Showing posts with label Đỗ Thái Nhiên. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Thái Nhiên. Show all posts

2014/02/22

ĐẶC CÔNG TRUYỀN THÔNG

ĐẶC CÔNG TRUYỀN THÔNG

Đỗ Thái Nhiên

Chế độ dân chủ là chế độ đối thoại. Đối thoại giữa người dân với người dân, giữa ngươi dân với cơ quan công quyền và giữa các cơ quan công quyền với nhau. Đối thoại dân chủ không chấp nhận mọi hình thức vu khống hay nhục mạ những người có ý kiến dị biệt. Đối thoại dân chủ có chủ đích giúp cho người dân tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất cho từng tình huống xã hội. Căn cứ vào ý nghĩa của đối thoại dân chủ, bài viết này trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi cuộc thảo luận có chủ đề "Cộng Sản Việt Nam Dâng Đất Cho Trung Quốc". Chủ đề này đã làm dư luận Việt Nam vô cùng sôi nổi. Hầu hết người Việt Nam đều cực lực phản đối Việt Cộng bán nước. Thế nhưng giữa những lời lẽ phản đối gay gắt kia, đôi khi chúng ta bắt gặp một vài luận cứ khác thường. Khác thường ở chỗ sự thật và sự không thật được pha trộn lẫn vào nhau theo một liều lượng có tính toán với ý đồ bóp méo tin tức một cách tinh vi. Một trong những tác giả viết theo liều lượng vừa kể là ông Tú Gàn. Trên báo Saigòn Nhỏ số phát hành ngày 15/02/02 và 01/03/02 Tú Gàn viết hai bài mang tựa đề "Bạch Thư Về Biên Giới" và "Một Chuyến Đi Nam Quan". Hai bài này có ba sai lầm căn bản sau đây :

1.) Sai Lầm Lịch Sử:

Mở đầu bài "Bạch Thư Về Biên Giới", nhân câu chuyện nói với một độc giả về vụ Việt Cộng bán đất, Tú Gàn cho rằng Ải Nam Quan là của Tàu. Tiếp đó, ông khẳng định : "Nó dám bán ải Nam Quan của Tàu cho Tàu lấy tiền chơi gái là nó ngon lắm đấy".

Tại phần cuối của Bạch Thư, một lần nữa Tú Gàn quả quyết : "Như vậy, không có vấn đề tranh luận ải Nam Quan thuộc quyền sở hữu của ai, vì sử đã ghi rõ ải đó của Trung Hoa".

Câu hỏi được đặt ra là : cổ sử đã ghi chép những gì về ải Nam Quan. Bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí (1847 - 1883) tại tập 4, trang 384 - 385 ghi chép như sau:

“Đại Nam Quan ( tên cũ của Ải Nam Quan) phía Đông là một dãy núi đất, phía Tây là một dãy núi đá đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường... phía Bắc cửa có Chiêu Đức Đài, đàng sau đài có Đình Tham Đường (nhà nuôi ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta. Bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang. Mỗi khi xứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ".

Xét : trấn Nam Quan (tức Ải Nam Quan) không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử và Bắc sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại Ngưỡng Đức Đài, lập bia ghi việc đại lược nói : “nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ là vì diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan (tức cửa ải) Cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh ( 1522-1566)".

Mặt khác, bộ Phương Đình Địa Dư Chí của Nguyễn Văn Siêu xuất bản năm 1900 (Tác gỉa Nguyễn Văn Siêu là nhà thông thái bên cạnh Cao Bá Quát được người đời truyền tụng là “Văn như Siêu Quát, vô tiền Hán”) . Khi nhắc tới Ải Nam Quan, Phương Đình Địa Dư Chí có xác nhận sự hiện diện của Ngưỡng Đức Đài và viết thêm : "Khi trước (đài này) lợp cỏ, năm thứ 34 niên hiệu Cảnh Hưng, quan đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại, có văn bia như sau : Đài (Ngưỡng Đức Đài) có quán hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê Trung Hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 là năm Canh Tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nước Thanh. Đang tôi (tức ông Nguyễn Trọng Đang) làm giữ chức Đốc trấn qua năm năm là năm Giáp Thìn, sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng...”

Như vậy, cả hai bộ cổ sử Đại Nam Nhất Thống Chí và Phương Đình Địa Dư Chí đều xác nhận Ải Nam Quan là một kiến trúc gồm hai phần :

- Phần thứ nhất: Gồm Chiêu Đức Đài và các cơ sở phụ thuộc nằm ở phía bắc ải do người Trung Hoa xây dựng và làm chủ.

- Phần thứ hai: Gồm Ngưỡng Đức Đài và hai hành lang tả hữu do triều đình Việt Nam xây dựng và làm chủ.

Xin nhấn mạnh thêm rằng: hai tên gọi Chiêu Đức Đài và Ngưỡng Đức Đài cũng đủ làm nổi bật sự gắn bó của hai phần kiến trúc tạo thành Ải Nam Quan. Nói cách khác, Ngưỡng Đức Đài trong Ải Nam Quan là của Việt Nam. (Tên gọi Ngưỡng Đức Đài còn ngầm nói lên thái độ trịch thượng của triều đình Trung Hoa đối với Việt Nam). Mặc dầu vậy, ông Tú Gàn vẫn khăng khăng xác định "Ải đó của Trung Hoa". Xác định kia hiển nhiên là một sai lầm đối với lịch sử.

2.) Sai Lầm Thực Tiễn

Ngày 28 tháng Giêng năm 2002 ông Lê Công Phụng thứ trưởng bộ ngoại giao CSVN, trong một cuộc phỏng vấn có chuẩn bị trước đã cho báo chí biết : "tại bắc Trung Quốc, cửa khẩu Bắc Luân gồm hai cửa: Một cửa nằm trên lãnh thổ Trung Quốc, cửa kia nằm trên lãnh thổ nước láng giềng". Thực tiễn này minh chứng Ải Nam Quan gồm hai cửa: Cửa Chiêu Đức Đài và cửa Ngưỡng Đức Đài chỉ là một sự việc rất bình thường, một tập quán có thật nằm trên biên giới Trung Hoa và các nước láng giềng.

Trên Việt Báo Online (24/1/2002), trong bài Vấn Đề Cộng Sản Bán Nước Và Chiến Lược Đấu Tranh, Dương Thái Sơn viết: Theo nhà văn Hoàng Tiến ( hiện còn sống ở trong nước) thì vào năm 1954 hai bên ải có quân đội hai nước canh gác, nhưng về sau, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) cho dân tràn lấn qua xây cất nhà cửa phía bên lãnh thổ Việt Nam viện lý do dân- chúng-mới-tràn-lấn muốn thuộc quyền hành chánh của họ, Trung Quốc xem đất đó là đất của họ. Thực tiễn này cho thấy Ải Nam Quan có hai cửa ải thông qua sự hiện diện của quân đội Trung Quốc và CS Việt Nam ở hai bên ải.

Báo Thời Luận (Los Angeles) số Tân Xuân Nhâm Ngọ 2002 trang 5, sử gia Trần Gia Phụng xác nhận : "Nhạn Môn Quan là cửa ải cực Bắc Trung Hoa. Mỗi lần sứ quan một trong hai nước bước qua cửa ải là tiến vào địa phận nước bên kia". Thực tiễn này khẳng định sự việc Lê Công Phụng - thứ trưởng ngoại giao của CSVN - cho rằng mục Nam Quan là của Trung Quốc và mục Nam Quan nằm cách biên giới Việt Hoa 200 m là điều phi lý. Nó là bằng chứng cho thấy ít ra CSVN đã dâng cho Trung Quốc phần đất 200 m trước Ải Nam Quan, bất kể những xác định của lịch sử về đường biên giới Việt Hoa.

3.) Sai Lầm Lý Luận

a.) Sai lầm lý luận giải thích tiếng Việt: vẫn trong bài viết có tựa đề "Một Chuyến Đi Nam Quan", ông Tú Gàn cho rằng sở dĩ người Việt Nam quả quyết ải Nam Quan thuộc Việt Nam là vì họ tin vào một câu viết trong sách giáo khoa ngày xưa: "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Nhằm chỉ trích quả quyết vừa kể, ông Tú Gàn đề nghị sửa câu viết trong sách giáo khoa đó như sau: "Nước Việt Nam hình chữ S kéo dài từ Đồng Văn tới mũi Cà Mau". Lý do: Đồng Văn mới đích thực là một địa danh ở cực Bắc của Việt Nam, nó cách ải Nam Quan 180 km.

Muốn tìm hiểu ý nghĩa đích thực của một câu văn, nhiều khi chúng ta không thể chỉ đơn giản khảo sát những từ ngữ xuất hiện trong câu văn đó. Chúng ta còn phải tìm hiểu xem câu văn đóù nhằm tác động vào thành phần độc giả nào ? "Ý tại ngôn ngoại" của nó là gì ? Dĩ nhiên mọi người Việt Nam nhất là những người Việt Nam viết sách giáo khoa địa lý đều thừa biết đâu là Đồng Văn, đâu là ải Nam Quan. Đừng quên rằng câu văn: "Nước Việt Nam ta hình chữ S ..." chỉ là lời văn diễn tả hình thể nước Việt Nam một cách ngắn gọn, tổng quát và nhất là có chủ ý giúp cho học trò nhỏ dễ nhớ. Vì vậy câu văn đối tượng của cuộc tranh cãi cần được hiểu rằng "Nước Việt Nam ta hình chữ S, chạy dài từ biên giới Việt Hoa tới mũi Cà Mau". Tuy nhiên, trên biên giới Việt Hoa, ải Nam Quan là địa danh nổi tiếng nhất, quan trọng nhất vì vậy sách giáo khoa địa lý mới viết : "Nước Việt Nam ta hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau". Đó là cách giải thích tiếng Việt linh động và thông minh mà bất kỳ người Việt Nam bình thường nào cũng có thể hiểu được.

Căn cứ vào những giải thích lệch lạc về Việt ngữ của mình, Tú Gàn không ngần ngại kết luận rằng : "Nước Việt Nam hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau" là câu "kinh Coran" sai lầm, rằng ải Nam Quan không thuộc về Việt Nam, và rằng những người chống cộng là "các tín đồ chống cộng không bao giờ muốn chấp nhận sự thực". Các lời lẽ vừa trích dẫn của Tú Gàn có ngụ ý miệt thị và chế diễu tín đồ và tín ngưỡng của mọi tôn giáo. Vấn đề không là chống cộng theo tinh thần của tín đồ hay tinh thần vô tôn giáo. Vấn đề chính là chống cộng đồng nghĩa với ái quốc, đồng nghĩa với nghĩa vụ đấu tranh cho công bằng và lẽ phải, cho sự hanh thông của lịch sử Việt Nam.

b) Sai Lầm Lý Luận Pháp Lý:

* Sai lầm phương pháp dẫn chứng : Nhằm giải quyết vấn đề Việt Cộng dâng đất cho Trung Cộng, Tú Gàn chủ trương "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam" Tuy nhiên, theo Tú Gàn, muốn kiện chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc không được dẫn chứng bằng những tin tức "nghe nói" tức là "tin tức hearsay".

Lịch sử có trước khi loài người có chữ viết, trước khi loài người sáng chế ra giấy mực. Vì vậy đối với những tranh chấp có liên hệ đến di tích lịch sử như những tranh chấp về lãnh thổ, con người không thể cứng rắn loại bỏ mọi loại bằng chứng có tính hearsay. Vì lý do đó, bên cạnh nguyên tắc loại bỏ hearsay, luật pháp còn chấp nhận nguyên tắc "circumstantial evidence". Nguyên tắc này cho phép thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn được quyền tuyển chọn bằng chứng từ phương pháp suy diễn. Nói tới hearsay nhưng tảng lờ circumstantial evidence chỉ là nói lên một nửa sự thực. Một nửa cái bánh mì là nửa cái bánh mì, nhưng một nửa sự thực không là một nửa sự thực. Nó chính là một dối gạt toàn phần.

Mặt khác Tú Gàn mạnh mẽ đề cao nguyên tắc phủ nhận hearsay như một quyết tâm làm cho vụ kiện Việt Cộng bán nước được diễn ra trên căn bản "dựa vào các sự kiện lịch sử và các nguyên tắc của quốc tế công pháp" (Bạch Thư Về Biên Giới). Thế nhưng trong suốt bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan", Tú Gàn chỉ nói đến cột mốc số 0 một cách lơ mơ. Vấn đề không là tên gọi của cột mốc mà là tọa độ của mỗi cột mốc. Tọa độ đó sai biệt như thế nào so với những cột mốc trong hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa 1887 - 1895 ? Thảo luận về vị trí những cột mốc trên biên giới Việt Hoa nhưng không hề đề cập đến tọa độ của chúng chẳng khác nào viết một cáo trạng dài lê thê nhưng không hề xác định căn cước của phạm nhân. Chưa hết, mặc dầu không tiếc lời chê trách những người lý luận theo hearsay, nhưng chính Tú Gàn trong toàn bộ bài viết "Một Chuyến Đi Nam Quan" lại chỉ viết theo kiểu hearsay khi Tú Gàn ghi nhận chuyến đi thăm Việt Nam của "một vài người Việt ở Nam Cali", nhóm người này không tên họ, không tuổi tác, không căn cước.

Nhìn chung lại những cột mốc không tọa độ cộng với vài ý kiến của một số du khách vô danh đã là nền tảng lý luận trong các bài viết được Tú Gàn gọi là đi tìm "một giải pháp hợp lý và công bằng cho vấn đề lãnh thổ và lãnh hải".

* Sai lầm về nghĩa vụ dẫn chứng: Tú Gàn xác quyết "có trong tay bằng chứng mới kiện cáo được" (Bạch Thư Về Biên Giới). Nói tới bằng chứng tức là nói tới nghĩa vụ dẫn chứng. Dưới chế độ tự do dân chủ, nghĩa vụ dẫn chứng được giải thích chặt chẽ trên nguyên tắc rằng: trước tòa án nhà cầm quyền bao giờ cũng có ưu thế hơn cá nhân công dân. Vì vậy, nghĩa vụ dẫn chứng được chế độ tự do dân chủ qui định trong hai trường hợp như sau :

- Trường hợp một: cá nhân công dân bị truy tố ra trước tòa án về một hành động phạm pháp. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền, cụ thể là cơ quan công tố, chứ không phải phạm nhân, có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nghi can đã phạm pháp.

- Trường hợp hai: cá nhân công dân khiếu tố nhà cầm quyền về một vụ việc phạm pháp nào đó. Trong trường hợp này, nhà cầm quyền chứ không phải cá nhân công dân có nghĩa vụ dẫn chứng rằng nhà cầm quyền vô tội.

Trở lại với vụ việc CSVN dâng đất cho Trung Quốc, người dân chỉ cần dựa vào một vài tin tức về hai hiệp ước lãnh thổ, lãnh hải giữa Việt Cộng và Trung Cộng để khiếu tố nhà cầm quyền CSVN về tội phản quốc. Đáp lại, nhà cầm quyền CSVN có nghĩa vụ chứng minh trước cơ quan xử án là họ vô tội. Bước đầu tiên của quá trình dẫn chứng này là CSVN phải phổ biến rộng rãi toàn bộ hai hiệp ước giữa Việt Cộng và Trung Cộng 1999-2000. Nếu CSVN viện dẫn lý do "bí mật quốc gia" để từ chối nghĩa vụ dẫn chứng này, người dân Việt Nam không còn chọn lựa nào khác hơn là lật đổ chế độ Cộng Sản để mở đường cho công lý đến với mọi người, mọi nhà, mọi cấp công quyền.

* Sai lầm về thẩm quyền tòa án : Xin được nhắc lại: ở đoạn cuối của "Bạch Thư Về Biên Giới", Tú Gàn quả quyết: nếu có đủ bằng chứng, "chúng ta kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh về việc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam". Tác giả không nói rõ đương sự sẽ nạp đơn khiếu tố tại tòa án nào. Tuy nhiên nhóm chữ "cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" cho thấy tòa án hữu thẩm quyền là một tòa án quốc tế nào đó. Hiện nay có hai tòa án quốc tế mà chúng ta cần nghĩ tới:

1. International Court of Justice: thành lập năm 1945, trực thuộc Liên Hiệp Quốc. Tòa này có thẩm quyền giải quyết mọi tranh chấp giữa các quốc gia trong hòa bình. Vụ việc Việt Cộng bán nước không hề là một tranh chấp giữa nhà cầm quyền CSVN và Trung Hoa. Vì vậy tòa án này hoàn toàn vô thẩm quyền.

2. International Criminal Court: sẽ hoạt động kể từ tháng 7 năm 2002. Tòa án này chỉ xét xử bốn tội: diệt chủng, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, tội xâm lăng. Tội bán nước của Việt Cộng không là một trong bốn tội danh kể trên. Vì vậy International Criminal Court hoàn toàn vô thẩm quyền đối với hành động phản quốc của Việt Cộng.

Các trình bày tổng quát về tòa án quốc tế cho chúng ta thấy Tú Gàn sẽ cầm lá đơn "kiện cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh" đi khắp thế giới để cuối cùng không tìm ra được một tòa án hữu thẩm quyền nào. Bài viết này chỉ đặt vấn đề thẩm quyền của tòa án, chưa thảo luận đến tư cách của nguyên đơn cùng các giải pháp pháp lý cần thiết.

Nói tóm lại, các bài viết của Tú Gàn về vấn đề lãnh thổ và lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hàm chứa ba sai lầm căn bản:

- Sai lầm lịch sử
- Sai lầm thực tiễn
- Sai lầm pháp lý

Ba sai lầm đó được Tú Gàn điều chế thành chất nổ để tạo ra một quả bom. Nói tới bom tức là nói tới đặc công. Trước 1975, tại Việt Nam Cộng Hòa, nhất là tại Sài Gòn, một số cán binh Việt Cộng thường giả dạng thường dân. Họ sống trà trộn trong quần chúng. Họ nói năng và sinh hoạt như những người dân bình thường. Thế nhưng khi có cơ hội thuận tiện họ lập tức gài bom tại những địa điểm do Việt Cộng chỉ định. Mỗi tiếng bom nổ là một "tiếng cười đại thắng" của ác quỷ khủng bố. Ác quỷ khủng bố đó có danh hiệu là đặc công quân sự. Tại Hoa Kỳ, bom quân sự được thay thế bằng bom Tú Gàn. Bom Tú Gàn không nhằm thủ tiêu sinh mệnh của lương dân nhưng nó nhằm thủ tiêu tinh thần đoàn kết của quần chúng Việt Nam, thủ tiêu ý chí đấu tranh cho một Việt Nam tự do dân chủ. Đặc biệt trong vụ Việt Cộng dâng đất, dâng biển cho Trung Cộng, bom Tú Gàn là một loại hỏa mù. Nó cố tình làm cho người đọc khó nhận diện sự khác biệt giữa cột mốc thật và cột mốc bán nước trên biên giới Việt Hoa.

Điều đáng chú ý: Chỉ có một cột mốc nổi tiếng nhất, quan trọng nhất không thể dễ dàng dời đổi như những cột mốc vô danh khác, đó là cột mốc Ải Nam Quan.

Với mục đích bao che cho hành động bán nước của Việt Cộng, Tú Gàn không thể không tung vào dư luận sự ngụy biện rằng ải Nam Quan nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa và hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Trung Hoa. Từ đó ải Nam Quan không còn giá trị của một cột mốc biên giới nữa. Từ đó những cột mốc còn lại là những cột mốc biết đi. Chúng âm thầm di chuyển tùy theo ý đồ bán nước của Việt Cộng. Phải chăng đây là tất cả thâm ý của Tú Gàn khi ông này quyết tâm viết một loạt bài chứng minh ải Nam Quan là của Trung Quốc. Thâm ý đó còn là cửa ngõ giúp mọi người nhìn ra sự thực rằng bom Tú Gàn có chủ ý gây rối loạn trên địa bàn truyền thông nhằm tạo hỏa mù giúp kẻ bán nước chạy tội. Bom Tú Gàn chính là bom truyền thông. Tú Gàn gài bom truyền thông ở tư thế của một người giả dạng nạn nhân của Cộng Sản. Không còn nghi ngờ gì nữa, bút pháp của Tú Gàn đích thực là kỹ thuật hành động dành cho một đặc công truyền thông. Tuy nhiên đứng trước trình độ chính trị đã thực sự trưởng thành của đông đảo quần chúng Việt Nam, đứng trước vô số tin tức chính xác xuất phát từ những mạng lưới điện toán thế giới, bom Tú Gàn hiển nhiên không hữu hiệu. Chẳng những vậy, bom Tú Gàn còn ẩn chứa một phản tác dụng. Phản tác dụng kia chính là lời khẳng định đanh thép rằng: Tú Gàn có quyền binh vực CSVN. Đó là chân ý nghĩa của quyền tự do tư tưởng. Thế nhưng quyền tự do tư tưởng tuyệt nhiên không đồng nghĩa với hành động giả vờ đứng trên lập trường dân tộc để phản dân tộc, giả vờ chống cộng để kín đáo phổ biến những luận điệu có lợi cho Cộng Sản. Mỗi giả vờ như vậy là một tác vụ nham hiểm của đặc công truyền thông. Mỗi tiếng nổ của bom đặc công truyền thông là một thú nhận: đặc công truyền thông không thể được chấp nhận như một hình thái đấu tranh chính trị. Đặc công truyền thông hiển nhiên là những tên tội phạm văn hóa chuyên lén lút gây ô nhiễm môi trường truyền thông. Bọn họ là thành phần nội thù khó nhận diện nhất, nguy hiểm nhất, cần phải loại bỏ ở mức độ triệt để và khẩn cấp nhất./.


Đỗ Thái Nhiên

Khai Dân TríĐỗ Thái Nhiên

2014/01/26

NHÂN QUYỀN, TPP VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM


Đỗ Thái Nhiên
     
Kể từ ngày Trung Cộng vươn mình phát triển, Trung Cộng không ngừng quấy nhiễu Hoa Kỳ trên mọi địa bàn: kinh tế, chính trị, quân sự… Những quấy nhiễu kia nhằm trói chân, trói tay Hoa kỳ, để từ đó, Trung Cộng sẽ dễ dàng tiến chiếm ngôi vị đệ nhất siêu cường do Hoa Kỳ nắm giữ trong nhiều thập niên qua...
    
Trận đấu tranh giành ngôi vị đệ nhất siêu cường diễn ra trên nhiều trận địa khác nhau. Bài viết này chỉ nhận định trận chiến kinh tế giữa Mỹ và Tàu thông qua hiệp ước thương mãi xuyên thái Bình Dương, gọi tắt là TPP.

Như chúng ta đã biết, Mỹ đang tìm đường bao vây kinh tế Tàu bằng cách loại bỏ Tàu ra khỏi TPP (một hoat động kinh tế lớn hàng đầu của thế giới). TPP là tổ chức thương mãi gồm 12 nước: Úc, Brunei, Canada, Chilie, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Sau khi thành hình, TPP có khả năng ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của 792 triệu người, dự phần vào 40% tổng sản lượng (GPD) của thế giới và chiếm giữ 1/3 kim ngạch thương mãi của toàn cầu. 
     
Trọng tâm hoạt động kinh tế của Tàu là kinh tế chỉ huy độc quyền, kinh tế quốc doanh, nói chính xác hơn là kinh tế đảng doanh. Nhằm buộc Tàu phải nằm bên lề cuộc chơi, TPP xác định nguyên tắc: TPP là tổ chức thương mãi, giao dịch trên căn bản tư nhân buôn bán với tư nhân, TPP không chấp nhận quốc doanh đè bẹp tư doanh, không chấp nhận buôn bán với Tàu. Riêng đối Việt Nam, do nhu cầu chuyển trục về Á Châu,  Mỹ tạm thời dành cho đảng doanh Việt Nam một vài châm chế với hướng tiến là đảng doanh này sẽ phải từng bước “tư nhân hóa”. Hiện nay khó khăn lớn hàng đầu trong đàm phán giữa Mỹ và VN về TPP chính là công việc xuất cảng hàng hóa may mặc từ VN đi Mỹ.

ÂM MƯU CỦA CSVN
     
Công việc sản xuất quần áo gồm hai công đoạn.  
Công đoạn một bao gồm: trồng bông, xơ, kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất vải. 
Công đoạn hai là may quần áo kèm với dịch vụ hậu cần bao bì. 

TPP đòi hỏi công đoạn một và công đoạn hai đều phải do VN hoặc do một hay nhiều nước thành viên của TPP thực hiện. Có như vậy quần áo của VN khi vào Mỹ mới được hưởng thuế xuất 0%.
     
Trong thực tế CSVN đã dành cho Tàu độc qyền thực hiện công đoạn một. Công đoạn này đạt 75% giá trị của công việc sản xuất quần áo.
     
Công đoạn hai là công đoạn may quần áo. Công đoạn này do thợ VN đảm trách và có giá trị 25% của toàn thể qui trình sản xuất quần áo xuất khẩu. 
     
Suy nghĩ về công đoạn (1) và (2) kể trên mọi người nhận ra ngay rằng Với sự hổ trợ của Việt Cộng, Tàu đã biến cơ hội xuất khẩu quần áo của VN trở thành cửa ngõ để Tầu mang quần áo, vải vóc của Tàu xâm nhập vào ngôi chợ khổng lồ TPP, ngôi chợ mà Tàu bị cấm vào. Về phần mình, thợ may VN chỉ là những người làm gia công may mặc cho Tàu với giá rẽ mạt.  
     
Hành động kia giúp cho CSVN vừa nhận được số tiền khổng lồ do  người Tàu hối lộ, vừa nói cho Bắc Kinh biết rằng CSVN tuy buôn bán  với Mỹ trong TPP, nhưng không hề phản Tàu, vẫn tiếp tục phục vụ Tàu. 
     
Do các âm mưu mô tả ở trên, trong đàm phán với Mỹ về TPP, CSVN nại lý do giá cả nguyên vật liệu mua từ Mỹ hay từ các nước trong TPP quá cao, vì vậy VC yêu cầu Mỹ hãy chấp nhận cho VN vào TPP với biệt lệ: trong ngành may mặc của VN Tàu vẫn phụ trách công đoạn một.  

Phải chăng VN không có khả năng xây dựng một hệ thống may mặc độc lập, không cần nhờ cậy người Tàu?
     
Từ bên trong VN, ngày 15/12/2013, trang website NHỊP CẦU ĐẦU TƯ phổ biến tin tức rằng: tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cố vấn kinh tế của nhiều đời thủ tướng VC, cho biết: ngày 1/6/2013 CSVN quyết định chi ra 30.000 tỉ đồng VN để cứu nguy thị trường bất động sản VN, tức là cứu nguy tài sản của giới đại gia đỏ. TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh chỉ cần chi ra số tiền 15% của 30.000 tỉ đồng là VN có thể tiến hành việc xây dựng hệ thống kỷ nghệ may mặc độc lập, lấy lại công ăn việc làm mà người Tàu đã cướp được từ trong thị trường lao động VN, giao trả lại cho quần chúng VN. Tại sao CSVN không hành động để có được hệ thống may mặc độc lập? Thưa rằng : vì tham ô và vì nhu cầu phải làm tay sai cho Tàu, CSVN phó mặc tương lai VN trong tay Tàu!
     
Trong thời gian gần đây CSVN đã đồng loạt thực hiện các công việc sau đây: Ký tham gia công ước quốc tế chống tra tấn. Vận động có chân trong Hội Đồng NQ/LHQ, cho phép phụ huynh của Trần Huỳnh Duy Thức, Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy đi Mỹ để vận động trả tự do người thân của họ… Tất cả chỉ để gây ảo tưởng là Hà Nội đang tôn trọng nhân quyền để vào TPP.  

PHẢN ỨNG CỦA MỸ 

Tin từ RFA: Nhân chuyến viếng thăm VN, ngoại trưởng Mỹ John Kery ngày 15/DEC/2013 đã trao tặng CSVN số tiền 18 triệu Mỹ kim để giúp VN có thêm khả năng bảo vệ lãnh hải VN trên biển Đông. Kế đến là ngày 16/12/2013, John Kerry lại nhân danh chánh phủ Mỹ tặng Hà Nội 4.200,000 Mỹ Kim gọi là để VN tăng cường năng lực trong đàm phán TPP. Hai tin tức vừa kể cho thấy Mỹ sẽ mở cửa cho CSVN vào TPP là một sự việc phải xảy ra.  
     
Kỹ thuật của behaviorism hối thúc Mỹ, trong giai đoạn đầu của đàm phán hãy nhượng bộ đối phương gần như điều kiện, kể cả cung cấp cho đối phương những tiện ích mà đối phương mong muốn. Sau khi đối phương có dấu hiệu đã nghiên ngập “những chiêu đãi của Mỹ”, Mỹ mới bắt đầu ra tay ép đối phương “phải biết vâng lời”. Đàm phán TPP cũng không ra ngoài thông lệ behaviorism. Sau khi đẩy Hà Nội bước hẳn vào TPP, Mỹ sẽ cho Hà Nội hiểu thế nào là sức gắn bó giữa TPP và nhân quyền, đồng thời buộc Hà Nội phải thực sự tôn trọng toàn bộ luật quốc tế nhân quyền đúng như TPP đòi hỏi. Đó là diễn biến hòa bình, đó là behaviorism trong ngoại thương. Thời gian biến đổi VC trở thành thành-viên nghiêm chỉnh của TPP ngắn hay dài là tùy thuộc ở sức ép của quốc hội Mỹ, các nghiệp đoàn ở Mỹ cùng sự hổ trợ tích cực của cộng đồng VN tại Hoa Kỳ.

          PHẢN ỨNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI MỸ
     
CĐNVN tại Mỹ hãy cùng nhau hội thảo tại nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhau để có thể hiểu biết thấu đáo hai vấn đề căn bản sau đây:
     (1) TPP là gì? Tại sao Mỹ và các quốc gia đồng minh phải xây dựng và kiện toàn TPP?
    (2) Do những yếu tố nào TPP phải gắn bó chặt chẽ với luật quốc tế nhân quyền? Tổ chức Thương Mãi Thế Giới và TPP khác nhau như thế nào?
     
Sau khi đã am tường hai khối vấn đề kể trên, CĐVN tại Mỹ sẽ tích cực tố cáo chi tiết trước quốc hội Mỹ, tổ chức nghiệp đoàn Mỹ và toàn bộ công luận Mỹ về những trường hợp VC vi phạm luật lệ của TPP. Từ đó CSVN sẽ phải chịu những chế tài kinh tế tài chánh nặng nề và thích nghi của TPP, nếu VC không cải cách nghiêm chỉnh và kịp thời.
      
Xin nhấn mạnh: Trung Cộng là quốc gia chà đạp nhân quyền hàng đầu trên thế giới. Muốn cô lập hóa hoạt động thương mãi của Trung Cọng, TPP phải triệt để tôn trọng nhân quyền trong hoạt động thương mãi. Ý tưởng này được triển khai trên nguyên tắc: Mọi người phải được thực sự tự do và bình đẳng trong hoạt động kinh tế (TNQTNQ điều 1, 2: mọi ngươi đều phải được sống tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi) 
     
Quyền lợi hàng đầu của con người là quyền kinh doanh tự do và bình đẳng. Làm gì có tự do và bình đẳng khi quốc doanh đè bẹp tư doanh: đè bẹp bằng tiền vốn, đè bẹp bằng quyền lực thống trị. Muốn tư doanh bình đẳng với quốc doanh, bình đẳng với những tư doanh khác, tư doanh tức con người cần có các quyền tự do đi lại, lập hội, nghiệp đoàn, tư hữu, nhất là tư hữu đất đai, tự do tư tưởng, tự do chính trị, tự do tham chính để trực tiếp bảo vệ quyền tự do kinh doanh của con người … Nói chung để có được tự do kinh doanh, con người cần có toàn bộ nhân quyền. Đó là lý do TPP đòi hỏi các quốc gia trong TPP phải triệt để tôn trọng luật quốc tế nhân quyền./. 
       
Đỗ Thái Nhiên

Khai Dân TríĐỗ Thái Nhiên

2014/01/18

NGỤY VĂN THÀ: HOA MÁU BỪNG NỞ TRONG CÔ NGHIỆT


LS. Đỗ Thái Nhiên

Xâm lăng là hành động chiếm giữ lãnh thổ, biển đảo của quốc gia bị xâm lăng.  Xâm lăng còn là hành động tước đoạt độc lập, tự do của người dân thuộc quốc gia bị xâm lăng thông qua những sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những sinh hoạt có tính liên hệ đến vận mệnh của đất nước …

Xâm lăng xuất phát từ những người cùng chủng tộc kiểu CSVN thống trị xã hội Việt Nam, đó là nội xâm. Xâm lăng xuất phát từ ngoại bang Trung Cộng, đó là ngoại xâm. Ngày 19/01/1974  Trung Cộng mang quân đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam là ngày quốc gia VNCH phải đồng loạt đương đầu với hai cuộc xâm lăng: ngoại xâm Trung Cộng và nội xâm CSVN. Đây là ngày tận cùng cô nghiệt của lịch sử VN. Trong cô nghiệt kia lịch sử Việt Nam đã bừng bừng ngạo nghễ nở hoa.

Kính thưa quý vị

Hoa ở đây là huyết hoa, là hoa máu, máu của bậc anh hùng vị quốc vong thân: ANH HÙNG HẢI QUÂN TRUNG TÁ NGỤY VĂN THÀ. Diễn trình xuất hiện của hoa máu Ngụy Văn Thà xin được trình bày như sau:

Ngụy Văn Thà sanh ngày 16/01/1943 tại Trãng Bàng, Tây Ninh.

Tháng 03 năm 1964, với tư cách sinh viên sĩ quan hải quân, Ngụy Văn Thà tốt nghiệp thủ khoa khóa Đệ Nhất Song Ngư, ngành Chỉ Huy, trường Sĩ Quan Hải Quân VNCH tại Nha Trang.

Thành tích trong binh nghiệp của Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà được ghi nhận bằng 13 huy chương đủ loại, kể cả Đệ Ngủ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Bài viết này chỉ tập trung nói về kỳ tích của anh hùng Ngụy Văn Thà trong trận hải chiến chống Trung Cộng ngày 19/01/1974.

Những khó khăn trước khi lâm trận

1)Lệnh của Tổng Thống
Ngày 16/01/1974 Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải ghi nhận: chiến hạm, tàu đánh cá và lính Trung Cộng xuất hiện tại vùng đảo Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa.

8 giờ sáng 17/01/1974, bằng thủ bút, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duên Hải

Thứ nhất: Ôn hòa mời chiến hạm Trung Cộng rời khỏi lãnh hải của VNCH
Thứ hai: Nếu hải quân Trung Công bất tuân, hải quân VNCH bắn cảnh cáo trước mũi chiến hạm Tàu
Thứ ba: Nếu Tàu vẫn ngoan cố Hải Quân VNCH có toàn quyền sử dung vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của VNCH.

Lệnh của Tổng Thống Thiêu là lệnh “tiên lễ, hậu binh”. Lệnh của TT không hề nhắc tới vai trò của quân đội Mỹ, ý muốn nói VNCH hãy tự lực, tự cường, đừng trông chờ vào người Mỹ.

2)Thế trận của Hải Quân VNCH
Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc tổng chỉ huy trận hải chiến. Hải Đội VNCH gồm 04 chiến hạm, chia ra làm hai phân đoàn

a)Phân đoàn I: nổ lực chính
HQ4: HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng, Khóa 11 HQ
HQ5: HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, HT, Khóa 11 HQ, Đại Tá Hà Văn Ngạc chỉ huy trân đánh từ HQ5

b)Phân đoàn 2: nổ lực phụ
HQ16: HQ Trung Tá Lê Văn Thự,HT, Khóa 10 HQ
HQ10: HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, HT, Khóa 12 HQ. HQ10 hư một trong hai máy chính. Radar không sử dụng được. So với các Hạm Trưởng khác, Ngụy Văn Thà là sĩ quan trẻ tuổi nhất, quân hàm thấp nhất.

3) Vào trận
Thay vì “tiên lễ, hậu binh”, anh hùng Ngụy Văn Thà cùng với chiến hữu hải quân của ông bất ngờ bắn thẳng vào tàu Trung Cộng theo đúng binh pháp “tiên hạ thủ vi cường”. Lệnh “tiên lễ, hậu binh”của Tổng Thống là phép vua. Trong máu lửa của biển cả, Hải Quân VNCH bắt buộc phải hành động theo lệ làng, đó là lệ “tiên hạ thủ vi cường” 

Đặc biệt hơn nữa HQ10 do Ngụy Văn Thà chỉ huy từ nổ lực phụ của phân đoàn 2 đã tiến lên nổ lực chính. HQ10 bắn trước, bắn chính xác và bắn hết mình, gây thương vong nặng nề cho cấp chỉ huy của hải quân Trung Cộng.

Giữa lúc trận hải chiến diễn ra, toán đổ bộ của hai quân VN đang trên đường dùng bè cao su rút về HQ16 đã hát vang bài ‘Việt Nam, Việt Nam” khi toán này chứng kiến cảnh tawu TC bị hải quân VN bắn cháy.

Biết được HQ10 là nguồn hỏa lực chính tạo thiệt hại cho hải quân TC,  các chiến hạm Trung Cộng dồn hải pháo nhắm vào HQ10. Từ đó Thiếu Tá Ngụy Văn Thà Hạm Trưởng và Đại Úy Nguyễn Thành Trí bị trọng thương,  HQ10 bị trúng đạn TC đến độ không thể di chuyển được, hạm trưởng Ngụy Văn Thà  ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ đoàn của ông dùng bè cao su rời bỏ vùng hải chiến. Cuối cùng hạm trưởng Ngụy Văn Thà hiên ngang bám lấy HQ10 đi vào lòng biển.  Đó là truyền thống lạnh lùng nhưng lẩm liệt của giới thuyền trưởng trong những trận hải chiến khốc liệt. Tuy nhiên, không phải thuyền trưởng nào cũng kiên cường như thuyền trưởng Nguy Văn Thà. Chính tính kiên cường kia đã biến cái chết của Ngụy Văn Thà trở thành một bông hoa thật tươi, thật lộng lẫy trên dòng sử của Hải Quân/QLVNCH. Cần nhấn mạnh thêm rằng hoa sử kia được nở rộ nhờ vào máu yêu quê hương thiết tha của Ngụy Văn Thà, người đời gọi tắt là HOA MÁU NGỤY VĂN THÀ.

Kết quả trận hải chiến Ngụy Văn Thà

Trung Cộng: hai hộ tống hạm bị bắn chìm, hai trục lôi hạm bị loại khỏi vòng chiến, một đô đốc, sáu đại tá, hàng chục sĩ quan cấp tá, cấp úy tử thương.

Hải quân VN: HQ10, Trung Tá Ngụy Văn Thà cùng 24 chiến sĩ hy sinh, 26 chiến sĩ mất tích, hai quân nhân người nhái tử thương.

Nhìn vào tổn thất đôi bên người ta nhận ra thiệt hại về phía TC nặng nề hơn . Lý do Hải Quân VNCH áp dụng binh pháp “tiên hạ thủ vi cường”

Những đặc điểm của Hải Quân VNCH trong trận hải chiến

1)Tiên hạ thủ vi cường
2)Trong tử sinh của chiến trân vẫn vang ca VN, VN…  can đảm, lạc quan, yêu nước.
3)Thuyền Trưởng chết theo tàu.

Kết luận:

Tri ân Ngụy Văn Thà, tri ân HQ/QLVNCH nhưng không chỉ tri ân bằng hương hoa, nhang khói, bằng lời lẽ hoa mỹ mà bằng cách đi tiếp con đường chống Tàu của Ngụy Văn Thà. Trong chiến tranh quân sự, Ngụy văn Thà chống Tàu bằng tất cả hỏa lực của các loại vũ khí mà HQ10 của Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà có được. Điều quan trọng hơn cả hỏa lực chính là sự thể rằng mỗi họng súng của HQ10, của QUÂN LỰC VNCH bao giờ cũng được trang bị đầy ắp quyết tâm chống Tàu giữ nước của giòng giống Tiên Rồng. Ngày nay, cũng với lòng yêu nước hừng hực kia, người Việt Nam đang tiếp tục chống xâm lược Tàu trên trận đia kinh tế chính trị. Điều này có nghĩa là không thể có độc lập chính trị nếu không có độc lập kinh tế. Đó là lý do giải thích tại sao bài viết này xin kết thúc với lời kêu gọi người Việt trong và ngoài nước hãy nổ lực trên mọi lãnh vực nhằm gây sức ép buộc nhà cầm quyền CSVN hãy nghiêm chỉnh đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp Ước Thương Mãi Xuyên Thái Bình Dương, Trans-Pacific-Partnership, gọi tắt là TPP. Hiệp Ước này gồm: Úc Brunei, Canada, Chile, Nhật, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. TPP nhằm xây dựng và bảo vệ cho mỗi quốc gia thành viên của TPP có được một hoạt động kinh tế  thịnh vượng, ổn định và độc lập. Độc lập ở đây chính là sự triệt để cô lập hóa ngôi chợ kinh tế Tàu. Chợ này chuyên bán ra những sản phẩm ăn trộm tác quyền của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, những sản phẩm giả mạo, rẽ tiền nhưng rất độc hại./.

17/01/2014   
Đỗ Thái Nhiên

Khai Dân TríĐỗ Thái Nhiên

2013/08/23

NHỮNG NGÀY NẰM BỆNH


Đỗ Thái Nhiên

Bệnh ở đây không là bệnh nóng trán, nhức đầu, không là bệnh vặt. Bệnh ở đây là bệnh của một người “thất thập cổ lai hy”, bệnh của một người đã nghe văng vẳng đâu đây điệu nhạc vĩnh quyết từ cổng nghĩa trang... Trong tình huống cô tịch như vừa kể, những nghĩ và viết của Lê Hiếu Đằng nên được nghiêm chỉnh ghi nhận như một sản phẩm của tĩnh lặng và chân tình. Chân tình có hay không? Chân tình đến mức độ nào?  

I.           Suy nghĩ của Lê Hiếu Đằng

Sau 30/04/1975, ngay giữa Sàigon, nhạc sĩ Nhật Ngân đã hiên ngang và khẳng khái viết lời và nhạc cho nhạc phẩm “Anh giải phóng Tôi hay Tôi giải phóng Anh?”. Ba mươi tám năm sau từ trên giường bệnh, Lê Hiếu Đằng (Bạn cùng lớp với Nhật Ngân tại Trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng) mới long trọng viết câu trả lời:
“Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn Bên thắng cuộc mới đây. Thật sự là Miền Nam đã giải phóng Miền Bắc trên tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, văn hóa, tư tưởng…”
(“Viết trong những ngày nằm bệnh” – Lê Hiếu Đằng)

Năm 1963 Lê Hiếu Đằng và một người bạn tù khác bị giam vì lý do chính trị, nhưng lại được nhà cầm quyền VNCH cho phép rời nhà tù để đi dự thi tú tài II. Nhớ lại sự kiện vừa kể, Lê Hiếu Đằng viết:
“  Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”
(VTNNNB – LHĐ)

Nhớ lại núi tội ác của CSVN sau 1975, Lê Hiếu Đằng mạnh mẽ xác định:
“Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển. …….Hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được.”
(VTNNNB – LHĐ)

Ác với dân bao nhiêu, hèn với giặc bấy nhiêu. Hèn như thế nào? Lê Hiếu Đằng mô tả:
“Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, v.v. Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không? Riêng các vị lãnh đạo ĐCS và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trong ngư trường truyền thống của mình hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta. Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên bộ Ngoại giao. Đến nỗi có những vụ việc lớn càng không dám thực hiện những việc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm phản đối chứ không chỉ là đưa công hàm đến toà đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước này chống các nước khác nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi để chúng ta liên kết với các nước để đấu tranh với Trung Quốc về Biển Đông.” 
( VTNNNB – LHĐ)

II.       Phương pháp luận của Lê Hiếu Đằng

Đứng trước tình cảnh khó khăn mọi mặt của Việt Nam, Lê Hiếu Đằng kêu gọi những người đã từng bị CSVN dối gạt trong “cách mạng giải phóng”, giới trẻ và toàn thể quần chúng Việt Nam hãy vùng lên:
“vùng lên sau một giấc ngủ khá dài để chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân cá nhân mình cũng như gia đình để dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ mà hiện nay đã bị phản bội, chà đạp những lời hứa năm nào trong kháng chiến. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những blogger, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác”. 
(VTNNNB – LHĐ)

Vùng  lên để làm gì? Thưa rằng để đòi dân chủ đa nguyên, đòi xóa bỏ hiến pháp 1972, làm ra hiến pháp mới dưới quyền giám sát nghiêm minh của Liên Hiệp Quốc:
“(CSVN) đã chủ trương phải đổi mới kinh tế bằng cách phải chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là quy luật tất yếu vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được và như vậy điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa. Trước sau gì các vị lãnh đạo của ĐCS phải chấp nhận thách thức này: các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với ĐCS trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như hiện nay Campuchia đã làm………….Cần có quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua hiến pháp mới.Sau đó bầu quốc hội lập pháp.”
( VTNNNB – LHĐ)

III.    Lý thuyết dẫn đạo suy nghĩ và hành động

Muốn tránh tình huống ”nói một đường, làm một nẻo”, hoặc “vừa làm, vừa run”, một người, một tập thể cần phải suy nghĩ và hành động theo một lý thuyết dẫn đạo. Lý thuyết dẫn đạo mà Lê Hiếu Đằng chọn lựa chính là tư tưởng của Nhà Cách Mạng Phan Châu Trinh:
 “Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.”
( VTNNNB – LHĐ )

Lê Hiếu Đằng nhấn mạnh:
“Một khi xã hội dân sự, xã hội công dân mạnh lên, đủ sức kìm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”.
(VTNNNB – LHĐ)

« Chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh » là một khẩu quyết trong tư tưởng Phan Châu Trinh. Chi tiết hóa tư tưởng này chúng ta sẽ có được cả một dàn tư tưởng với đầy đủ :
         Tiền đề triết học
         Qui luật triết học
         Phương pháp luận

Bài “Viết trong những ngày nằm bệnh” của Lê Hiếu Đằng với đầy đủ:
1)Suy nghĩ rất chân tình, rất phù hợp với thực tại đời sống.
2)Ước mơ hành động rất quyết liệt, rất dứt khoát.
3)Suy nghĩ và hành động của Lê Hiếu Đằng được dẫn đạo bởi tư tưởng biện chứng Phan Châu Trinh.

Bởi các lý lẽ trình bày ở trên bài viết này trân trọng thỉnh cầu Bạn Đọc trong cũng như ngoài nước đón nhận “Viết từ những ngày nằm bệnh” của Lê Hiếu Đằng như là cống hiến tư tưởng của một người Việt Nam yêu nước, quyết tâm từ bỏ quá khứ bị dối gạt bởi “cách mạng giải phóng của CSVN”, quyết tâm đấu tranh cho một Việt Nam Dân Chủ Đa Nguyên, Nhân Quyền, Thịnh Vượng và Công Bằng ./.

Đỗ Thái Nhiên

Khai Dân TríĐỗ Thái Nhiên

2013/03/24

Tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam

    Đỗ Thái Nhiên

Đối diện với mỗi tình huống của đời sống, con người đều có những suy nghĩ riêng nhằm giúp cho xã hội có được những ứng xử thích nghi. Đó là mối liên hệ giữa tư tưởng và hiện tình của đời sống. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt Nam.

Tư tưởng Phan Châu Trinh đã chỉ ra rằng: bất cứ xã hội nào cũng có ba khối vấn đề căn bản: dân sinh, dân trí, dân khí.

Dân sinh Việt Nam

Dân sinh là hoạt động của guồng máy kinh tế ở mỗi quốc gia. Hoạt động này làm cho đời sống thể chất của người dân đạt mức cân bằng. Như vậy phục vụ người dân là mục tiêu hàng đầu của kinh tế. Thế nhưng trong thực tế, một số tư nhân đã nhân danh “quyền tự do kinh doanh” của cá nhân để sản sinh ra chế độ tư bản tư nhân.  Chế độ này mở đường cho tệ trạng cá lớn nuốt cá bé trên lãnh vực sản xuất và tiêu thụ. Dĩ nhiên đây là một hình thức hoạt động kinh tế phản nhân quyền.

Đảng CSVN đã nhân danh “quyền làm chủ tập thể” của quần chúng nhân dân để thâu tóm toàn bộ tài nguyên quốc gia vào guồng máy kinh tế độc quyền của đảng. Từ đó, chế độ tư bản nhà nước ra đời. Tư bản nhà nước kiểu Cộng SảnViệt Nam độc hại hơn tư bản tư nhân vạn phần ở điểm  đảng viên Cộng Sản Việt Nam hành sử quyền ưu tiên trong kinh doanh với sự hổ trợ tích cực của hệ thống quyền bính do đảng CS tổ chức và điều động. Vụ Vinashin 2006 và các năm kế tiếp gây thiệt hại cho ngân quỹ quốc gia khoảng 4 tỷ Mỹ Kim. Mới đây, 01/2013, qua những tranh cãi giữa Thanh Tra Chính Phủ và ông Văn Hữu Chiến Chủ Tich UBND TP Đà Nẵng, dư luận được biết TP Đà Nẵng và các tỉnh, thành khác thông qua tác vụ “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đã tham nhũng số tiền nhiều tỷ Mỹ Kim( Báo Thanh Niên 19/01/2013).  Hai vụ tham nhũng vừa nêu chỉ là hai giọt nước trong biển tham ô tại Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản.  Tham ô là ác quỷ của dân sinh. Vì vậy , một trong những mục tiêu hàng đầu của tư tưởng Phan Châu Trinh là lời dặn dò: mọi người Việt Nam hãy quyết tâm xây dựng cho người dân một đời sống sung mãn trong no và ấm: HÂỤ DÂN SINH.  Muốn có được hậu dân sinh, người dân Viêt Nam phải đấu tranh đòi hỏi CSVN, một tập thể độc tài và tham ô, phải trả lại quyền điều hành guồng máy quốc gia vốn của nhân dân, về lại với nhân dân.


Dân trí Việt Nam

Có ý kiến cho rằng “hiểu biết là sức mạnh”. Thật vậy, muốn có sức mạnh để diệt trừ tham ô và để xây dựng cuộc dân sinh hạnh phúc, dân trí ( hiểu biết của người dân ) phải được nâng cao. Dân trí gồm hai mặt: 

1)Giáo dục đời sống thể chất: Giúp con người có nghề nghiệp để sinh sống tự lập. Đồng thời, nuôi sống gia đình, tiếp tay xây dựng xã hội.

2)Giáo dục đời sống tinh thần: Giúp con người hiểu biết quyền và nghĩa vụ làm người. Đây là lãnh vực giáo dục dân trí mà nhà ái quốc Phan Châu Trinh nhấn mạnh là KHAI DÂN TRÍ . Từ nhiều thập niên qua, do gian ý bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị đất nước để tự do tham ô và củng cố quyền hành, chế độ CSVN áp dụng chính sách giáo dục hai mặt:

                  Một là giáo dục học đường: sinh viên học sinh được nhồi sọ là phải trung với đảng, hiếu với dân. “Hiếu với dân” chỉ là lời dạy sáo ngữ. Trung với đảng là đảng nói sao, phải nghe vậy, mọi phản biện đối với đảng đồng nghĩa với  đaị phản động.

                 Hai là giáo dục xã hội: CSVN ngấm ngầm truyền bá loại văn hoá cá nhân hưởng thụ, tiền bạc là trên hết, dối gạt là thông minh. Từ đó con người sống trong xã hội chẳng khác gì con vật sống với bầy, đàn động vật: chỉ biết “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”, tương lai của đất nước đã có đảng lo.  Một cách căn bản, đảng có hai điều lo: lo tham ô và lo hạ cánh an toàn.

Dân trí Việt Nam ngày nay là “dân trí bỏ rơi việc nước”. Đối diện với “dân trí ngu dân” kia. Tư tưởng Phan Châu Trinh hô hào “ Khai dân trí ”.  Khai ở đây là mở trí cho người dân để họ hiểu rằng lương tâm làm dân đòi hỏi người dân có bổn phận tích cực tham dự việc nước thông qua cấu trúc chính trị dân chủ đa nguyên.


Dân Khí  Việt Nam

Dân gian thường nói: “ Có thực mới vực được Đạo”.  Đạo ở đây là đạo yêu nước. Thực là dân sinh. Thấy và hiểu được Đạo là dân trí.  Có đủ sức và đủ can trường để “Vực Đạo” hay không, đó là vấn đề dân khí. Làm thế nào để củng cố và tăng cường dân khí, để chấn dân khí? Những hành động của Phan Châu Trinh trong đấu tranh chánh trị để phục vụ tổ quốc là lời giải đáp cho câu hỏi vừa nêu. 

Tại Quảng Nam, mùa hè năm 1906 cùng với hai nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,  trong một lần vận động cho tư tưởng Duy Tân, Phan Châu Trinh đã kêu gọi quần chúng Việt Nam hãy “Tự lực khai hoá”. Lời kêu gọi vừa kể hàm ý: chỉ có người Việt mới yêu thương người Việt, chỉ có người Việt mới có khả năng bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam. 

Phan Bội Châu sanh năm 1867. Phan Châu Trinh sanh năm 1872. Cả hai nhà chí sĩ này đều chống Pháp dứt khoát.  Phan Bôi Châu chủ trương chống Pháp bằng hoả lực quân sự.  Phan Châu Trinh chủ trương chống Pháp bằng cách vừa tự lực khai hoá quần  chúng ( hậu dân sinh, khai dân trí, chấn dân khí ) vừa vận dụng mọi tác động của mặt trận văn hoá, chính trị, quốc nội, quốc tế để từng bước một lấy lại độc lập cho Viêt Nam. Mặc dầu khác đường lối đấu tranh nhưng hai chí sĩ họ Phan vẫn giữ lòng thân mến và tương kính, giữa hai người không hề có một tranh cãi phủ định đối phương.  Dị biệt tư tưởng nhưng vẫn chấp nhận lẫn nhau trên lý tưởng độc lập dân tộc.  Đó là chân ý nghĩa của dân chủ đa nguyên. 

Phan Châu Trinh vừa chống thực dân Pháp vừa chống những phong tục tập quán tệ hại trong xã hội Việt Nam hồi bấy giờ. Ông chống kiểu học từ chương, chống mê tín, dị đoan.  Ông kêu gọi học quốc ngữ, cắt tóc ngắn, cắt móng tay… Phan Châu Trinh là nhà cách mạng đấu tranh cho một xã hội Việt Nam văn minh nhân bản.  Phương pháp đấu tranh của Ông có tính can trường, dứt khoát, bền bỉ nhưng tuyệt đối tránh quá khích, tránh vơ đũa cả nắm.

Những suy nghĩ và hành động của Phan Châu Trinh trong nỗ lực chống thực dân Pháp đã cô đọng lại thành lời minh xác rằng: muốn tổ quốc Việt Nam trường tồn và thịnh vượng mỗi cá nhân công dân cần tu học nhiệt tình yêu nước, toàn bộ dân tộc phải bền bỉ xây dựng và phát triển nội lực dân tộc trên nền tảng đoàn kết và tương nhượng của tư tưởng dân chủ đa nguyên.  Đó là dân khí.  Mức độ dân khí tại Việt Nam ngày nay được thẩm định thông qua hai sự kiện: 

Một là thái độ “bỏ rơi việc nước” của một thành phần quần chúng. Thái độ này là hậu quả của chủ trương “dân trí ngu dân” của nhà cầm quyền CSVN. 

Hai là chính sách “ ác với dân, hèn với giặc” của giới đương quyền Hà Nội. 

Các sự kiện nêu trên vừa đẩy dân khí của quần chúng Việt Nam xuống tới mức thấp nhất vừa làm cho đại hoạ Bắc xâm ngày càng tiến gần tới quả tim Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, chấn dân khí là xuất phát điểm tiên khởi của con đường cứu nước.  

Lịch sử loài người đã cho thấy: giới tu sĩ phải mất biết bao công lao và thời giờ cho công cuộc truyền bá một đạo giáo. Dân khí cần được xem trọng như tôn giáo. Mỗi người Việt Nam hãy là một giáo sĩ của đạo DÂN KHí.  Có như vậy dân khí mới thực sự có cơ hội được chấn hưng. 

Tóm lại,

Dân sinh Việt Nam hiện bị đè bẹp dưới ách kinh tế quốc doanh tham ô và bóc lột. Guồng máy kinh tế phi nhân này được nguỵ danh dưới tên gọi “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Dân trí Việt Nam hiện bị hôn mê trong văn hoá bầy đàn của động vật:  mỗi con vật chỉ biết và chỉ có khả năng “chăm sóc cho bộ lông của chính nó”. Cha đẻ của loại văn hoá động vật kia chính là đảng CSVN.

Dân khí Viêt Nam hiện đang bị hai tảng đá dân sinh và dân trí như vừa mô tả kéo tuột dốc theo tốc độ ngựa phi.

Làm thế nào người Việt Nam có thể biến phương châm “Hậu dân sinh, Khai dân trí, Chấn dân khí” trở thành hành động sống cụ thể của xã hội?  Câu trả lời nằm ở lương tri ái quốc của mỗi người Việt Nam và ở kho tàng tư tưởng cách mạng của Chí Sĩ Phan Châu Trinh./.


Đỗ Thái Nhiên  (03/2013)

Khai Dân TríĐỗ Thái Nhiên