Showing posts with label Phạm Đình Trọng. Show all posts
Showing posts with label Phạm Đình Trọng. Show all posts

2016/10/24

ĐÚNG QUY TRÌNH

ĐÚNG QUY TRÌNH

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Anh em, con cháu, họ hàng nội ngoại của ông quan đầu huyện, đầu tỉnh được bổ nhiệm cấp tập, vội vã, dấm dúi vào những chiếc ghế quan chức trong huyện, trong tỉnh rồi lại được cơ quan tổ chức bộ máy nhà nước trung ương xác nhận việc bổ nhiệm dấm dúi đó là đúng qui trình!

Nhà nước phong kiến thối nát cũng không đốn mạt đến mức đẻ ra cái qui trình bất lương để những cậu ấm cô chiêu hoàn toàn vắng bóng tài năng, vắng bóng nhân cách, vắng bóng cả trong những lúc khó khăn của dân của nước bỗng sỗ sàng nhảy tót lên những chiếc ghế quyền lực của những hiền tài.

Ở thời xa xưa, ở thang bậc văn minh rất thấp, cá nhân chưa được nhìn nhận, con người công dân chưa có. Sơn hà xã tắc là của vua. Nhà nước của vua. Người dân cũng chỉ là bầy đàn, là thần dân, là tôi tớ của vua. Vua cho ai sống thì được sống, bắt chết thì phải chết, không chết là bất trung. Ở thời mông muội, dã man đó người dân cũng không bị bộ máy nhà nước phong kiến khinh bỉ đến mức coi dân đen như cỏ rác, quan chức ngang nhiên kéo cả nhà, cả họ đạp lên mặt dân, ngồi lên đầu dân.

Ở thời quyền con người chưa được nhìn nhận đó nhà nước phong kiến vẫn coi trị nước an dân là điều quyết định sự suy thịnh, mất còn của nước nên không có thứ quan tắt, không có chuyện cả nhà, cả họ thậm thụt đôn nhau, nâng đỡ nhau ra làm quan. Nhà nước phong kiến ở thời ngưng đọng, tối tăm đó vẫn biết quí trọng hiền tài như báu vật, như nguyên khí quốc gia, vẫn chăm chút, đều đặn tổ chức những cuộc thi nghiêm ngặt, công bằng, từ thấp đến cao, thi hương, thi hội, thi đình, tìm hiền tài trong dân để nhà vua ban mũ, áo, võng, lọng, cờ, biển công bố công khai, rộng rãi người đủ tài đức bổ nhiệm vào bộ máy trị nước an dân. Những hiền tài trong dân được phát hiện, trong dụng đã để lại những tên tuổi rực rỡ trong thời gian, trong sử sách như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Giang Văn Minh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Nguyễn Quý Đức . . .

Đến cách mạng tư sản dân quyền, Tự do – Bình đẳng – Bác ái, mở ra thời văn minh công nghiệp, văn minh đô thị. Người dân trở thành công dân tự do và mọi công dân tự do, từ người đứng đầu nhà nước đến người dân thường đều bình đẳng trước pháp luật, đều là người thực sự làm chủ đất nước. Được quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước và bằng lá phiếu người dân bầu ra lực lượng chính trị cầm quyền. Đó là nội hàm, là giá trị, là quyền lực của công dân tự do.

Thông đồng cùng nhà đầu tư, quan cai trị nhắm mắt kí duyệt cho nhà đầu tư hối hả đắp đập, trữ nước, xây hết nhà máy thủy điện này đến nhà máy thủy điện khác. Hàng trăm ngàn hecta rừng nguyên sinh mang hồn rừng, là cội nguồn của dòng văn hóa rừng đặc sắc, trong mát, cổ xưa, lâu đời chìm nghỉm, mất trắng dưới đáy hồ thủy điện. Làm thủy điện chỉ để kinh doanh, chỉ nhằm lợi nhuận, đầu tư thấp nhất, thời gian xây dựng lẹ nhất, sinh lời sớm nhất. Hậu quả: Chỉ vài trận mưa bình thường, nước dồn về hồ thủy điện đã vượt giới hạn an toàn. Nhà máy thủy điện vội tháo van xả nước bảo đảm an toàn cho nhà máy, bảo đảm an toàn đồng vốn và lợi nhuận của nhà đầu tư. Nhưng dưới hạ lưu hồ thủy điện, hàng ngàn ngôi nhà dân bị nước xả thủy điện cuốn ra sông ra biển, hàng chục người dân bị lũ xả dìm chết chìm thì nhà đầu tư và quan cai trị đều nói việc xả lũ của nhà máy thủy điện là đúng qui trình.
Người dân không bị gạt ra rìa trong qui trình bổ nhiệm bộ máy công bộc của dân mà người dân là chủ thể của qui trình đó. Qui trình đó là: Hướng tới người dân. Tìm hiền tài trong dân. Tìm công bộc của dân. Và những công bộc đó đều tâm niệm phục vụ dân chứ không phải là quan cai trị hành dân, hống hách với dân, bóp nặn dân. Trong qui trình đó còn có cả cơ chế, cả luật pháp để giữ liêm sỉ cho công bộc và để người dân giám sát bộ máy công bộc, người dân có quyền loại bỏ những công bộc kém cỏi, không xứng đáng.

Đấy là những nhà nước đã qua cách mạng tư sản dân quyền, những nhà nước có cạnh tranh chính trị bằng đa nguyên và những nhà nước theo đuổi lí tưởng xã hội dân chủ. Không qua cách mạng tư sản dân quyền, cướp chính quyền bằng bạo lực cách mạng vô sản, vô đạo lí và vô luật pháp, nhà nước cộng sản Việt Nam độc tài đảng trị đã đi ngược với bước tiến đến văn minh của loài người, kéo xã hội Việt Nam lùi lại sau cả thời phong kiến ngưng đọng, tối tăm.

Điều khác nhau giữa nhà nước của cách mạng tư sản dân quyền và nhà nước của cách mạng vô sản là:
Nhà nước tư sản dân quyền coi người dân là chủ thể, đưa người dân lên vị trí người chủ đất nước, người chủ xã hội, nhà nước chỉ là công bộc phục vụ người dân, chỉ là công cụ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của người dân.

Còn nhà nước vô sản coi người dân là đối tượng phải chuyên chính, phải cải tạo, phải giáo dục! Câu cửa miệng của những người cộng sản là đảng viên phải giáo dục quần chúng. Trong trường đại học, đảng viên là cô văn thư đánh máy, chưa tốt nghiệp trung học, là bà tạp vụ và quần chúng là ông tiến sĩ, giáo sư giảng dạy ở trường. Và bà tạp vụ đảng viên có trách nhiệm phải giáo dục ông giáo sư! Chuyên chính và cải tạo bằng bạo lực đấu tranh giai cấp sắt máu mất tính người. Người dân chỉ là kho sức người và đất nước chỉ kho tài nguyên để nhà nước vô sản hối hả khai thác làm nghèo đất nước nhưng làm giầu cho những nhà cai trị để những nhà cai trị đó càng gắn chặt với nhà nước độc tài đảng trị, càng kiên trì sống chết với độc tài đảng trị.

Hành xử của nhà nước vô sản với đất nước, với người dân là hành xử của đội quân cai trị, đội quân chiếm đóng, đội quân cướp đoạt không từ một thứ gì. Cướp đoạt chính quyền. Cướp đoạt quyền lực. Cướp đoạt đất đai. Cướp đoạt nguồn sống của dân. Chứ không phải hành xử của một nhà nước.

Ở cấp nhà nước, nhà nước cộng sản chiếm đoạt quyền lực của người dân bằng điều 4 Hiến pháp. Không cần phiếu bầu của dân, sỗ sàng và ngạo ngược, đảng cộng sản tự cho mình quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, dù ngày nay đảng chỉ là tập hợp của những bất tài và tham nhũng.

Ở cấp địa phương, cấp bộ, ngành, những quan chức bất tài và tham nhũng ráo riết vơ vét, bóp năn dân và đưa con cháu họ hàng phủ kín những chiếc ghế cai trị để củng cố quyền lực của dòng họ cai trị. Dân đen chỉ là kẻ bị trị nên chiếc ghế cai trị là của riêng các quan. Nhưng một dòng họ không thể phủ kín những chiếc ghế cai trị mà phải có ít nhất vài dòng họ. Những dòng họ làm quan luôn tranh giành, đấu đá nhau vì những chiếc ghế cai trị đầy quyền uy và bổng lộc. Vì thế mà một sớm tháng tám mùa thu cách mạng năm 2016 này, tiếng súng Yên Bái đã vang lên, dòng máu của ba dòng họ cai trị dân lênh láng công đường Yên Bái. Tất cả đều đúng qui trình!

Thông đồng cùng nhà đầu tư, quan cai trị nhắm mắt kí duyệt cho nhà đầu tư hối hả đắp đập, trữ nước, xây hết nhà máy thủy điện này đến nhà máy thủy điện khác. Hàng trăm ngàn hecta rừng nguyên sinh mang hồn rừng, là cội nguồn của dòng văn hóa rừng đặc sắc, trong mát, cổ xưa, lâu đời chìm nghỉm, mất trắng dưới đáy hồ thủy điện. Làm thủy điện chỉ để kinh doanh, chỉ nhằm lợi nhuận, đầu tư thấp nhất, thời gian xây dựng lẹ nhất, sinh lời sớm nhất. Hậu quả: Chỉ vài trận mưa bình thường, nước dồn về hồ thủy điện đã vượt giới hạn an toàn. Nhà máy thủy điện vội tháo van xả nước bảo đảm an toàn cho nhà máy, bảo đảm an toàn đồng vốn và lợi nhuận của nhà đầu tư. Nhưng dưới hạ lưu hồ thủy điện, hàng ngàn ngôi nhà dân bị nước xả thủy điện cuốn ra sông ra biển, hàng chục người dân bị lũ xả dìm chết chìm thì nhà đầu tư và quan cai trị đều nói việc xả lũ của nhà máy thủy điện là đúng qui trình.

Nhà máy thủy điện xả lũ đúng qui trình. Nhà dân bị lũ xả cuốn trôi và người dân bị lũ xả dìm chết cũng đúng qui trình. Đó là cái qui trình coi dân chỉ là kho sức người để quan cai trị sử dụng, bóp nặn và đất nước chỉ là kho tài nguyên để quan cai trị tùy tiện khai thác, vơ vét cho lợi ích nhà quan!

PHẠM ĐÌNH TRỌNG
24/10/2016

Khai Dân TríPhạm Đình Trọng

2015/02/17

LỬA ĐÃ NỔI LÊN RỒI: THỜI DÃ MAN (01)

LỬA ĐÃ NỔI LÊN RỒI
Bài số 1

 THỜI DÃ MAN
HỒ TẤN VINH

Tuần rồi, nhà văn Phạm Đình Trọng lấy cả tâm huyết viết bài THỜI NGỤC TÙ. Ông tố cáo chế độ CS đã biến đất nước thành một nhà tù. Có những nhà tù nhỏ nhốt nhiều người trong mấy thước vuông. Có cả cái nhà tù lớn mà người dân bước ra khỏi nhà lại phải bị năm ba công an theo dõi, chận hỏi muốn đi đâu, muốn làm cái gì?

Ôi, trong nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam, việc bắt dân, tống người dân lương thiện vào ngục tù quá đơn giản, dễ dàng và mạng người dân quá rẻ mạt!
3. Suốt mấy chục năm cầm quyền, nhà nước cộng sản Việt Nam đã bắt bớ, tù đày, giết hại hàng triệu người Việt Nam lương thiện. Sẽ có những nhà nghiên cứu, những nhà làm sử chân chính tập hợp tư liệu, thống kê đầy đủ để có con số chính xác số người dân lương thiện bị nhà nước chuyên chính vô sản Việt Nam tù đày, giết hại. Con số dòng dòng máu đó sẽ đi vào lịch sử là bằng chứng về một thời ngục tù đau đớn nhất của dân tộc Việt Nam và lịch sử sẽ phán xét cái thể chế khẳng định sự có mặt, duy trì sự tồn tại bằng lạnh lùng, mê mải, bền bỉ giam cầm thân xác, giam cầm trí tuệ, giam cầm tư tưởng người dân và say máu dân lành.

Từ ngữ ‘ngục tù’ hàm chỉ sự nhốt người, hạn chế sự đi lại. Chế độ ngục tù như thế tưởng là kinh khiếp lắm rồi, nhưng THỜI NGỤC TÙ đã tổng kết nhưng chưa nói đến chi tiết những gì xẩy ra trong chốn lao lý ấy.

Bức thư trần tình của TS Nguyễn Thanh Giang mục đích sơ khởi kêu gọi giúp đỡ, lại phơi bày một trường hợp cụ thể những gì xảy ra trong tù đã đưa đất nước từ THỜI NGỤC TÙ đến mức độ THỜI DÃ MAN (cuốn Từ Điển Tiếng Việt của Việt Cộng – (Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lâm) định nghĩa  ‘dã man = tàn ác theo lối loài thú. ‘thời đại dã man =  thuộc về một giai đọan phát triển của xã hội loài người thời nguyên thủy, khi đời sống con người vẫn còn những mặt gần với đời sống thú vật, chưa có văn minh).

A. THƯ TRẦN TÌNH

Thưa quý anh chị

Anh chị em dấn thân vì nền dân chủ ở Việt Nam nói chung sống rất khốn khổ về cả tinh thần lẫn vật chất. Riêng tôi, nhờ lương hưu không thấp, các con cũng khá giả nên cũng đỡ. Gặp gỡ, quen biết nhiều anh chị em tôi không chỉ mủi lòng mà rất thương tâm, nhưng cá nhân không biết làm thế nào cho thỏa đáng được.

Thư này tôi xin đơn cử trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên.

Cô Nghiên là một chiến sỹ dân chủ dũng cảm, ngoan cường, tài trí. Cô đã dấn thân rất sớm và có nhiều đóng góp rất đáng ngưỡng mộ.

Cô Phạm Thanh Nghiên năm nay gần bốn mươi tuổi, không chồng con, không công ăn việc làm, cha mẹ đều đã mất. Hiện cô đang nằm tại bệnh viện Hải Phòng, người gầy đét, không biết cân nặng có đủ 30kg không. Cô bị suy nhược vì mấy năm tù, nay lại mắc thêm nhiều bệnh trầm trọng.

Mong các vị quan tâm động viên thăm hỏi và cứu trợ thuốc thang.

Mobi của cô Nghiên: 01265991374. Email: tuoidabuonhp@gmail.com

Xin đa tạ

Nguyễn Thanh Giang
6 tháng 2 năm 2015


B. NHỮNG TỘI ĐỒ CHỨC CAO QUYỀN TRỌNG

60 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đã đưa đến nhiều đau khổ cho người dân Việt. Muốn kể ra thì làm sao kể hết được. Tôi chỉ xin lấy ba trường hợp sau đây.

1. Đem phụ nữ giao cho ngoại quốc để lấy tiền mà không màng đến số phận của họ.
2. Để trẻ thơ thiếu ăn thiếu mặc, làm lụng vất vả. Bịnh hoạn thì không có chế độ nhập viện hay thuốc thang. Thì còn nói chi đến việc học hành. Các học bổng của ngoại quốc cho đều đã bị các ‘lão thành cách mạng’ dành cho con em trong  gia đình hết rồi.
3. Và cuối cùng, ngang nhiên tra tấn, đánh người để bức cung. Ngang nhiên hành hạ tù nhân cho đến chết hoặc khi được thả ra rồi thì cũng là thân tàn ma dại.

Tôi có bịa đặt ra cái gì không? Hay đây là những gì mà người dân hằng ngày đều có chứng kiến. Như vậy thì đây đúng rồi là một thời không có nhân tình, THỜI DÃ MAN.

Đâu có thể đổ thừa cho mấy đứa thiên lôi. Người dân đau khổ trong lúc các ông cai trị, các ông Chủ Tịch Nước, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Thủ Tướng Chánh Phủ, trong lúc còn có thể làm gì coi được thì làm liền đi đừng để mang danh muôn năm là tội đồ của dân Việt.

HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 17 tháng 2 năm 2015
(còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

2015/01/29

THỜI NGỤC TÙ

THỜI NGỤC TÙ
PHẠM ĐÌNH TRỌNG

1. Khi chưa có chính quyền, những người cộng sản liền vu cho chính phủ hợp pháp và là chính phủ tập hợp được những trí thức có trí tuệ uyên bác và mặn nồng yêu nước, chính phủ Trần Trọng Kim là tay sai của giặc Nhật rồi kích động bạo lực nhân dân cướp quyền của chính phủ hợp pháp đó. Suốt 70 năm qua, tất cả tài liệu, sách báo của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đều phải thú nhận với lịch sử rằng cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 là cuộc cướp chính quyền. Hành xử kẻ cướp tất nhiên là bất chính và bất minh.

Có chính quyền cướp được trong tay, những người cộng sản cầm quyền lại vu cho những người Việt Nam có tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, thành phần ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là kẻ thù của giai cấp vô sản rồi dùng bạo lực nhà nước thẳng tay đàn áp, tiêu diệt. Những chiến dịch đấu tố, bỏ tù, giết hại những người Việt Nam yêu nước, lương thiện và tài năng diễn ra dồn dập gối đầu sóng từ khi mới có chính quyền Xô Viết ở một miền quê Nghệ Tĩnh đến tận hôm nay. Khi dữ dằn hung bạo như cuộc truy lùng tận diệt của gậy gộc giáo mác “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trong Xô Viết Nghệ Tĩnh. Khi sôi sục hận thù giết cho đủ tỉ lệ qui định như trong phát động cải cách ruộng đất. Khi âm thầm mà tàn khốc như cuộc tạo dựng vụ án xét lại chống đảng. Khi ồn ào lu loa đánh hội đồng như vụ Nhân Văn, Giai Phẩm. Khi đại trà lùa hàng trăm ngàn người Việt đối lập ý thức hệ cộng sản vào vòng tù tội trong các trại cải tạo khắc nghiệt. Khi bất ngờ đưa lực lượng đông đảo bạo lực nhà nước xông vào nhà dân bắt lẻ từng người, từng người một.

Một nhà nước say bạo lực, nghiện bạo lực như con bệnh nghiện ma túy. Một nhà nước có duyên nghiệp với bạo lực, là nghiệp chướng của bạo lực. Một nhà nước độc quyền lòng yêu nước, độc quyền cả chân lí, coi những tiếng nói thẳng thắn, chân thành, đúng đắn nhưng trái với lí tưởng của đảng cầm quyền đều là sai trái, là suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống, là thế lực thù địch và luôn ứng xử với tiếng nói của lẽ phải, của lòng dân bằng bạo lực chuyên chính vô sản thì bạo lực nhà nước nay bắt người ngay thẳng này, mai bắt người chân thành kia đã là chuyện thường ngày suốt bảy chục năm qua và chín mươi triệu người dân lương thiện chỉ là những người tù, hoặc người tù chính thức đang trong các trại giam, hoặc người tù dự bị còn ở ngoài cổng trại giam mà thôi!

Riêng việc gần đây công cụ bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam cấp tập bắt ba bloggers và người viết báo mạng nổi tiếng được rất nhiều người tìm đọc là Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Đình Ngọc tạo nên một không khí trấn áp, căng thẳng, bất an trong xã hội có cơn cớ từ sự khủng hoảng lí tưởng của đảng cộng sản cầm quyền. 

Lí tưởng cộng sản của học thuyết Mác Lê nin đã được thực tế lịch sử chứng minh là thảm họa của loài người, đã ầm ầm sụp đổ dây chuyền trên phạm vi thế giới như một tất yếu. Lí tưởng cộng sản được thực hiện bằng đấu tranh giai cấp không còn đạo li, không còn tính người và đấu tranh giai cấp đã vạch trận tuyến chiến tranh một mất một còn trong từng con người, từng gia đình, trong lòng cả dân tộc Việt Nam, đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc chiến tranh người Việt giết người Việt kéo dài nhiều thế hệ. Cả chục triệu người Việt đã chết trong cuộc nội chiến ý thức hệ vì lợi ích của nước khác.

Học thuyết Mác Lê nin đưa giai cấp vô sản hão huyền lên trên dân tộc thiết thực làm cho dân tộc Việt Nam tuy bé nhỏ nhưng “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu . . . Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” (Nguyễn Trãi. Bình Ngô đại cáo) nay thực sự không còn độc lập, tự chủ, phải cam phận chư hầu tủi nhục. Phải cắn răng cắt đất biên ải của lịch sử hào hùng cho nước cộng sản đàn anh Trung Cộng tham tàn. Phải “giữ nguyên hiện trạng” mất đất, mất biển, mất đảo cho nước cộng sản đàn anh Trung Cộng tham tàn làm chủ quần đảo Hoàng Sa, làm chủ dải đảo Garma, làm chủ biển đông của Việt Nam.

Học thuyết Mác Lê nin là nguyên nhân làm cho đất nước Việt Nam trì trệ, ngày càng tụt lại sau, người dân nghèo đói, đạo lí suy đồi, xã hội bất an, mọi giá trị đảo lộn. Ê chề, mất mát, đau khổ, tủi nhục do học thuyết Mác Lê nin tàn bạo, sắt máu mang lại, dòng người Việt lũ lượt bỏ nước ra đi kéo dài suốt nửa thế kỉ đến nay vẫn chưa chấm dứt. Tiếng than trời, lời chối bỏ của người dân với học thuyết Mác Lê nin tràn ngập trên các trang mạng xã hội lề dân. 61 trí thức đảng viên cộng sản trung thực đã thẳng thắn viết thư gửi lãnh đạo đảng cộng sản cầm quyền yêu cầu từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin tai họa.

Đảng cộng sản cầm quyền đang gấp rút làm công việc chuẩn bị cho đại hội đảng lần thứ XII trong không khí và tình thế đó. Trong khi những người thực sự nắm quyền trong đảng cộng sản đều muốn khư khư duy trì học thuyết Mác Lê nin để duy trì quyền lực độc tài, duy trì vị thế thống trị xã hội của họ, bảo toàn khối tài sản khổng lồ nhờ có học thuyết Mác Lê nin, nhờ có độc tài đảng trị họ mới có được. Vì thế họ phải vận hành bộ máy công cụ bạo lực nhà nước bắt bớ chủ những trang mạng và người viết báo mạng lề dân gây dư luận rộng rãi phản ứng bất lợi với học thuyết Mác Lê nin và đảng cộng sản, để đảng cộng sản bước vào đại hội tiếp tục kiên trì học thuyết Mác Lê nin.

2. Lịch sử viết bằng máu của cha ông dạy rằng: Trước sức mạnh xâm lược thường trực suốt mấy ngàn năm của đế quốc phương Bắc khổng lồ, dân tộc Việt Nam bé nhỏ chỉ có đoàn kết dân tộc mới giữ được bản sắc văn hóa riêng, mới tạo ra sức mạnh để tồn tại và phát triển. Nhưng những người cộng sản đã rước về mớ lí luận đấu tranh giai cấp xằng bậy của học thuyết Mác Lê nin, ngón đòn độc địa, thâm hiểm của Mao Đại Hán, lấy giai cấp thống trị dân tộc, lấy giai cấp đánh phá tan nát dân tộc, làm yếu hèn dân tộc Việt Nam để dân tộc Việt Nam phải an phận núp bóng Đại Hán, an phận chịu nô dịch Bắc thuộc.

Từ bỏ học thuyết Mác Lê nin bạo liệt sắt máu gây hận thù, li tán dân tộc, từ bỏ lí tưởng xã hội chủ nghĩa huyễn hoặc, vô vọng “đến cuối thế kỉ này cũng chưa chắc đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” như lời thú nhận của ông Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, từ bỏ độc quyền chân lí, độc tài cai trị đất nước bằng bạo lực chuyên chính vô sản là lẽ sống còn của dân tộc Việt Nam. Đó là đòi hỏi nghiêm khắc của lịch sử hào hùng Việt Nam, là tiếng nói khẩn thiết của cả dân tộc Việt Nam. Tiếng nói đó được Hồng Lê Thọ thể hiện bằng trang mạng “Người Lót Gạch”, được nhà văn Nguyễn Quang Lập diễn đạt bằng giọng điệu “Quê Choa”, được Nguyễn Đình Ngọc viết bằng văn phong Nguyễn Ngọc Già.

Bạo lực nhà nước chuyên chính vô sản có thể bắt ba người ngay thẳng đó, có thể bắt ba ngàn người, ba triệu người Việt Nam yêu nước, dũng cảm nói tiếng nói của cuộc sống, của nhân dân nhưng không thể bắt cả dân tộc Việt Nam đòi quyền làm người, đòi lại những giá trị làm nên sự bền vững và trường tồn của dân tộc Việt Nam. Bạo lực cường quyền dù mạnh, dù hung hãn đến đâu cũng không thể khuất phục được khát vọng chính đáng của nhân dân, không thể chống lại đòi hỏi khẩn thiết của lịch sử, không thể đi ngược xu thế tất yếu của thời đại dân chủ hóa.

Với bộ máy công cụ công an khổng lồ, cuồng tín, chỉ biết có đảng, với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa mà hệ thống luật pháp chỉ để bảo đảm sự độc tôn thống trị xã hội của đảng cộng sản và tòa án xử theo bản án có sẵn trong hồ sơ do cấp ủy đảng ban hành. Đó là không gian vô cùng rộng lớn cho bạo lực chuyên chính vô sản mặc sức hoành hành.

Cha Chính Vinh ở nhà thờ lớn Hà Nội chỉ vì ngăn cản nhóm người ngạo ngược, đường đột xâm phạm không gian tôn giáo, tự tiện bắc thang leo lên hai tòa tháp nhà thờ lớn treo cờ, giăng khẩu hiệu mà bị tù mút mùa ở địa ngục Cắn Tỷ, Cổng Trời, Hà Giang từ năm 1958 cho đến chết vì đói khổ suy kiệt, năm 1971.

Nhà thơ Hoàng Hưng chỉ vì cầm tập thơ chép tay Về Kinh Bắc do nhà thơ Hoàng Cầm tặng mà bị bắt khẩn cấp giữa đường. Về Kinh Bắc viết về những hoài niệm thời ấu thơ thấm đẫm chất folklore, văn hóa dân gian Kinh Bắc, thấm đẫm tình yêu quê hương: “Ta con chim cu về gù dặng tre / Đưa nắng ấu thơ về trưa đất trắng / Đưa mây lành những phương trời lạ / Về tụ nóc cây rơm”. Năm 1994 tập thơ mang hồn dân gian đó được nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội xuất bản và phát hành rộng rãi nhưng năm 1982, vì có trong tay tập thơ đó, nhà thơ Hoàng Hưng bị kết tội “lưu truyền văn hóa phẩm phản động” và bị truy bức, đày đọa ba mươi chín tháng trong ngục tù!

Ôi, trong nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam, việc bắt dân, tống người dân lương thiện vào ngục tù quá đơn giản, dễ dàng và mạng người dân quá rẻ mạt!

3. Suốt mấy chục năm cầm quyền, nhà nước cộng sản Việt Nam đã bắt bớ, tù đày, giết hại hàng triệu người Việt Nam lương thiện. Sẽ có những nhà nghiên cứu, những nhà làm sử chân chính tập hợp tư liệu, thống kê đầy đủ để có con số chính xác số người dân lương thiện bị nhà nước chuyên chính vô sản Việt Nam tù đày, giết hại. Con số dòng dòng máu đó sẽ đi vào lịch sử là bằng chứng về một thời ngục tù đau đớn nhất của dân tộc Việt Nam và lịch sử sẽ phán xét cái thể chế khẳng định sự có mặt, duy trì sự tồn tại bằng lạnh lùng, mê mải, bền bỉ giam cầm thân xác, giam cầm trí tuệ, giam cầm tư tưởng người dân và say máu dân lành.

Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập, Nguyện Đình Ngọc đều là những trí thức, những nhà văn, nhà báo có tư duy sắc sảo, có tâm hồn nhạy cảm. Những gì người viết đã nhận từ cuộc đời không bao giờ mất đi vô tăm tích. Thân phận lầm than của đất nước, thân phận bèo bọt của người dân những ngày bất an này đi vào những tâm hồn nhạy cảm đó đã trở thành những bài viết lay động bao trái tim, thức tỉnh bao nhận thức. Bây giờ chính những tâm hồn nhạy cảm, những trí thức chân chính giàu lòng tự trọng đó phải mang thân phận người tù.

Trong nhà nước độc tài cộng sản, nhà tù là nơi bộc lộ rõ nhất, đầy đủ nhất, khốc liệt nhất, rùng rợn nhất bạo lực chuyên chính vô sản. Vì ngay khi còn sống đời thường dân giữa xã hội, quyền con người của người dân đã không được nhìn nhận thì thân phận người tù càng bị đối xử như con vật. Đó là một thực tế lớn với người viết, làm sao có thể bỏ qua. Thực tế của Đêm Giữa Ban Ngày. Thực tế của Chuyện Kể Năm 2000. Thực tế của Quần Đảo Ngục Tù . . . Thực tế nhức nhối đó không thể câm lặng trong những trái tim nhạy cảm với nỗi đau, không thể mất đi phí hoài với những người viết giàu nội lực. Viết vừa như đòi hỏi của cái riêng, vừa như trách nhiệm với cái chung. Viết vì những người đã chết chưa kịp viết như Cha Chính Vinh. Viết cho mai sau về một thời ngục tù đau đớn của giống nòi Việt Nam.

Năm tháng qua đi nhưng thời ngục tù đau đớn này sẽ còn mãi trong trang sách lịch sử, còn mãi trong trang sách văn chương. Những người vì lợi ích riêng, vì mê muội, cuồng tín đã góp chủ trương, góp sức, góp tay tao ra thời ngục tù độc ác với nhân dân, tội lỗi với lịch sử Việt Nam không thể trốn tránh được sự phán xét của lịch sử, sự phán xét của mai sau.

LỜI CUỐI. Viết để ghi lại hiện thực một thời mình sống tuy chả vui sướng, thích thú gì khi phải viết những điều cay đắng. Tôi đã kết thúc bài viết này từ cả tuần nay nhưng vẫn để đấy và muốn quên nó đi. Nhưng có sự việc vừa diễn ra làm cho tôi lại phải nhớ đến bài viết về sự cay đắng đó. Bốn giờ chiều thứ bảy, 24.1.2015, nắng đã nhạt, tôi đi mua bịch phân bò khô về trồng cây. Ra đến chốt bảo vệ ngoài cùng của khu căn hộ, giáp đường Lê Văn Lương, bỗng một người trẻ mặc áo thun, quần lửng từ hè đường lao ra chặn xe tôi, vẫn giọng xấc xược: Đi Đâu? Tôi nói việc cần đi. Người trẻ móc điện thoại từ túi quần ra gọi cho ai đó, báo cáo việc tôi cần đi rồi anh ta lẳng lặng trở vào hè đường để cho tôi đi. Nhưng có tới bốn người trên hai xe máy bám theo tôi suốt đường tôi đi và về.

Hôm sau chủ nhật, 25.1.2015, từ sáng sớm, tôi đã nhận ra cả hai ngả đường trước hai khối căn hộ tôi ở có đến cả chục bóng an ninh chốt chặn. Lại tái diễn cảnh mới ít ngày trước, suốt nửa tháng trời, ngày nào cũng có cả chục công cụ bạo lực nhà nước cộng sản đến phong tỏa khu căn hộ tôi ở, không cho tôi ra khỏi nhà.

Cái cảm giác ngột ngạt ngục tù từ những ngày đó lại trở về đè nặng trên ngực tôi./-

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Khai Dân TríPhạm Đình Trọng

2012/09/06

THÔNG ĐIỆP THÁNG TÁM


PHẠM ĐÌNH TRỌNG

CẢM HỨNG VỀ NGÀY LẬP NƯỚC

Dịp này hai năm trước, mùa mưa bão năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có liền hai bài viết đăng trên tất cả các báo lớn phát hành rộng khắp cả nước. Hai bài sông dài biển rộng (tràng giang đại hải), bài nào cũng chiếm gần ba trang khổ 28 X 42 cm của tờ báo 20 trang. Chỉ đọc tít bài chữ lớn chạy suốt chiều rộng trang báo đã thấy giọng đại ngôn, hùng hồn, khoa trương đến huênh hoang. Bài viết đăng trên các báo ngày 16. 7. 2010: Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược kinh tế và xã hội của đất nước ta. Bài viết đăng ngày 25. 8. 2010 còn cụ thể, thiết thực, hấp dẫn và nức lòng người hơn: Bảo đảm tốt an sinh và phúc lợi xã hội.

Đất nước có chính quyền nhưng chính quyền bị các tập đoàn lợi ích chi phối nên đất nước như không có chủ và bị các tập đoàn lợi ích chụp giật, xâu xé, càng xây dựng, phát triển càng manh mún, ngổn ngang, nhốn nháo, tan hoang. Nền kinh tế ngày càng ngoài tầm kiểm soát. Tham nhũng và yếu kém làm cho những tập đoàn kinh tế lớn, nhỏ của Nhà nước cứ thua lỗ kéo dài, nối nhau đổ vỡ, thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân, làm rỗng cả nền tài chính đất nước. Xã hội ngày càng bất ổn. Cuộc sống số đông người dân ngày càng khó khăn và bất an. Thân phận người dân mỏng manh. Công an giết dân như giết kiến. Ông Thủ tướng, người quản lí xã hội và điều hành nền kinh tế đất nước không thể không biết thực tế đó. Vậy mà ông vẫn viết những điều viển vông, huyễn hoặc chỉ để tự dối mình và lừa dối người dân.

Bài viết của người ở cương vị lãnh đạo đất nước thường gửi tới người dân một thông điệp và nội dung bài viết mang thông điệp đó. Thông điệp là tầm nhìn của người lãnh đạo đất nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần có bài sông dài biển rộng trên các báo. Người dân bình thường đều biết vốn liếng chữ nghĩa của Thủ tướng Dũng. Vốn liếng chữ nghĩa quyết định thị hiếu thẩm mĩ và tầm nhìn. Người lãnh đạo cấp cao có thể sử dụng vốn liếng chữ nghĩa của thư kí, trợ lí nhưng không thể sử dụng tầm nhìn của người khác. Vì thế với bài viết kí tên Thủ tướng Dũng, người dân không mong được nhận thông điệp của đất nước ở một thời khắc lịch sử, không mong được thấy tầm nhìn của một trí tuệ mà họ chỉ có thể nhận ra được mục đích bài viết.

Mùa bão lũ biến động thời tiết năm 2010 cũng là mùa biến động chính trường, mùa bão lũ nhân sự cấp cao nổi lên trong những cuộc họp Ban Chấp hành trung ương dồn dập, gấp gáp và nóng bỏng cuối năm 2010 làm công việc trù bị cho đại hội lần thứ XI đảng Cộng sản cầm quyền diễn ra vào tháng giêng năm 2011. Hai bài viết khoa trương, lạm phát ngôn từ hào nhoáng, lạm phát cả mĩ phẩm ngôn từ làm đẹp chỉ là hai bản PR, hai lần rập đầu hứa hẹn của ông Thủ tướng để mong được ở lại ghế đứng đầu Chính phủ nhiệm kì thứ hai.

Cùng tuổi, cùng thế hệ lãnh đạo đất nước với thủ tướng Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từ tốn, kín đáo và có bản lĩnh chính trị khác hẳn Thủ tướng Dũng. Từ tốn và kín đáo, Chủ tịch Trương Tấn Sang chưa sử dụng quyền uy rải bài trên các báo. Nhưng tháng tám, mùa bão lũ năm nay, chỉ là mùa biến động thời tiết, không phải là mùa biến động chính trường, chưa vào mùa biến động nhân sự cấp cao, con người từ tốn, kín đáo đó đã công bố một bài viết mang cảm hứng trữ tình về ngày lập nước thì bài viết hiếm hoi đó không thể vô tình, ngẫu hứng, không thể huênh hoang, trống rỗng.

Cảm hứng về ngày lập nước, Chủ tịch nước đương nhiên phải cùng cảm hứng với chính thống, cùng cảm hứng với Ban Tuyên giáo trung ương, cảm hứng ngợi ca: Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay? Nhưng nhà lãnh đạo đã từng day dứt nói với người dân về hiện tình đau buồn của đất nước: Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ. Không lẽ cứ để hoài vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm. Một bầy sâu thì chết cái đất nước này. Người còn biết xấu hổ và đã phải xấu hổ về nạn tham nhũng đang lộng hành phá nước, hại dân thì không thể chỉ ngợi ca. Nếu chỉ ngợi ca, con người từ tốn, kín đáo đó cũng không viết bài giành chỗ trên báo chí.

HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Những ngày này người Việt Nam bình thường ở trong nước hay ngoài nước đều biết rõ đất nước đang đứng trước hai thử thách nghiệt ngã, hai nguy cơ tăm tối.

Nguy cơ chính trị đưa đất nước trở về thời ngàn năm Bắc thuộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào thân phận nô lệ tủi nhục. Chính trị đồng hóa dân tộc Việt Nam về ý thức hệ với Đại Hán, mở đường cho Đại Hán thực hiện tham vọng thôn tính Việt Nam. Nguy cơ mất nước đến từ bên ngoài, nạn ngoại xâm.

Bắc thuộc như một định mệnh đeo đẳng dân tộc Việt Nam khi nước Việt Nam nhỏ bé phải ở cạnh nước đế quốc Đại Hán khổng lồ và tham lam. Vua sáng tôi hiền, dân giầu nước mạnh, trên dưới một lòng thì Đại Hán chỉ đứng ngoài biên giới Việt Nam mà nhỏ nước miếng thèm khát. Tầng lớp thống trị hư hỏng, vơ vét của công, bóc lột dân lành, sa đọa hưởng lạc trên nỗi thống khổ của trăm họ, lòng dân oán giận, dân tộc li tán, lập tức Đại Hán sẽ tràn đến thôn tính.

Ngày nay, những điều cần có ở Việt Nam cho cuộc thôn tính của Đại Hán dường như đã quá đủ. Những người Cộng sản nắm chính quyền đưa giai cấp vô sản lên làm chủ thể, làm chủ đất nước, lấy giai cấp đàn áp dân tộc, dùng bạo lực chà đạp lên văn hóa và nhân phẩm, thực hiện chuyên chính vô sản điên cuồng, tàn bạo, đánh phá suốt hơn nửa thế kỉ vào khối đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh Việt Nam. Không đủ tầm quản lí đất nước, giai cấp vô sản thống trị xã hội nhanh chóng hư hỏng, hối hả vơ vét của nước, bóc lột của dân, những người cầm quyền từ vô sản tay trắng nhanh chóng trở thành trọc phú, sống đế vương trên sự tan hoang của đất nước, sự uất hận của người dân, sự khốn cùng của đạo lí, sự li tán, suy yếu của dân tộc.