên trong nước học cách hoạt động của những tổ chức Phi chính phủ (ONG) nước ngoài. Ông đưa giới trẻ trong nước sang thủ đô Manila lấy cớ học tiếng Anh. Nhưng mục đích chính là huấn luyện họ cách hoạt động dân sự, tiếp cận với các tổ chức Phi chính phủ ở Phi và Bangkok.

Dù muốn dù không việc làm của ông Trịnh Hội có màu sắc xã hội và chính trị, ông chưa hề là thành viên hay có chức vụ trong GHPGVNTN. Không thể cứ nói “nó là đệ tử tôi” bắt Giáo hội phải làm theo. Giáo hội ta không làm chính trị. Hơn nữa, việc cứu trợ đến từ một tôn giáo thì tôn giáo ấy phải đảm đang. Bọn nằm vùng và Dư Luận Viên luôn tạo chuyện đánh phá Giáo hội mấy năm qua, ta nên cẩn thận đừng tạo khe hở cho chúng duồng gió bẻ măng. Khi chúng biết Giáo hội đem tiền cho một tổ chức khác có màu sắc chính trị làm thay. Dù tổ chức này thiện xảo đến đâu.

Tất cả các thành viên có mặt trong buổi họp đều đồng ý Gíao hội phải tự quản trong vấn đề cứu trợ Phi. Sau này chưa kịp đi cứu trợ thì HT Trí Lãng từ chức. Nhưng Hoà thượng đã chuyển món tiền 60 nghìn Mỹ kim thu được của đồng bào Phật tử sang cho HT Huyền Việt đi cứu trợ. Kịp khi sư Giác Đẳng nhậm chức Quyền Viện trưởng, HT Huyền Việt lại chuyển 60 nghìn ấy cho sư Giác Đẳng là người xung phong đi Phi. Việc cứu trợ đem ra bàn nhiều lần trong các buổi họp. Nhưng sư Giác Đẳng vẫn không thi hành việc cứu trợ Phi theo kế hoạch Văn phòng II VHĐ vạch ra. Và món tiền này sư Giác Đẳng vẫn cất trong túi sư.

Còn số tiền 50 nghìn mà ông Định Nguyên nói đó chẳng dính líu gì đến số tiền 60 nghìn của Văn phòng II. Tiền đó thầy Nguyên Thảo thu được bên Canada. Do không được Văn phòng II Viện Hoá Đạo chấp thuận đề nghị của thầy, thầy Nguyên Thảo đi cứu trợ riêng với ông Trịnh Hội.

Qua việc này ông Định Nguyên đủ thấy tinh thần thầy Nguyên Thảo ra sao đối với Gíao hội mà thầy là thành viên và có chức vụ. Cũng xin nói thầy Nguyên Thảo chưa bao giờ vào họp hằng tuần với Văn phòng II VHĐ từ khi được suy cử. Duy nhất một lần vào họp để bênh vực phương án Trịnh Hội. Có chân trong Văn phòng II VHĐ nhưng cũng có chân bên tổ chức chư Tăng Ni Về Nguồn. Xin ông Định Nguyên hãy tức khắc rút lui câu viết vu khống tôi trích ở đầu phần 8 trên đây để tránh bị đánh giá ông thiển cận.

9. Nay nói tới nguyệt san Đồng hành mà ông Định Nguyên đem ra làm luận chứng vu cáo tôi y hệt như giới thủ hạ sư Giác Đẳng. Ông lấy quyền gì kết án ? Tôi không cho ông quyền đó. Vì vậy cần nói rõ một chiến dịch vu cáo hèn hạ từ thầy đến trò sau đây.

Tại ba cuộc họp báo của sư Giác Đẳng ở Nam California (27-8), Houston (29-8), và Dallas (5-9), sư Giác Đẳng tuyên bố : “Do bất đồng ý kiến về báo Đồng Hành tại cuộc họp tháng 3 ở Dallas nên Giáo sư Ái bất mãn”.
Một người đồng tỉnh Sacramento với ông Định Nguyên là ông Mai Xuân Châu viết bài đưa lên mạng ngày 12-9 cũng viết tương tự như thế. Ông Châu viết:
“Kể từ ngày 23 tháng 04 , TT Giác Đẳng trình bày Phương án thực hiện tờ Đồng Hành không giao cho Giáo Sư mà do VPII thực hiện qua sự mời Ông Trương Sĩ Lương Chủ Bút. Tiến trình thực hiện tờ Nguyệt San có sự góp ý của Giáo Sư chỉ khác là không gởi qua Paris như Giáo Sư đề nghị trong buổi họp giữa tháng Ba. Từ ngày 23 tháng 4 năm 2015 Giáo Sư tự bãi nhiêm lời của Giáo Sư xác nhận trong Thư Trả lời Anh Thục Vũ.( Đọc câu trình bày của Giáo Sư tim tôi như nhói lên , trách nhiệm đâu ? Lòng tôn kính Chư Tôn Túc đâu ?).

Cần trả lời ngay cho ông Châu biết : Tôi nói tự bãi nhiệm là có lý do đạo đức trọng yếu. Lương tâm người Phật tử không cho phép tôi tiếp tục đồng loã với kẻ không lương thiện, mà tôi lầm lỡ tin cậy trước kia, là sư Giác Đẳng. Tôi bãi nhiệm tôi với sư Giác Đẳng. Việc Giáo hội tôi vẫn chu toàn bình thường và tích cực không bỏ lơi một ngày, chứ không như ông Mai Xuân Châu tưởng rằng việc Giáo hội thu vào động tác duy nhất là dự các buổi họp rồi về nhà tụ thủ bàng quan.

Việc giáo hội ngày nay là đứng trên tuyến đấu quốc tế, có mặt để thông tin thảm nạn Việt Nam và GHPGVNTN tại các diễn đàn lớn như LHQ, các Quốc hội, các Trung tâm quyền lực, đương đầu với truyền thông, báo chí quốc tế đang lặng im trước thảm nạn Việt Nam. Ngoài ra còn vận động, sắp xếp những phái đoàn các nước, các quốc hội, các nhân vật quốc tế, nhà báo đến vấn an Đức Tăng Thống tại Thanh Minh Thiền Viện, mà ông Châu thừa biết vì sao phải làm như thế. Việc chưa có vị Sư hay Phật tử nào làm được từ 20 năm qua, kể cả Sư Giác Đẳng. Trong khi Tiếng nói Lương tri của bộ ba Giác Đẳng – Chi Huệ - Minh Huy xoá bỏ mục chuyển tải Đài Phật giáo Việt Nam, không đăng tải các Thông cáo Báo chí của Viện Hoá Đạo, trong khi tay chân bộ hạ của sư Giác Đẳng cắt đứt mọi liên lạc với Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, để bắt loa hư truyền bôi nhọ PTTPGQT trong chủ trương dập tắt tiếng nói của GHPGVNTN như nhà nước Cộng sản mơ tưởng, thì ba bốn tháng qua, tấp nập những Phái đoàn các chính phủ Âu Mỹ, bà Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Manilowsky đến vấn an Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ và hỏi han tình hình nhân quyền, tôn giáo Việt Nam và GHPGVNTN.

Việc làm cho Giáo hội nói đây là Giáo hội đang khổ nạn trong nước chứ không là “Giáo hội” Giác Đẳng – Steven Điêu. Chớ đánh đồng Giáo hội với sư Giác Đẳng. Những buổi họp viễn liên Văn phòng II VHĐ tôi đều tham dự, khi phải đi vận động ở Quốc hội Châu Âu hay LHQ tôi đều Email thông báo cho sư Giác Đẳng biết vì sao tôi vắng mặt. Những lúc có nhiều chuyện khẩn không thể vào họp, tôi nhờ chị Ỷ Lan thay tôi. Từ giữa tháng 5 đến suốt tháng 6, tôi nhập viện 4 lần, cho những căn bệnh khác nhau, hai lần giải phẫu, một lần giải phẫu tim lần thứ ba mà các bác sĩ hội chẩn người thúc đẩy ca mỗ gấp, người ngăn cản chớ mỗ vì có nguy cơ thập tử nhất sinh. Cô Viên Từ biết chuyện này, hỏi sư Giác Đẳng anh Ái đau sao thầy không điện thoại thăm. Sư Giác Đẳng trả lời điện thoại mà Gs Ái không trả lời ! Không một ông bà hay chư tôn túc nào trong Giáo hội hỏi thăm thời gian tôi nằm viện. Nói cho ông Châu hiểu tình nghĩa của các ông, chứ tôi chả trách đâu. Ông Châu hãy dẹp cái chuyện đạo đức giả “tim tôi nhói lên” đi, dẹp cái câu cao mạn cật vấn “Trách nhiệm đâu ? Lòng tôn kính Chư Tôn Túc đâu ?”. Ông nên hỏi trách nhiệm của chính ông Châu và nhóm ly khai sư Giác Đẳng ở đâu ? Lòng tôn kính của chư Tôn túc và các đạo hữu trong Văn phòng 2 và Giáo hội Hoa Kỳ ở đâu đối với Đức Tăng Thống ngày đêm vò vỏ giữa bốn bức tường quản chế, và thầy tổ đang lâm nguy trong nước ! Lòng thương mến của các đạo hữu và chư tôn đức để đâu khi người đồng sự đau ốm ? Ông Châu làm gì trước sự đàn áp Viện Hoá Đạo của Công an trong nước ? Ngăn chận không cho Tổng Thư Ký VHĐ gặp gỡ các Phái đoàn Âu Mỹ ? Hãy ráng mà “nhói tim” đi ông Mai Xuân Châu trước cảnh thầy tổ trong nước bị khủng bố, cảnh 90 triệu dân đói nghèo, không có tự do, nhân quyền.

Ông Định Nguyên, Sư Giác Đẳng, ông Mai Xuân Châu, rằng-thì-là ba người như một qua câu viết ông Định Nguyên:
“Với Nguyệt San Đồng Hành, lúc đầu “đạo hữu VVA” ra lệnh phải chuyển tất cả bài vở qua Pháp cho ông ta coi trước khi được đăng. Khi Thầy Giác Đẳng tìm được người làm chủ nhiệm, bài vở không cần gởi cho ông VVA nữa nên đã sinh chuyện như đang xẩy ra”.

Tôi phơi bày sự thật ra từng nố sau đây để thấy ông Định Nguyên và Mai Xuân Châu biết một mà không biết mười.

Sư Giác Đẳng đã vọng ngữ tại cuộc họp báo khi bảo rằng kể từ cuộc họp tháng 3 tại Dallas về báo Đồng Hành tôi sinh ra bất mãn. Tại Dallas không hề có cuộc họp nào bàn về báo Đồng Hành. Tôi khẳng định. Ngày 22 tháng 3 tôi được mời đến Dallas dự lễ tuần thất của Cố Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Thích Như Đạt, và thuyết trình về con người của Ngài. Sau cuộc lễ, sư Giác Đẳng mời tôi và Cư sĩ Ỷ Lan ở lại chừng 20 phút để gặp gỡ các Uỷ viên Công cán bàn chuyện truyền thông. Vào buổi họp, sư hỏi tôi : Xin Gs cho biết Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế có thể giúp loan tải các tin tức Phật sự tại Hoa Kỳ không ? Tôi đáp, đây là điều tôi mong và đề nghị từ thời còn thầy Viên Lý. Ngoài việc loan tải tin tức trong nước và quốc tế, tôi sẵn lòng loan tải các Phật sự Hoa Kỳ để cho trong nước được thêm phấn khởi. Rồi tôi bàn qua chuyện kỹ thuật, và yêu cầu : Mỗi khi có Phật sự xin cho người phụ trách viết bài và chọn hình gửi sang Paris để chúng tôi làm thông cáo báo chí. Nếu địa phương nào không có người viết, thì điện thoại sang Paris kể cho chúng tôi nghe, chúng tôi sẽ giúp viết thành bài, nhưng phải gửi thêm hình để ghép vào.

Đó là chưa nói suốt thời gian vận động tài chánh mua chùa Phật Quang, ai làm công tác truyền thông hữu hiệu nếu không là Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ? Các bài Lá Thư hằng tuần của Sư Giác Đẳng ai đăng, ai phổ biến trọng vọng, nếu không là PTTPGQT ? Chúng tôi còn thực hiện một Video “GHPGVNTN Sáu tháng hoạt động” với nhiều hình ảnh trong nước không ai có, hình ảnh hoạt động tại LHQ, v.v… để đánh tan những luận điệu phá hoại của bọn Dư Luận Viên hư truyền về Giáo hội, lấy lại niềm tin Phật tử, kêu gọi tham gia đóng góp tạo mãi chùa Phật Quang. Video được in ra số nghìn để phổ biến. Những việc làm của PTTPGQT đã tác động lớn cho sự thực hiện đề án quyên góp gây quỹ mua Ngôi Chùa Chung cho Giáo hội và đồng bào Phật tử. Chưa kể từ 10 năm qua “Đài Phật giáo Việt Nam” phát thanh về Việt Nam làm phấn kích niềm tin và hy vọng cho đồng bào Phật tử trong nước.

Tôi luôn mong mỏi có giới trẻ về với Giáo hội, nên năm năm trước tôi đưa dự án Đại học Hè nhằm huấn luyện cán sự truyền thông, và cán sự đi vận động quốc tế. Ngay vấn đề Phật Pháp cũng cần thích nghi với lối giảng mới cho giới trẻ đang thấm nhuần cái học Tây phương. Làm sao cho họ thấy Đạo Phật là giải pháp sống giữa xã hội ngày nay, chứ ê a cà kệ như ngày xưa sẽ mất hiệu quả. Song các ngài Tăng sĩ không nắm vững vấn đề thế sự nên xem thường dự án này. Thực hiện chiếu lệ vì nễ tôi, chứ chẳng mặn mà gì. Sau này qua tay sư Giác Đẳng mà tôi tin tưởng sự cởi mở, hiểu biết. Nhưng rồi cũng hoài công với cung cách làm việc và viễn kiến hạn chế của sư. Không đáp ứng tinh thần đại học Đông phương như Đại học trong Rừng của thi hào Tagore bên Ấn Độ.

Vì vậy hôm họp ở Dallas, tôi nói thêm để kích động giới trẻ : Nhưng nếu tại Hoa Kỳ có ai giỏi kỹ thuật, thì cũng nên mở rộng thêm các trạm truyền thông để cùng với PTTPGQT đáp ứng nhu cầu tại Hoa Kỳ.

Không ngờ sư Giác Đảng là người linh lợi áp dụng ngay điều tôi gợi ý mở những trạm tuyền thông khắp nơi. Duy cách sư thực hiện là ly khai Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế (PTTPGQT) với mục tiêu sư giữ kín trong đầu là dẹp bỏ PTTPGQT theo chiến lược cố hữu của một số chư tăng và Phật tử muốn thủ tiêu cuộc tranh đấu giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn. Cũng là làm theo sự mơ ước bấy nay của Bộ Công an Cộng sản Việt.

Hỏi xin PTTPGQT loan tin giúp cho những sinh hoạt Phật sự tại Hoa Kỳ, nhưng làm thì ngược lại nhằm phá hoại từ cơ bản nền truyền thông Phật giáo đang đóng góp hữu hiệu và duy nhất kể từ năm 1993.

Về tới Paris, nhiều tuần lễ sau, tôi không nhận bất cứ tin tức Phật sự gì để làm thông cáo báo chí như dự liệu qua buổi họp ở Dallas có sự chứng kiến của HT Huyền Việt. Trái lại, tất cả những thủ hạ của Sư Giác Đẳng cắt đứt liên hệ với chúng tôi. Sư Giác Đẳng cũng cắt đứt không hồi âm các thư từ tôi góp ý phát triển Giáo hội. Trước đó, mỗi tuần sư gọi điện hỏi han việc Giáo hội mỗi tuần ba, bốn lần, có khi một ngày hai ba lần. Nay bỗng im bặt kể từ đầu tháng tư cho tới nay. Ông Cương lo thông tin cho sư không còn gửi tin tức radio Đường về Bến Giác cho chúng tôi. Trang nhà Tiếng Nói Lương tri cũng thế. Chẳng vậy, cái Trang “có lương tri” này còn bỏ mục chuyển vận Đài Phật giáo Việt Nam, không còn đăng tải những Thông cáo Báo chí của Viện Hoá Đạo về tình hình bị đàn áp trong nước. Là nhà văn, da mỏng, tôi hiểu ngay vấn đề.

Vậy gửi tin tức Phật sự Hoa Kỳ sang Paris cho PTTPGQT làm thông cáo báo chí là lời xin của sư Giác Đẳng qua buổi họp ở Dallas ngày 22-3, chẳng dính líu chi tới việc gửi bài đăng báo Đồng Hành mà nhóm sư Giác Đẳng huyên truyền. Tôi chẳng dính líu chi tới tờ báo này ngay từ đầu, nó là chuyện riêng của sư Giác Đẳng và nhóm sư. Sự kiện sư không thỉnh thị Viện Hoá Đạo khi cho ra một tờ báo lấy tên Gíao hội như quy định của Hiến chương và quy chế Viện Hoá Đạo đủ biết tâm địa sư như thế nào.

Tôi biết tin tờ báo ra đời nhờ tình cờ đọc trên mạng bức thư ông Minh Huy viết thông tư xin bài và xin tài trợ. Một thời gian sau tin loan này, sư Giác Đẳng mới trình bày trong một buổi họp Văn phòng II Viện Hoá Đạo. Trình bày theo lối cố hữu của sư để xin được thông qua chứ chẳng cần bàn bạc, hỏi ý kiến gì cả. Tức Đồng Hành có trước, Giáo hội biết sau. Tôi không chống, cũng chẳng phản ứng. Biết sư sai trong vụ báo chí mà sư vốn không có kinh nghiệm, tôi vẫn im lặng. Tôi vốn mang tâm ủng hộ sư Giác Đẳng, thấy chi sai chỉ viết thư gợi ý nhẹ nhàng để tránh ngộ nhận ở vào hoàn cảnh Giáo hội thiếu nhân sự có lòng dạ. Còn những chuyện bất hại, tôi để yên cho sư làm coi như khuyến khích. Chờ khi bất thành sẽ rút kinh nghiệm chung. Đó là hành xử của tôi.

Chẳng hiểu vì sao dấy lên luận điệu tôi chống báo Đồng Hành. Tôi là người làm báo ba mươi năm ròng với tạp chí Quê Mẹ ra đời tại Paris tháng 2 năm 1976 trong vai chủ nhiệm kiêm chủ bút. Làm sao tôi lại chống báo chí ?

Nếu tôi có chống chăng, là chống phương pháp thực hiện không theo lề lối của một Giáo hội có thể thống, mà theo lối tài tử “khi vui giỡn bóng khi buồn giỡn trăng”. Đại loại, một tờ báo gọi là của Văn Phòng II VHĐ thì phải đem ra thảo bàn trước ở Văn Phòng II. Có nên ra báo không ? Ra báo thì thực hiện ra sao, tài chánh đâu, với nhân sự nào ? Vân vân. Hãy nhìn vào nền báo chí Mỹ mà học tập, thì mới thấy làm báo không thể tay ngang đùa giỡn vô trách nhiệm với độc giả được. Làm chính trị sai giết một thế hệ. Làm văn hoá sai hại tới nghìn đời.

Tờ Đồng Hành được tín nữ Ngọc Hân của sư Giác Đẳng mang về trình Đức Tăng Thống. Xem xong Ngài bảo với tôi rằng Đồng Hành giống tờ quảng cáo du lịch. Cũng phải, hàng chục năm qua, sư Giác Đẳng lừng danh tổ chức các chuyến hành hương Châu Á, nên hình thức và nội dung tờ báo ảnh hưởng theo cũng là chuyện dễ hiểu ?

Buổi họp Văn phòng II VHĐ bàn về tờ báo Đồng hành đúng như ông Mai Xuân Châu nói xẩy ra ngày thứ năm 24 tháng tư. Tôi mở sổ tay ghi chép về buổi họp để kiểm soát lời ông Mai Xuân Châu. Tôi quen tính ghi đầy đủ các lời phát biểu cùng nghị trình các buổi họp. Sổ tay ghi nội dung buổi họp qua 10 trang giấy, với 46 lần người phát biểu. Tuyệt đối không thấy khoản nào bàn về việc ai phụ trách tờ báo hay bài vở gửi cho ai. Toàn bộ buổi họp bàn dài và nhiều tới việc tổ chức Đại lễ Phật Đản, lễ tuần thất cho Ngài cố Viện trưởng VHĐ, và đặc biệt việc tranh chấp nội bộ tại chùa Phật Quang giữa nhóm ông Thọ, mà sư Giác Đẳng chống, với ông Trần Đình Minh tay chân của sư. Ông Minh phân tích rất lâu về những cá nhân chống ông.

Chẳng có bàn thảo gì hết về tờ báo Đồng Hành trong buổi họp Văn phòng II VHĐ hôm 24-4. Chỉ có một phần thời gian nhỏ qua đó sư Giác Đẳng trình bày dự án của sư để xin được thông qua theo cách làm việc xưa nay của sư. Có gì bất mãn, thì sư nói thoắn lên “Các ngài để cho tôi làm việc !” rồi cúp máy điện thoại rời bỏ buổi họp mà sư là chủ toạ.

Tôi ghi được trên sổ tay ba phần tư trang trong số 10 trang họp. Sư thông báo nhờ ông Trương Sỹ Lương làm cố vấn kỹ thuật (không là Chủ bút như ông Mai Xuân Châu viết), nhờ cô Ngân trình bày / layout tờ báo, mỗi kỳ báo trả cho cô 1000 Mỹ kim. Hiện đã có 26 trang quảng cáo, mỗi trang thu được 100 Mỹ kim, chỉ cần các nơi khác như Houston, Denver,v.v… cho thêm 62 trang quảng cáo nữa là hết lo việc tài chánh xuất bản báo. Tôi nghĩ bụng làm việc tài tử như vậy báo làm sao sống quá 6 tháng ? Đặt nặng vào quảng cáo như nguồn tài chánh duy nhất, báo phát hành ở Dallas hay Houston, mà đi xin quảng cáo ở các tiểu bang xa xôi khác ai mà cho ?

Thưa ông Mai Xuân Châu, ghi lại diễn biến như trên, tôi muốn hỏi lương tâm ông để đâu khi chấp bút : “Kể từ ngày 23 tháng 04 , TT Giác Đẳng trình bày Phương án thực hiện tờ Đồng Hành không giao cho Giáo Sư mà do VPII thực hiện qua sự mời Ông Trương Sĩ Lương Chủ Bút. Tiến trình thực hiện tờ Nguyệt San có sự góp ý của Giáo Sư chỉ khác là không gởi qua Paris như Giáo Sư đề nghị trong buổi họp giữa tháng Bạ”.

Sao lại có thể cà lăm trong sự việc “Tiến trình thực hiện tờ Nguyệt San có sự góp ý của Giáo Sư chỉ khác là không gởi qua Paris như Giáo Sư đề nghị trong buổi họp giữa tháng Ba”.

Nói bậy. Buổi họp tháng 3 (đúng là 22-3 tại Dallas) như tôi kể trên, là bàn việc gửi tin tức Phật sự sang PTTPGQT nhờ làm thông cáo báo chí. Chẳng dính líu chi tới bài vở Đồng Hành. Ông là người trong cuộc mà còn bóp méo sự thật để hư truyền / disinformation, bảo làm sao ngoại nhân như ông Định Nguyên không vung vít bêu riếu ?
Dù nói là tan rã, nhân dân trong nước vẫn truyền khẩu câu đồng dao: “Một Giáo hội đã chôn nhưng chưa chết, là GHPGVNTN; một Giáo hội đã chết nhưng chưa chôn là Giáo hội Phật giáo Quốc doanh”.

Sao lại như thế ? Đây là chỗ nhiệm mầu của Tính Không / Śūnyatā trong Trung quán tông: Diệu hữu Chân không — Chân không Diệu hữu. Tuy vẫn xuất phát từ người. Ba người.

Đó là Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu, Đức cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, và Đức Đương kim Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ. Mỗi người một vị trí, một phong thái. Nhưng cả ba đều chung tính bất khuất và vô uý, chung một mục tiêu bảo vệ pháp lý lịch sử của GHPGVNTN. Tay không tấc sắt, các Ngài đã thành công.

Mấy chuyện phá hoại vặt vãnh ở cấp thấp như sư Giác Đẳng có là gì trước hào quang Giáo hội có Hai nghìn tuổi tại Việt Nam.

Đừng đem con số mà quyết định thành bại. Vấn đề là phẩm chất Phật. Có số người học Phật hàng chục năm trường, mà lại viết bài bêu riếu GHPGVNTN nay chỉ còn “Ba Ông Già sắp xuống lỗ”. Cách nhìn người, nhìn một Giáo hội Phật giáo lịch sử rất phi nhân bản, vừa khinh thị con người như bọn Vô thần, chẳng biết lẽ đạo là gì. Lại thâm độc, ác khẩu, ác tâm. Càng học Phật Pháp cách ấy qua ví von Paltalk ba hoa, trăm kiếp nữa cũng chưa biết tu là gì và hành là gì !

Phương án ra báo và thực hiện báo Đồng Hành là chuyện riêng của Sư Giác Đẳng – Chi Huệ - Minh Huy, chẳng bàn thảo với ai trong Giáo hội. Chuyện chi tôi dính vào ? Có mời tôi cũng không nhận. Tôi làm báo chuyên nghiệp qua tạp chí Quê Mẹ ở Paris ba mươi năm trời. Cái thời làm Báo Tường trong Gia Đình Phật tử, hay báo học trò Trung học qua đã lâu rồi, dại gì tôi nhúng tay vào loại báo dung dăng dung dẻ đó, thưa ông Châu.

Kết luận
Mấy lời cuối tôi muốn nói với ông Định Nguyên về nhận định chẳng mới mẽ gì của ông khi ông viết “Đến nay, Giáo hội gần như tan rã”. Ông bảo “đến nay” là rộng lượng đấy. Thực tế, Giáo hội tan rã ngay từ sau ngày 30 tháng Tư năm 75 do bàn tay sắt của Cộng sản. Bởi thế mới có vụ tự thiêu tập thể phản đối của 12 Tăng Ni tại Thiền viện Dược Sư ở Cần Thơ ngày 2 tháng 11 năm 1975. Gíao hội tan rã y như hàng triệu quân nhân, cảnh sát của VNCH rã đám.

Ngày mà Cộng sản tra tấn đến chết Ngài Thích Thiện Minh, người cha đẻ của lực lượng trẻ Phật giáo, là Gia Đình Phật tử Việt Nam, ở trại X4 đường Nguyễn Trãi Saigon ngày 7 tháng 11 năm 1978; cùng với sự bắt giam hàng giáo phẩm Viện Hoá Đạo, đặc biệt hai Ngài Huyền Quang và Quảng Độ. Rồi tháng 11 năm 1981, Đảng Cộng sản dựng lên Giáo hội Phật giáo Quốc doanh. Bên ngoài gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam để đánh lừa Phật tử, nhưng bên trong các hội nằm dưới ô dù Mặt trận Tổ quốc thì gọi là “Hội Phật giáo Việt Nam”. Kể từ đó GHPGVNTN tan rã, không còn ai, không còn nhân sự, không còn cơ sở hoạt động. Khi tập đoàn Phật giáo Nhà nước đến tiếp thu văn phòng VHĐ ở chùa Ấn Quang, họ đã đốt tất cả hồ sơ, giấy tờ của GHGVNTN trong 5 đêm ròng !

Xin hãy nghe tiếng nói của Đức Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu về việc Cộng sản đàn áp Phật giáo sau năm 1975 qua chương trình “Ký ức 40 Năm” của Đải Á châu Tự do qua Link :
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/scale-of-a-crackdown-yl-04272015154522.html
Dù nói là tan rã, nhân dân trong nước vẫn truyền khẩu câu đồng dao :“Một Giáo hội đã chôn nhưng chưa chết, là GHPGVNTN ; một Giáo hội đã chết nhưng chưa chôn là Giáo hội Phật giáo Quốc doanh”.
Sao lại như thế ? Đây là chỗ nhiệm mầu của Tính Không / Śūnyatā trong Trung quán tông : Diệu hữu Chân không — Chân không Diệu hữu. Tuy vẫn xuất phát từ người. Ba người.

Đó là Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu, Đức cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, và Đức Đương kim Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ. Mỗi người một vị trí, một phong thái. Nhưng cả ba đều chung tính bất khuất và vô uý, chung một mục tiêu bảo vệ pháp lý lịch sử của GHPGVNTN. Tay không tấc sắt, các Ngài đã thành công.

Mấy chuyện phá hoại vặt vãnh ở cấp thấp như sư Giác Đẳng có là gì trước hào quang Giáo hội có Hai nghìn tuổi tại Việt Nam.

Đừng đem con số mà quyết định thành bại. Vấn đề là phẩm chất Phật. Có số người học Phật hàng chục năm trường, mà lại viết bài bêu riếu GHPGVNTN nay chỉ còn “Ba Ông Già sắp xuống lỗ”. Cách nhìn người, nhìn một Giáo hội Phật giáo lịch sử rất phi nhân bản, vừa khinh thị con người như bọn Vô thần, chẳng biết lẽ đạo là gì. Lại thâm độc, ác khẩu, ác tâm. Càng học Phật Pháp cách ấy qua ví von Paltalk ba hoa, trăm kiếp nữa cũng chưa biết tu là gì và hành là gì !

Có tổ chức Phật giáo nào hiện nay đông bằng 40 nghìn Tăng Ni như Hội Phật giáo Nhà nước ? Nhưng chư vị này đành bó tay chẳng hành hoạt gì được cho giáo lý cứu khổ, giác ngộ của chư Phật. Thế thì đông để làm gì. Bốn mươi nghìn, hay một người, chỉ là con số. Con số chồng lên con số vẫn là con số vô tình.

Nhưng đơn vị phẩm chất người thì không. Không thể lấy máy tính mà đo lường phẩm chất hay so chuyện thành bại, rã tan. Ấy là chưa nói quan điểm Phật giáo chẳng xem thành bại, tan rã như thế nhân hốt hoảng. Quy luật muôn đời nằm trong bốn diễn trường của thành, trụ, hoại, không. Người Phật tử trầm tĩnh, tự tại trước các diễn biến vô thường của thời cuộc, để tâm giải quyết việc đời, và quản lý các tình huống nguy khốn.

Bốn mươi nghìn Tăng Ni trong Hội Phật giáo Nhà nước họ đang làm gì cho dân tộc và quần sinh, ngoài sự vung vãi chính sách mê tín dị đoan của Đảng Cộng sản ?

Trái lại, một người thôi, như cố Hoà thượng Thích Huyền Quang bị lưu đày hàng chục năm nơi Quảng Ngãi ; một người thôi, như Hoà thượng Quảng Độ hàng chục năm lưu đày nơi tỉnh Thái Bình, rồi nay bị quản chế ở Thanh Minh Thiền Viện, làm được nhiều chuyện lắm ông Định Nguyên ơi.

Ít nhất các Ngài đã không chạy trốn, không bán rẽ nhau, không thổi bùng trong nhân tính những gì hung ác, hèn hạ, khi giả vờ khoác bên ngoài tấm áo chính nghĩa tối cao, để viết lách khoe loè và kiêu mạn.

Không. Các Ngài cô thân độc ảnh nhưng vẫn ngang nhiên, tự tại, lại kiên quyết để tâm cứu đời, cứu đạo:
Qua bao chế độ lưng vươn thẳng
Trải mấy phen tù lưỡi chẳng cong
Thơ Tù – Thích Quảng Độ

Paris, ngày 27-9-2015
Võ Văn Ái

Khai Dân TríVõ Văn Ái

2015/09/09

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC, ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Bài nầy tôi viết đã trên dưới 10 năm.  Bài cũ nhưng nội dung không cũ,
vẫn là một đề tài rất thời sự hiện nay.

Kính mời quý vị đọc.
(09/2015)

HÒA HỢP HÒA GIẢI DÂN TỘC,
ƯỚC VỌNG VÀ CẠM BẨY…

Định Nguyên

Hết chiến tranh đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa người VN với nhau vẫn chưa có hòa bình. Thống nhất đất nước đã hơn ba mươi hai năm nhưng giữa chính quyền và người dân vẫn còn một khoảng cách lớn. Hòa hợp hòa giải dân tộc là một ước vọng lớn lao và chính đáng tại sao không thực hiện được? Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc đã được nói đến lâu nay. Thời gian gần đây, chuyện nầy lại được đề cập khá rôm rả, từ chính quyền cộng sản Việt Nam đến các phong trào đấu tranh đòi tự do-dân chủ, các nhà trí thức trong nước; từ các các đoàn thể, cá nhân đến những cơ quan truyền thông báo chí hải ngoại đều nói đến.  Nhưng cho đến nay (và có thể còn lâu) chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc vẫn khó được thành hình.  Tại sao?  

Ai cũng thấy rằng hòa hợp hòa giải dân tộc chưa có vì giữa các thành phần dân tộc không có sự đồng thuận về cách thực hiện và ý nghĩa chính trị của nó. Sau chiến tranh, về địa lý, Dân tộc Việt Nam chia thành hai khối: khối quốc nội và khối hải ngoại; về chính trị cũng tạm chia ra hai phía: phía Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng những người ủng hộ họ và phía những người Việt Nam không chấp nhận chủ nghĩa công sản, chống nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Sự khác biệt về địa lý không quan trọng bằng sự khác biệt về chính trị, và đây mới là vấn đề mấu chốt giải thích tại sao chưa có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Phải chăng vì người Việt chống cộng sản, đặc biệt là người Việt Nam hải ngoại, còn mang hận thù sâu sắc, quyết tiêu diệt cộng sản cho được, không chịu hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền trong nước dưới bất cứ hình thức nào?  Hay mục đích hòa hợp hòa giải dân tộc của chính quyền và đại khối dân chúng còn quá khác biệt nên không thể dung hợp được?

Đúng là tại hải ngoại, có những phần tử chống cộng cực đoan, chủ trương tiêu diệt cộng sản cho bằng được, không chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp hòa giải nào với cộng sản Việt Nam. Với họ, ai nói đến hòa hợp hoà giải là “tay sai Việt cộng”, là “thân cộng”.  Cùng hàng ngũ chống cộng nhưng ai không nói như họ, không làm như họ cũng đều bị họ chụp mũ cộng sản hết, có khi họ dùng những lời lẽ rất thô tục, hạ cấp. Đây là một thực tế tệ hại tại hải ngoại không ai đủ khả năng giải quyết, nó đã làm cho sinh hoạt cộng đồng ngày càng tan rã, không tập hợp được sức mạnh để “nói chuyện” với cường quyền trong nước.  Khi được hỏi: “Tiêu diệt Việt cộng bằng cách nào” thì không ai trong số họ trả lời được! Họ chỉ biết bày tỏ ý chí nhưng không có cách nào để biến ý chí ấy thành hiện thực, lại còn cản trở những nổ lực chống cộng sản khả thi khác.  Những người nầy không hề có ước vọng hòa hợp hòa giải dân tộc.  Nhưng thành phần nầy chỉ thiểu số, đã già nua, tuy cũng là một trở ngại cho hòa hợp hòa giải dân tộc nhưng không đáng kể.  Trở ngại chính cho hòa hợp hòa giải dân tộc là đường lối, chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam!

Điều kiện để có hòa hợp hòa giải dân tộc là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của mọi thành phần dân tộc để cùng phục vụ đất nước trong tinh thần tự do, dân chủ.  Đảng Cộng Sản Việt Nam không bao giờ có chủ trương như thế. Để thống trị Việt Nam, họ đã thi thố toàn là THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ VÀ BẠO LỰC, chưa bao giờ họ có THIỆN CHÍ VÀ THỰC TÂM với các thành phần dân tộc khác trong mọi việc liên quan đến đất nước.  Vì thế các thành phần Việt Nam thuần tuý chống chủ nghĩa cộng sản, chống thực dân Pháp, vì cả tin, lần lần bị họ tiêu diệt gần hết.   Đây là một thực tế lịch sử, không cần phải dài dòng liệt kê.  Từ Chính Phủ Liên Hiệp chống Pháp đầu tiên đến vụ Trăm Hoa Đua Nở (Nhân Văn Giai Phẩm)…ở miền Bắc; từ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau là CP/CMLTCHMNVN) đến chiến dịch lùa tất cả quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào tù sau 1975 đều thể hiện rõ thủ đoạn chính trị và bạo lực của họ.  Nếu vì thế kẹt cần phải nói chuyện hay hợp tác với ai, Việt cộng không bao giờ từ bỏ âm mưu:  nhận diện kẻ thù để từ từ trừ khử hoặc sử dụng qua giai đoạn rồi giải thể hoặc vô hiệu hóa. Chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc hiện nay, có thể nói mà không sợ lầm lẫn rằng họ không hề có ước vọng hàn gắn mọi vết thương chiến tranh và hận thù mà chỉ tung ra những chiêu bài, những phủ dụ để quy tất cả về một mối dưới sự lãnh đạo của họ.  Nghị quyết 36 của họ cũng chỉ nhằm mục đích xâm nhập và thâu tóm các cộng đồng Việt Nam hải ngoại, không phải là một thiện chí nhằm xóa bỏ mọi ngăn cách, dị biệt giữa họ và đồng bào hải ngoại. Làm sao có được hòa hợp hòa giải dân tộc?!

Nếu họ, kẻ thắng trận, là một chính quyền vì dân vì nước (chứ không phải vì đảng), coi mọi thành phần dân tộc khác, kể cả những người bại trận, như anh em một nhà, đừng dùng bạo lực để trừng trị, đừng lấy hận thù mà đối xử thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ lâu.  Một việc xẩy ra trong trại cải tạo làm tôi nhớ mãi.  Sau hơn ba năm vào trại, mọi tâm tư tình cảm đã tạm lắng đọng, mọi sinh hoạt đã có vẻ bình thường thì bỗng nhiên vào năm 1979, tại trại cải tạo An Điềm (Quảng Nam-Đà nẵng) không khí sinh hoạt trở nên nghiêm ngặt khó thở.  Cán bộ thì hằm hằm, súng đạn tua tủa, hạn chế mọi sự đi lại, lục soát và tịch thu tất cả thuốc men, thực phẩm, gia vị khô của tù. Tù thì lơ láo lo sợ, chẳng biết chuyện gì xẩy ra.  Sau vài ngày có tin lọt vào: “Trung cộng đánh Việt cộng tại biên giới phía bắc”!  Tù chuyền tai nhau tin nầy và tỏ vẻ “phấn khởi” lắm.  Phấn khởi vì thấy phe cộng sản đánh nhau.  Phấn khởi vì mình có thể được giải thoát.  Nhưng chừng một tuần hay mười ngày sau, một “cán bộ trung ương” vào trại nói chuyện thì tình hình thay đổi hẳn. (Tôi không biết cán bộ nầy là ai, nhưng thấy cách tiếp đón và dàn chào của ban quản trại, tôi đoán ông nầy cũng cao cấp lắm).  Khi tất cả tù nhân đã ngồi răm rắp phía dưới, người cán bộ nầy và phái đoàn xuất hiện trên sân khấu trang trí ảnh ông Hồ, vải trải bàn, cờ, khẩu hiệu toàn màu đỏ. Việc đầu tiên cán bộ nầy làm trước mặt cả ngàn tù nhân là đuổi tất cả võ trang và quản giáo có nhiệm vụ giữ trật tự và bảo vệ ông đi chỗ khác chơi! Ông nói lớn (cốt cho tù nghe): “Các anh trại viên dưới kia cũng là anh em một nhà, đâu phải kẻ thù mà các đồng chí tập trung đông đảo và lằm lằm súng đạn coi dữ dằn quá vậy? Thôi, các đồng chí về nghỉ đi, tôi cần tâm sự riêng với anh em trại viên”!  Ôi chao, đã hơn ba năm ròng rã bị kềm kẹp, bị sỉ nhục, bị hành hạ đủ thứ bây giờ nghe câu nói ngọt ngào ấy, thấy thái độ thân thiện ấy của “cán bộ trung ương” anh em tù hết sức xúc động.  Sau một hồi tâm tình toàn chuyện anh em một nhà, máu đó da vàng, con Rồng cháu Tiên…ông ta đi thẳng vào vấn đề: “Báo cáo các anh rõ là bọn bành trướng Trung quốc đang xâm lược nước ta.  Chúng xua hàng chục sư đoàn vượt biên giới tàn phá đất nước ta, giết hại nhân dân ta.  Quân và dân ta đang chống trả mãnh liệt, gây cho chúng tổn thất nặng nề…
Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu.
Chắc các anh cũng biết rồi, Tàu là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta, đã đô hộ dân tộc ta trên một ngàn năm, hiện nay chúng lại đang trắng trọn xâm lược nước ta thêm một lần nữa. Cùng là con dân Việt Nam, tôi nghĩ các anh cũng không thể tha thứ bọn bá quyền cướp nước nầy.  Bây giờ nếu Đảng cần, các anh có sẵn sàng cầm súng ra mặt trận chống ngoại xâm không?” Hội trường đang im ắng bỗng nhốn nháo như vỡ chợ.  “Một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên…” lúc đầu còn rụt rè nhưng sau đó gần cả ngàn tù nhân đứng lên la lớn “Tôi tình nguyện”! “Tôi xung phong”!  Biên giới giữa cán bộ và tù trong giây phút nầy gần như không còn.  Làn ranh giữa kẻ chiến thắng và người chiến bại tiêu tan.  Ý thức hệ giữa cộng sản và tự do biến mất... Mọi Người Việt Nam có mặt hôm đó “bừng bừng khí thế” sẵn sàng cùng nắm tay nhau chống giặc Tàu xâm lăng!  Nhưng, chuyện tù cầm súng chống ngoại xâm không bao giờ xẩy ra.  Điều tôi muốn nói ở đây là tình yêu nước thương nòi luôn tiềm ẩn trong lòng mọi người Việt Nam bất luận chính kiến và thành phần xã hội, dân tộc.  Tôi tin là cộng sản Việt Nam cũng biết như thế.  Nếu có thực tâm và thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc, họ đã khai thác điều nầy sớm, ngay sau ngày “giải phóng” Miền Nam thì hòa hợp hòa giải dân tộc đã có từ ba chục năm nay, không cần phải đợi đến giờ nầy mới kêu gọi, và kêu gọi cũng chẳng ai tin.  Những người có kinh nghiệm với CS giải thích rằng “cán bộ trung ương” nầy đã thực thi thủ đoạn chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh động lòng yêu nước của anh em tù nhân để tránh “nội công” có thể xẩy ra trong khi đang phải đối đầu với “ngoại kích” tại vùng biên giới.  Sau khi tình hình ổn định, đa số anh em phải “đền tội” trên dưới một thập niên mới được “khoan hồng”. Đảng Cộng sản Việt Nam không cần lòng yêu nước thuần túy của người Việt Nam.  Họ chỉ lợi dụng nó để đạt mục đích riêng.  Với họ, chủ nghĩa cộng sản còn cao hơn tổ quốc, quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam còn quan trọng hơn quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam.  Họ quyết duy trì một chế độ bạo trị, độc quyền độc đảng, không chấp nhận các thành phần Việt Nam khác, dù ưu tú, xuất sắc, hay yêu nước đến đâu. Đây là điều xúc phạm nặng nề đến tình cảm quê hương, dân tộc thiêng liêng nhất của tất cả người Việt Nam.  Nếu chủ nghĩa cộng sản đem lại tự do, bình đẳng, cơm no áo ấm cho mọi người Việt Nam thì cũng được đi, nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại.  Ở đâu có cộng sản, ở đó có áp bức và đói nghèo.  Dù muốn hay không cũng phải công nhận kinh tế Việt Nam, so với hai thập niên trước, đã tiến bộ vượt bực.  Do đâu?  Do “đổi mới”!  Không hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam giải thích hiện tượng nầy như thế nào, tại sao “đổi” thì khá, không “đổi” không khá?  Người ngoài ai cũng thấy “cộng sản pha loãng” ít độc hại hơn “cộng sản đậm đặc”, cái mới hiện nay phải tốt hơn hẳn cái cũ (chủ nghĩa cộng sản giáo điều) mới được như thế.  Sự tốt đẹp và hay ho của chủ nghĩa cộng sản ở chỗ nào?  Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn “kiên trì” theo chủ nghĩa cộng sản, “quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa!  Theo tài liệu phổ biến công khai trên thế giới hiện nay, từ ngày xuất hiện trên trái đất, chủ nghĩa cộng sản đã cướp đi mạng sống của trên dưới một trăm triệu sinh linh.  Nhân danh chủ nghĩa nầy, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã tàn sát cỡ một triệu người Việt Nam vô tội!  Tại Liên Sô và Đông Âu, nơi được coi là cái nôi của chủ nghĩa cộng sản, người ta loại bỏ chủ nghĩa nầy vì tội ác diệt chủng và chống nhân loại của nó. Thế mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm vận dụng thủ đoạn chính trị và bạo lực để buộc dân tộc Việt Nam chấp nhận con đường đó.  Đây là điều cực kỳ phi lý, cực kỳ phản động.  Sự kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc của họ cũng theo điều kiện phi lý và phản động nầy nên các thành phần Việt Nam khác không thể chấp nhận được.

Trong bài viết “Nan đề nào? Nan đề cho ai?”, nhà thơ, nhà văn, nhà đấu tranh cho tự do-dân chủ nổi tiếng trong nước Tiêu Dao Bảo Cự đã viết: “Hòa giải hòa hợp dân tộc không phải là chuyện độc quyền của nhà nước cộng sản khi họ đề ra chủ trương này.  Thời gian gần đây, ai nói đến hòa giải hòa hợp thường bị những người chống cộng quy ngay là tay sai cộng sản, ủng hộ cộng sản.  Thế thì cộng sản đã chiếm thế thượng phong vì tự nhiên họ được thêm rất nhiều đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn” (Talawas và Đàn Chim Việt).  Tôi xin có ý kiến hơi khác:  Để có được hòa hợp hòa giải dân tộc mọi bên phải có thiện chí, nhưng không có thiện chí nào quan trọng, có tính quyết định, bằng thiện chí của giới cầm quyền.  Hơn ai hết, nếu không nói độc quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là kẻ tỏ thiện chí hòa hợp hòa giải dân tộc trước vì họ là thế  lực chính trị mạnh nhất (có thể nói là không có đối thủ), đang nắm chính quyền, có đủ khả năng và điều kiện để kết hợp mọi thành phần dân tộc NẾU họ làm cho người khác tin được chủ trương nầy của họ là vì tình cảm dân tộc, vì nhu cầu sinh tử của quốc gia, không phải là một cạm bẩy chính trị để  khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác.
Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước!  Làm sao “xóa bỏ hận thù” và “đoàn kết” khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố “Yêu nước có nhiều cách”, (không cần phải “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam. Nhưng gần đây ông lại nói: “Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng”!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!
Trong nước, ngoài chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đại đa số dân chúng đang mãi mê kiếm sống, kiếm tiền bằng mọi cách; trí thức thì cầu an, cam phận; thông tin báo chí thì chỉ là công cụ của đảng; một số lãnh đạo các tôn giáo, rất ít trí thức cùng các cựu đảng viên cộng sản thức thời và can đảm lên tiếng thì bị trù dập, bắt bớ tù đày…Ai đủ khả năng thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc?  Hải ngoại, tuy là đối lực chính trị đáng ngại nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ai đủ tư cách, khả năng và thẩm quyền để làm chuyện nầy?  Hòa hay chiến là do kẻ đang thủ đắc vũ khí, chiếm thế thượng phong tỏ thái độ và thiện chí trước.  Người tay không yếu thế mà tỏ thái độ cầu hòa trước thì chỉ là sự đầu hàng!  Có hai loại hòa hợp hòa giải dân tộc: trá hình và thật sự.  Không hiểu ông Tiêu Dao Bảo Cự nói đến loại hòa hợp hòa giải dân tộc nào, loại cùng nhau quy phục dưới trướng cộng sản Việt Nam hay loại bình đẳng dân tộc? Và loại nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam “được thêm rất đông đồng minh trong khi người chống cộng lại thêm thù bớt bạn”?

Khi nói đến hòa hợp hòa giải dân tộc, không phải người Việt Nam chống cộng nào cũng tẩy chay.  Ngoài một thiểu số chống cộng theo cảm tính, đại đa số người Việt Nam vẫn mong ước có hòa hợp hòa giải, nhưng phải có bình đẳng dân tộc mới được.  Nhóm chủ trương “không hòa hợp hòa giải với Việt Cộng bất kỳ dưới hình thức nào” có thể bị chê là phi thực tế, nhưng khó mà trách họ khi họ không chấp nhận hòa hợp hòa giải kiểu đầu hàng.  Điều kiện phải có trước khi nói chuyện hòa hợp hòa giải dân tộc là cộng sản Việt Nam phải thay đổi chủ trương.  Nếu họ vẫn duy trì những thủ đoạn chính trị để khống chế và tiêu diệt những thành phần dân tộc khác, sẽ không bao giờ có hòa hợp hòa giải dân tộc.  Ngược lại nếu họ từ bỏ bạo lực, chấm dứt sự lật lọng, chứng tỏ thiện chí bằng những việc làm cụ thể, chấp nhận và tôn trọng những thành phần dân tộc khác thì hòa hợp hòa giải dân tộc sẽ đến.  Hiện nay, có thể nói, vì đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với Việt Cộng nên không ai còn dám tin họ nữa. Muốn lấy lại niềm tin nơi mọi người, Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự mình trả lại cho dân tộc Việt Nam những thứ quyền, những thứ tự do mà họ đã tước đoạt bấy lâu nay.  Một khi chính quyền đã tôn trọng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng…, nghĩa là có sinh hoạt dân chủ, đa nguyên thì mới có thể nói chuyện hòa hợp hòa giải trong tinh thần bình đẳng dân tộc được.

Vậy, chừng nào có được hòa hợp hòa giải dân tộc thật sự?

Nhìn về sinh hoạt chính trị trong nước, không khó khăn tí nào để nhận biết “thiện chí” của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Để tổ chức Hội Nghị APEC, và để vào được WTO, họ “nuôi” những cá nhân, đoàn thể đấu tranh, làm như Việt Nam có tự do dân chủ để đánh lừa các chính khách quốc tế, kể cả Tổng Thống Mỹ. Nhưng sau khi tổ chức thành công Hội Nghị APEC và vào được WTO họ ra tay “thịt” các thành phần yêu nước nầy! Thế mà, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đến Mỹ vào cuối tháng Sáu vừa qua lại không ngừng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy xoá bỏ hận thù, đoàn kết để cùng nhau xây dựng đất nước! Làm sao “xóa bỏ hận thù” và “đoàn kết” khi mà người kêu gọi còn lắm âm mưu thủ đoạn, chưa thể hiện thiện chí của mình?  Cựu Thủ tướng cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng nhiều lần đề cập vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc.  Trước đây không lâu ông tuyên bố “Yêu nước có nhiều cách”, (không cần phải “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” như trước)! Nghe như cánh cửa thiên đường sắp mở ra cho Dân tộc Việt Nam.  Nhưng gần đây ông lại nói: “Hòa hợp hòa giải dân tộc không cần phải đa đảng”!  Vậy nghĩa là gì? Nghĩa là, quanh đi quẩn lại, hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ có thể xẩy ra dưới trướng Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi?!

Ngoại trừ những người Việt Nam cộng sản vong quốc, chỉ có những kẻ ngu mới nghe lời chiêu dụ của cộng sản. Chúng ta nhất quyết cùng nhau đấu tranh kiên trì và mạnh mẽ để buộc CSVN chấp nhận những thành phần dân tộc khác.  HHHG chỉ có thể xẩy ra trên tinh thần dân chủ đa nguyên, không thể xẩy ra dưới trướng của ĐCSVN được! 

 Định Nguyên

Khai Dân TríĐịnh Nguyên