2011/08/04

Nộp Tiền Cho Rô-ma: Đời Sống Bí Mật Của Tiền Bạc Trong Giáo Hội Ca-Tô

Nộp Tiền Cho Rô-ma: 
Đời Sống Bí Mật Của Tiền Bạc Trong Giáo Hội Ca-Tô
 
(Render Unto Rome: The Secret Life Of Money In The Catholic Church)
Author: Jason Berry; Crown Publishers, New York, 2011
 
Trần Chung Ngọc
 
 
    Năm 1992, 10 năm trước vụ linh mục ấu dâm nổ ra ở Boston rồi lan ra khắp thế giới cho tới ngày nay, Jason Berry, một tín đồ Ca-tô,  đã xuất bản cuốn "Xin Đừng Dẫn Chúng Tôi Đến Cám Dỗ: Những Linh Mục Ca-Tô Và Nạn Ấu Dâm" [Lead Us Not To Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Children], nội dung nghiên cứu về các vụ linh mục ấu dâm trên một số Tiểu Bang trên đất Mỹ với sự bao che của Giáo hội, như là một cảnh báo cho Giáo hội để Giáo hội cải tiến.  Sau đó, năm 2004, Jason Berry và Gerald Renny xuất bản cuốn "Lời Nguyện Giữ Im Lặng: Sự Lạm Dụng Quyền Năng Trong Triều Chính Của Giáo Hoàng John Paul II" [Vows of Silence: The Abuse of Power in the Papacy of John Paul II], nội dung tập trung vàođời sống bệ rạc của Linh mục Marcial Maciel, sáng lập viên "đoàn quân Lê Dương của Chúa Ki Tô" [Legionaries of Christ] trong tổ chức "Legion of Christ" do Marcial Maciel ở Mexico lập ra, và lên án John Paul II đã làm lơ những tố cáo của quần chúng về những vụ ấu dâm và dùng ma túy của Marcial Maciel. Vì vậy, thế giới đã phanh phui ra là tổ chức "Legion of Christ" có một Chương lịch sử chính là "Xì-căng-đan lạm dụng tình dục" [The sexual abuse scandal in the Legion of Christ is a major chapter in the order's history.
 
   Chính sáng lập viên Marcial Maciel đã nhiều lần bị điều tra về dùng ma túy và loạn dâm với những trẻ em [During his life, Maciel was the focus of several investigations regarding allegations of drug abuse and sexually abusing children.]  Nhưng Maciel rất được Giáo hoàng John Paul II ưu ái và tận tình bao che vì Maciel đã kiếm được nhiều tiền cho Giáo hội và lùa được nhiều Linh mục vào trong cái dòng tu lính Lê Dương của Giáo hội, nên John Paul II đã làm ngơ trước những lời tố cáo Maciel [Pope John Paul II admired Maciel because of his conservative fealty to doctrine and his ability to raise money and recruit priests.]  Nhưng rồi đời sống bê bối của Maciel càng ngày càng bị phanh phui ra nhiều nên khi lên ngôi Giáo hoàng, Benedict XVI không còn có thể che dấu được nữa nên giao cho Hồng Y Bertone nhiệm vụ điều tra sự việc liên quan đến Maciel..  Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Ratzinger đã từng nói: "Tố cáo Maciel không được khôn ngoan (prudent) vì Maciel đã làm nhiều điều tốt cho Giáo hội" (To go after Maciel is not "prudent" because he has done so many good for the church). Bất cứ ai mà kiếm được nhiều tiền cho Vatican thì dù đạo đức của họ có tồi tệ như thế nào đi chăng nữa, Vatican cũng bỏ qua. 
 
   Do đó, Bertone điều tra cũng như không,  ông ta bắt các nạn nhân tình dục của Maciel thề phải giữ bí mật những chuyện xẩy ra đối với họ và kết quả cuộc điều tra về Maciel không đi đến đâu. Vì sự trung thành này mà ông ta được cho làm Tổng Giám Mục ở Genoa, rồi thăng chức lên Hồng Y, và nay là Bộ trưởng Ngoại Giao. [He swore all the victims to secrecy and ended up doing nothing about Maciel. For his loyalty he was named archbishop of Genoa, then Cardinal, and now Secretary of State.]  Nhưng trước dư luận quần chúng và dư luận ngay trong Giáo hội Ca-tô, vào tháng 5, 2006,  tòa án Kangaroo của Benedict XVI đưa ra biện pháp kỷ luật (sic) bắt Maciel phải "sống kín đáo, cầu nguyện và sám hối" và không hề giải thích cho quần chúng biết [In May 2006, Pope Benedict XVI disciplined him, inviting him to "a reserved life of prayer and penitence"; no explanation was given to the public.]  Đó là công lý Ca-tô trước sự đau khổ và tổn thương tinh thần của các em nhỏ trong Giáo hội bị Linh mục Marcial Maciel cưỡng bách tình dục..
 
 
                 
   
    Tháng 6, 2011, Jason Berry cho ra mắt cuốn Render Unto Rome: The Secret Life of Money in the Catholic Church, nội dung nghiên cứu sâu vào nền văn hóa  (culture) của Giáo hội Ca-tô, đặc biệt là trước những thắc mắc về vấn đề tiền bạc và tình dục, tác giả thấy rằng, sự đáp ứng của Giáo hội luôn luôn giống nhau: giữ kín và im lặng. [To painful questions about money and sex, Berry finds, the response of the church is always the same – secrecy and silence].  Tác giả đang du hành qua một số tiểu bang để ra mắt và ký tên trên cuốn sách của mình (Book tour).
 
 
   Cuốn sách dày hơn 400 trang trên cho chúng ta biết rất nhiều chi tiết về những vấn đề liên quan đến tiền bạc và tình dục trong Giáo hội Ca-tô và chính sách của Giáo hội đối với những vấn đề này.  Có những chi tiết mà chúng ta không thể ngờ được lại có thể xẩy ra trong một tổ chức tôn giáo luôn luôn tự nhận là "thánh thiện, duy nhất và tông truyền".  Chúng ta cũng không thể ngờ là đạo đức của Giáo hoàng và một số bậc lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo hội như Hồng Y, Tổng Giám mục v..v… lại tệ mạt đến độ như vậy.  Sau đây chỉ là vài chi tiết trong cuốn sách trên, đọc giả cần phải đọc cả cuốn sách mới có thể nhận thức được bộ mặt thánh thiện giả nhân giả nghĩa của Giáo hội Ca-tô.
 
    Vấn đề tiền bạc lem nhem của Vatican thế giới đã biết từ lâu, từ những vụ rửa tiền đến buôn lậu ma túy, cho đến buôn bán vũ khí bất hợp pháp v…v…  Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã viết một tác phẩm đồ sộ nhan đề: "Giáo Hội La Mã: Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác" trong đó có một Chương dài, Chương 91, "Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy" về chi tiết những vụ buôn lậu ma túy của Vatican, xin đọc giả đón đọc nay mai khi Sách Hiếm trở lại.  Nếu chúng ta đã đọc những cuốn như The Totalitarian Church of Rome: Its Fuehrer, Its Gauleiter, Its Gestapo, and Its Money-Box của Linh mục Joseph McCabe, The Vatican Billions của Avro Manhattan, Christianity and  Money của Jacques Leclercq, The Vatican Connection của Richard Hammer, Pontiff của Gordon Thomas & Max Morgan-Witts và nhất là cuốn The Vatican's Mafia của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén và những thông tin trên Internet thì chúng ta đã biết vấn đề tiền bạc trong một tổ chức thế tục tự nhận là "mạc khải, thánh thiện, duy nhất, tông truyền" là như thế nào.  "Thủ tục "đầu tiên"" có thể nói là cái "norm" trong mọi dịch vụ xin-cho ở Vatican.
 
   Lâu lắm rồi, tôi có đọc được như sau, không biết có phải là một cái "joke" hay không: "Ở Vatican, với 1000 đô bạn có thể hôn nhẫn một ông Giám mục, 2000 đô, bạn có thể hôn nhẫn một ông Hồng Y, và 5000 đô thì  bạn có thể hôn bất cứ cái gì (You can kiss anything)."  
 
 
      
   Nhưng cuốn sách mới của Jason Berry rất đặc biệt, vì đã đào sâu vào hệ thống tiền tài (financial system) của Giáo hội Ca-tô.  Đặc biệt là hai vấn nạn trong Giáo hội: Tiền bạc và Tình dục lại liên hệ khắng khít với nhau. Tác giả đã vạch trần chính sách giữ bí mật và lừa dối của Giáo hội, trái ngược hẳn với những giá trị tâm linh và đạo đức mà Giáo hội tự nhận ("Render Unto Rome" exposes the secrecy and deceit that run counter to the values of the Catholic Church)
 
   Giáo dân thường được dạy là có bổn phận đóng tiền thường xuyên cho nhà thờ để nhà thờ làm việc thiện và hầu việc Chúa.  Ở Vatican, tín đồ thường  đóng tiền để cho "Đức Thánh Cha làm việc thiện" (For our Holy Father to do charitable work) nhưng thực ra tín đồ không hề biết những tiền đó đi đâu và dùng vào việc gì.  Tác giả viết: 
 
   Dịch vụ thu tiền ngày chủ nhật trong các nhà thờ Ca-tô trên toàn thế giới thì quen thuộc như là lễ Mi-sa, bài giảng trong nhà thờ  và ngay cả  lễ ban thánh thể (ăn bánh thánh).  Nhưng khi một đô-la để vào giỏ, thì nó đi đâu?  Số tín đồ đóng hàng tuần lên tới nhiều ngàn đô-la được dùng như thế nào?  Khi một giáo khu bán đi tài sản của nhà thờ với giá hàng chục triệu đô-la thì tiền đó đi đâu.  Và việc gì đã xẩy ra khi nhiều chục triệu đô-la được đưa cho các giới chức cao cấp để tiêu dùng tùy ý mà không có ai hỏi han đến?
 
   [The Sunday collection in every Catholic church throughout the world is as familiar a part of the Mass as the homily and even Communion.  But once a dollar is dropped in that basket, where does it go?  How are weekly cash contributions that can amount to thens of thousands of dollars accounted for?  Where does the money go when a diocese sells a church property for tens of millions of dollars?.  And what happens when tens of millions of dollars are turned over to officials at the higher ranks, no question asked, for their discretionary use?]
 
 
 
Jason Berry
 
     Bao nhiêu tiền vào túi các Giám mục.  Bao nhiêu gửi về Rô-ma?  Lẽ dĩ nhiên các tín đồ không hề biết.  Họ đến nhà thờ cầu nguyện, xưng tội, và đóng tiền, vì họ được dạy đó là bổn phận của họ, một điều kiện để các Linh mục cho họ lên thiên đường.  Đã có một thời, không đi lễ ngày chủ nhật là một trọng tội, không được lên thiên đường.  Và đi lễ ngày chủ nhật có nghĩa là ít nhiều cũng phải bỏ tiền vào giỏ.  Nhưng ngày nay số người đi lễ nhà thờ chẳng còn lại bao nhiêu trong các thế giới Tây phương, trừ những nước ở Phi Châu, Nam Mỹ, hay ở Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và…Việt Nam.  Đây là lý do mà Ca-tô cũng như Tin Lành đang nỗ lực đi kiếm ăn ở những miền đất mới, nơi đây khó khăn kinh tế xã hội và dân trí tương đối còn chưa phát triển nhiều, cho nên người dân ít đầu óc rất dễ rơi vào cái thòng lọng của Ki Tô Giáo nói chung..
 
    Nếu tín đồ không hề biết tiền mình đóng cho nhà thờ đi đâu, được dùng vào việc gì, thì tác giả Jason Berry đã hé mở cho chúng ta nhiều chi tiết.
 
-   Nhiều giáo dân Mỹ phát cáu lên (were riled) về sự quản lý tiền bạc của các Giám mục: Những số tiền lớn dùng để dàn xếp những vụ loạn dâm và biến chế để tái dụng những linh mục can tội ấu dâm; [Tác giả  dùng từ ngữ (bishops who recycledpedophiles), coi những linh mục này như là những đồ rác rưởi, được biến chế để dùng lại như trong kỹ nghệ.], dẹp tiệm các nhà thờ ngoài ý muốn của giáo dân (churches closed against the people's will), [p. 7: Từ 1995, Giám mục các nơi đã phải dẹp tiệm 1373 nhà thờ.] và các phúc trình về các linh mục và nhân viên điều hành ăn cắp tiền của nhà thờ (continuing reports of priests or lay staffers who stole parish funds).  Mỹ là xứ giầu và con chiên thường là ngu đạo nhất thế giới, cho nên tiền đóng cho nhà thờ và gửi về Vatican, Mỹ giật giải quán quân.  Theo ước tính, số tiền của giáo dân đóng góp bị các "bề trên" và các nhân viên dân sự điều hành nhà thờ ăn cắp trung bình là $50,000 trong một năm cho mỗi giáo xứ.  Tổng cộng trên toàn quốc số tiền bị thất thoát vào khoảng 90 triệu/năm ($90 million), đó là chỉ kể tiền đóng góp ngày chủ nhật. [p. 10: An annual loss of a bout $90 million solely attribuable to Sunday collection embezzlements].  Tất cả những điều này làm cho giáo dân cảm thấy mình bị phản bội.
 
-   Nguyên trên nước Mỹ, Giáo hội đã phải bỏ ra 2 tỷ đô-la để giàn xếp ngoài tòa hoặc đền bù  cho các nạn nhân tình dục của các "Chúa thứ hai".
 
-   Nhiều giáo khu đã khai phá sản, và các Giám mục địa phương đã rao bán các nhà thờ, trường học Ca-tô, và các tài sản thương mại (Bishops have been selling off whole pieces of infrastructure – churches, schools, commercial properties).
 
   Nhưng các Hồng Y ở Vatican đều có thông tin nội bộ về tài sản nào sẽ được bán đi và dựa vào thông tin đó họ có một kế hoạch để làm giầu cho chính họ và thân nhân trong những vụ bán tháo đó tài sản đó.  [Vatican curial cardinals have inside information about which church properties will be available for sale and they have enriched themselves and their relatives by passing on that information.]
 
   Một trường hợp điển hình là ở Boston, một cơ sở của Tổng giáo phận được bán dưới giá thị trường cho cháu một Hồng Y có thế lực nhất ở Vatican, Hồng Y Sodano, nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao dưới triều John Paul II, với giá là $850.000,  nhưng chỉ 20 ngày sau, sở hữu chủ mới của cơ sở này bán lại với giá $2,650,000 [In East Boston, the archdiocese sold a parish for $850.000 and 20 days later the new owner, the nephew of one of the Vatican's most powerful cardinals, "flipped" it for $2,650,000.].  Điều đáng nói là ông Giám mục cai quản giáo phận quyết định bán cho ai và với giá bao nhiêu, dù rằng có người ngoài hay tổ chức bên ngoài muốn mua với giá cao hơn, và lẽ dĩ nhiên ông Giám mục cũng có phần trong đó..
 
-   Các tín đồ không biết là  cuối thập niên 1990, Hồng Y Anthony Bevilacqua ở Philadelphia đã tiêu 5 triệu đô-la để làm mới lại một nhà nghỉ mát của Giáo phận ở bờ bể New Jersey, nhà tư của Hồng y ở Philadelphia, và ba tòa nhà làm văn phòng.  Ông ta một mình ở một tòa nhà có 30 phòng (He has lived alone in a 30-room stone-clad Victorian villa),  trang bị toàn đồ sang trọng như những tấm gương viền vàng (gilded-edged mirrors), ghế hiệu Queen Anne  (Queen Ann chairs), đèn đồng (brass chandeliers) v…v…  Và ông ta là một chức sắc cao cấp nhất của Giáo hội  Ca-tô, sống như vậy để phục vụ dân nghèo, vì Giáo hội Ca-tô vẫn quảng cáo là Giáo hội của dân nghèo, và các con chiên Việt Nam vẫn thường ca tụng như vậy.
 
-   Một điều mà các giáo dân rất ít biết đến là tiền của giáo dân đóng góp thường được các bề trên dùng để mua quan chức ở Vatican.  Muốn trở thành một Giám mục, cá nhân đó hay giáo khu đó, phải trả một lệ phí cho Vatican gọi là "taxa", tùy theo giáo khu đó giầu hay nghèo.  Khi Joe Bernadin ở Chicago được thăng chức Hồng Y, lệ phí đó là $6000.  Luật sư Tom Doyle về giáo luật của Giáo hội cho rằng như vậy là rất rẻ [Trang 7:  On becoming a bishop, a man – or his diocese – pays a fee to the Vatican called "taxa".  "The amount varies according to the size of the diocese," explains Tom Doyle, a Dominican on leave from the priesthood who serve the canon lawyer at the Vatican embassy in the early 1980.  "I remember when Joe Bernadin of Chicago was made cardinal, the taxa was $6,000.  I thought Chicago got a good deal on that one".]  Mua quan, bán chức trong Vatican không lạ gì, nếu chúng ta đã đọc cuốn The Vatican Mis À Nu (Traduit de l'Italien par Pierre-Émmanuel Dauzat, Edition Robert Laffont, Paris, 2000) của Đức Ông Luigi Marielli.  Trong đó độc giả sẽ thấy một hình ảnh Vatican mục nát, không mũ mãng, quần áo lòe loẹt trang trí bên ngoài. Cuốn sách này là con dao mổ xẻ của tác giả đã đâm ngập vào một vết thương sâu (ce livre est un bistouri plongé dans une plaie profonde) với hi vọng có thể cắt bỏ những máu mủ độc hại trong đó.  Tác giả đã vạch trần bộ mặt vô tín vô luật (sans foi ni loi) trong trung tâm chỉ đạo của Giáo hội Ca-tô Rô-ma (Curie Romaine) gồm hầu hết những kẻ chạy chọt làm áp-phe, chạy theo chức tước, đồng giống luyến ái, tranh chấp phe đảng, và những phương cách để được thăng chức nhanh chóng... (Affairisme, carriérisme, homosexualité, la course aux postes, la lutte des clans, des instruments de promotion accélérée...)  Đó là bộ mặt thật của Vatican, tổng hành dinh của Ca-tô Rô-ma Giáo, cơ quan đầu não chỉ dạy đạo đức Ca-tô Giáo cho 1 tỷ giáo dân, trong đó có 7 triệu người Việt Nam.  Nhưng không phải chỉ có chuyện mua quan bán chức, mà ngay cả chuyện các giáo hội con muốn phong thánh cho người nào của mình cũng rất tốn tiền, lệ phí có thể lên đến hàng triệu đô-la để cho các quan chức ở Vatican xét và làm thủ tục.
  
 -  Tổng giám mục Rembert Weakland ở Milwaukee gửi 1 triệu rưỡi đô la ($1.5 million) về Vatican mua danh ngôi vị dạy xã hội học tại đại học Gregorian của Giáo hoàng (Pontifical Gregorian University).  Năm 1998, Tổng Giám mục Weakland còn dùng quỹ của nhà thờ trả cho một tình nhân Nam từ nhiều năm trước $450,000 để mua sự im lặng (p. 4: Archbishop Rembert Weakland had used $450,000 in church funds in 1998 to pay off a disgrunted male lover from year before.)
 
   Trên đây chỉ là một số chi tiết  điển hình trong cuốn Render Unto Rome của Jason Berry.  Vài điều đó cũng đủ cho chúng ta biết sơ về nội dung cuốn sách. 
 
Vài Suy Tư Của Người Đọc Sách:
 
   Càng đọc về Ca-tô Rô-ma Giáo tôi càng cảm thấy buồn và tội nghiệp cho các tín đồ Ca-tô Việt Nam, trí thức hay không.  Không tội nghiệp sao được vì rõ ràng là họ bị nhốt trong một tù ngục tâm linh qua chính sách rất hữu hiệu của Giáo hội: "Ngu dân dễ trị" cộng với sự khai thác những kẻ "tinh thần yếu kém" mà chính Chúa Giê-su đã dạy: "Phúc cho những kẻ nào tinh thần yếu kém" trong bài giảng trên núi hay Tám Mối Phúc Thật.  Một thủ đoạn tuyệt vời khác rất thành công của Giáo hội là Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của mình, do đó có thể  cấy vào đầu các tín đồ cái gọi là "đức vâng lời", thực chất chỉ là mánh mưu nô lệ hóa tín đồ. Và điều đáng buồn là các tín đồ cứ tự mình cam tâm làm nô lệ.   Điều này rõ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican:
 
  Bản tiếng Việt:  "Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự tìm kiếm Chúa và ý muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu"
   Bản tiếng Anh:  "Đức vâng lời", tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là "một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức tìm kiếm Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa"  
     [Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]
 
     Các tín đồ không hề biết là từ xưa tới nay chẳng có Giáo hội nào hay cộng đồng, tổ chức nào có thể tìm kiếm được Chúa, vì Chúa đã chết cách đây khoảng 2000 năm rồi, và từ đó tới nay chẳng ai biết Chúa ở đâu, và ông ta cũng chẳng bao giờ trở lại, dù chỉ một lần cho thiên hạ thấy.  Các tín đồ cũng không biết rằng chẳng ai biết ý Chúa là như thế nào.  Thật vậy, Voltaire đã từng nói: "Lời của Chúa là lời của các linh mục; sự vinh quang của Chúa là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Chúa là ý của các linh mục; xúc phạm Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.).
 
   Cũng vì cái "đức vâng lời" có tác dụng nô lệ hóa đầu óc tin đồ này của Giáo hội mà khi xưa, Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam đã trở thành tội đồ của dân tộc, vết nhơ nô lệ ngoại bang, phi dân tộc, phản quốc khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam vào thế kỷ 19, và trở lại Việt Nam cuối thập niên 1940, còn in đậm trên khuôn mặt Giáo hội.  Chúng ta còn nhớ, gần đây nhất Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã huy động giáo dân, già trẻ lớn bé, mang búa, kìm và xà beng đến cầu nguyện ở tòa Khâm sứ cũ, và mặc dù nhà nước đã khuyên can, đám người cuồng tín đó đã chẳng coi pháp luật quốc gia vào đâu.  Nhưng chỉ một văn thư của Hồng Y Bertone từ Vatican gửi đến là cả đoàn đã phải không kèn không trống, dẹp cờ xí, búa, kìm, và xà beng rút lui có trật tự.  Mà Hồng Y Bertone là ai?  Chính là cái tên đã được giao cho nhiệm vụ điều tra tên Linh mục  loạn dâm vô đạo đức Marcial Maciel, nhưng thay vì điều tra thì ông ta lại bắt các nạn nhân tình dục của Maciel thề phải giữ bí mật và kết quả cuộc điều tra về Maciel đương nhiên là chìm xuồng.   Tâm cảnh nô lệ ngoại bang thật đã rõ ràng, nhắm mắt mà tuân lệnh một tên Hồng Y vô đạo đức ở Vatican . 
  
   Tháng 11, 2009, Giáo Hội Ca-tô Rô-ma tại Việt Nam tưng bừng đón tiếp Hồng Y Bernard Law trong dịp khai mạc cái gọi là "năm Thánh", kỷ niệm 50 năm  năm thành lập Hội Đồng Giám mục Việt Nam, 50 năm nô lệ cho đến ngày nay.  Vụ Tổng Giám Mục nhục nhã Ngô Quang Kiệt tuân phục "đức vâng lời" đối với Bertone đã chứng tỏ như vậy.  Mà Hồng Y Bernard Law là ai?  Là nguyên Tổng Giám Mục ở Boston, can tội bao che và "recycle" các linh mục loạn dâm và ấu dâm trong địa phận cai quản của ông ta.  Law được John Paul II cho phép từ chức Tổng Giám Mục ở Boston cuối năm 2002, và chuồn sang Vatican chỉ mấy giờ đồng hồ trước khi trát tòa đến đòi ông ta ra hầu tòa.  Ở Vatican ông được John Paul II cho cai quản một nhà thờ quan trọng ở Rome, nhà thờ St. Mary Major Basilica.  [The news of Cardinal Law's new position seemed to tear at emotional scars from those events. ''It's pretty offensive for most Catholics, and the timing couldn't be worse,'' said David Gibson, author of ''The Coming Catholic Church'' (Harper San Francisco, 2003). ''They're just cleaning up the mess in Boston and closing parishes, and he's getting the ultimate golden parachute. He's getting a beautiful apartment in Rome in one of the four major basilicas in Christendom.'' Tập đoàn ở Vatican bao che cho nhau, bất kể sự phẫn nộ của thế giới và các nạn nhân tình dục ở Boston, đạo đức của "Hội thánh" Ca-tô là như vậy đó
 
  
Cardinal Bernard Law 
(Link: http://www.slate.com/id/2075831/ )
 
   Một tên vô đạo đức như Hồng Y Law mà được Giáo hội Ca-tô ở Việt Nam đón tiếp coi như thượng khách trong dịp khai mạc năm Thánh.  Trong Ca-tô Rô-ma giáo thì cái gì cũng là thánh cả.  Không kể một số không nhỏ các giáo hoàng trong lịch sử giáo hội Ca-tô hoàn vũ can những tội như ăn cắp, giết người, loạn luân, đồng giống luyến ái v..v…, những Giáo hoàng vô đạo đức gần đây như John Paul II và Benedict XVI cũng là "đức Thánh cha".  Lễ lạc để mê hoặc tín đồ cũng được gọi là thánh lễ.  Abraham, bán vợ cho hai Vua Ai Cập để đổi lấy của cải và súc vật cũng được gọi là "thánh tổ phụ của các đạo Chúa".  Thánh Lot ngủ với hai con gái và làm cho cả hai chúng mang bầu.  Thánh David,  ông tổ của Giê-su,  nguyên là một tên tướng cướp, sau lên làm Vua thì hoang dâm vô độ, có nhiều vợ mà còn ra lệnh giết thuộc hạ để cướp vợ của thuộc hạ.  Thánh Linh thì ngủ với Mary để sinh ra Giê-su.  117 tội đồ của Việt Nam cũng được cái "Xưởng sản xuất thánh = Vatican", từ của Hồng Y Silvio Oddi, phong làm thánhcủa Ca-tô Giáo.  Giáo hội cứ luôn luôn lạm dụng bừa bãi danh từ "thánh" mà không hề biết ngượng.  Một độc giả ở Úc, ông Nguyễn Hữu Ba, đã nhận định: Con người một khi vào Ca-tô giáo rồi thì trong đầu không còn những giây thần kinh "biết ngượng" nữa.
 
   Các tín đồ Ca-tô Việt Nam thường bào chữa cho các "bề trên" loạn dâm hay làm bậy của họ là đó chỉ là những cá nhân không thi hành lời Chúa.  Nhưng họ quên mất một điều, giáo hoàng là những "đại diện của Chúa trên trần" mà họ thường gọi là Đức Thánh Cha, và các Linh mục loạn dâm đều là các "Chúa thứ hai" mà họ tin là "Cha cũng như Chúa".  Và nhất là họ phải tuyệt đối vâng lời những người như vậy, vì đó là điều kiện Giáo hội đặt ra để họ có được cái vé lên thiên đường (mù), lẽ dĩ nhiên là sau khi chết.

     Những vụ phá sản đạo đức trong Giáo hội Ca-tô Rô-ma nhiều đến độ khó ai có thể lôi ra ánh sáng hết được.  Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn "Roman Catholicism", trang 27:
 
Giáo hội Ca-tô Rô-ma tự khoác lên mình từ "thánh", nhưng thật ra, qua các thời đại và trong quyền lực của giáo hội Rô-ma, sự kiện là giáo hội đã phạm phải những tội ác khủng khiếp nhất, thực hành nhân danh tôn giáo, gồm có giết người, cướp bóc, bạo hành đủ mọi hình thức, hối lộ, gian xảo, lừa dối, và hầu hết mọi tội ác mà con người biết đến.  Những tội ác như vậy không phải là chỉ do những giáo dân của giáo hội gây ra, mà là do các giáo hoàng, hồng y, giám mục, và linh mục, mà như sự nghiên cứu về lịch sử của giáo hội sẽ chứng tỏ, không còn chối cãi gì được nữa, họ đều là những kẻ ác.
 
      Muốn thế nào thì thế, người Ca-tô không thể phủ nhận được cái lịch sử ô nhục đẫm máu của Giáo hội, kéo dài cho tới ngày nay. Cái lịch sử đã giết hàng trăm triệu người già trẻ lớn bé trong các cuộc Thánh Chiến, các Tòa Hình Án xử dị giáo, các cuộc săn lùng phù thủy, tra tấn rồi thiêu sống, khoan kể đến chuyện thiêu sống hay trừng phạt cả những khoa học gia trong giáo hội như Giordano Bruno và Galieo Galilei v..v…  Người Ca-tô cũng không thể phủ nhận là đạo đức Ca-tô chẳng có gì có thể so sánh với đạo đức trong các tôn giáo khác hoặc với những người vô thần, dù họ muốn huênh hoang tự khoe thế nào đi chăng nữa.  Lịch sử phá sản đạo đức của một số không nhỏ Giáo hoàng cũng như các bậc chăn chiên như Hồng Y xuống tới các Linh mục là những sự kiện bất khả phủ bác.  Rút cuộc, tôi vẫn không hiểu người Việt Nam theo Ca-tô Rô-ma Giáo là vì cái gì?  Và vì cái gì mà họ vẫn tin rằng Ca-tô Giáo là một "hội thánh", VietCatholic.net vẫn huênh hoang "Con đường của Giáo hội là con đường vinh quang",  và tiếp tục tự giam mình trong vòng ngu tối để cho những bề trên xảo quyệt khai thác, đớp và mắc vào cái mồi "cứu rỗi" rất khó gỡ ra, trừ phi ý thức được đó chỉ là một cái bánh vẽ trên trời, và có một chút can đảm như hàng triệu tín đồ trên thế giới đã tự mình gỡ ra được..
 
   Phải chăng vì những giá trị đạo đức của Ca-tô giáo mà họ vẫn thường huênh hoang tự đề cao mà không biết ngượng?  Nhưng có giá trị đạo đức nào mà không có trong dân gian, trong bất cứ xã hội hay tôn giáo nào, và ngay cả trong tập thể những người vô thần?  Việt Nam có đầy đủ những tiêu chuẩn đạo đức và tâm linh để cho người dân tu tập một cách lành mạnh mà không cần đến cái đạo mà lịch sử ô nhục đẫm máu của nó đã là một vết nhơ trong lịch sử nhân loại: Ki Tô Giáo.  Những điều dạy mà các tín đồ cho là Ki Tô Giáo dạy về đạo đức thì đã có trong mọi nền văn hóa dân gian, nhiều khi còn hay hơn nữa.  Quý vị hãy thử kể ra điều nào thuộc lãnh vực đạo đức của Ca-tô Giáo, không phải là lãnh vực tin, mà chưa hề có trong dân gian hay trong nền văn hóa Việt Nam.  Người Việt Nam yêu người, "thương người như thể thương thân", mà không cần phải kính Chúa, vì Chúa chẳng qua chỉ là một người dân thường Do Thái, trí tuệ kém cỏi và lòng dạ độc ác như được viết rõ trong Tân Ước.
 
   Người Ca-tô thường thổi phồng bộ mặt từ thiện của mình cho đó là một điểm son của Ca-tô giáo.  Chẳng có lẽ ngoài Ki Tô Giáo không có ai làm việc thiện hay sao.  Nhưng nghiên cứu kỹ thì chúng ta thấy rằng Ca-tô Giáo làm việc thiện hầu hết là với tâm bất thiện chứ không phải là thuần túy từ thiện tâm.  Một khuôn mặt từ thiện mà Ca-tô giáo thổi phồng đánh bóng nhất là Mẹ Teresa ở Calculta.  Nhưng họ không hề biết bộ mặt thật của Mẹ Teresa.  Bà ta khẳng định là làm việc thiện chỉ để kiếm thêm tín đồ cho Chúa, và bà ta còn tàn nhẫn nói rằng những sự khổ trên thế giới là cơ hội để bà ta làm việc thiện, hầu việc Chúa.     Có một câu tôi đọc, tuy không lấy gì làm lạ, nhưng có lẽ rất lạ đối với các tín đồ Công giáo Việt Nam, những người thường mang mẹ Teresa ra làm khuôn mẫu thánh thiện của Công giáo.  Đó là câu "Mẹ Teresa không phải là một nữ tu đầu tiên đã lợi dụng những hoàn cảnh khốn khổ của các nạn nhân của Mẹ để biến thành tiền" [Mother Teresa was not the first abusive nun to turn her victim's plight into cash.]  Thật vậy, nếu chúng ta đã đọc Judith Hayes viết trong cuốn The Happy Heretic,  trang 69, thì có thể biết bộ mặt thật của nữ tu Teresa mà mọi người Công giáo ngu ngơ coi như bậc thánh như sau:
 
   "Nhân danh Thiên Chúa" bà Teresa đã thu được hàng triệu đô la rồi vội vàng dấu kín nó đi như một con sóc để dành thức ăn cho mùa Đông.  "Nhân danh Thiên Chúa", bà ta cũng cải đạo nhiều người trước khi họ tắt hơi...  Tôi tự hỏi, trong cái tầm nhìn thô thiển của bà ta, có phải là bất cứ bà làm điều gì cho Thiên Chúa là để cho bà được điểm cao (như các em hướng đạo sinh đi bán bánh kẹo, ai bán được nhiều thì được đoàn trưởng gắn huy chương khen thưởng. TCN) trong đời sau.  Có lẽ đối với bà ta thế giới này không hề có một ý nghĩa nào, chẳng qua chỉ là cái mê hồn trận thách đố của Thiên Chúa để quyết định xem ai chiếm được mẩu tốt nhất trên thiên đường.  Nếu thật là như vậy thì chúng ta có thể giải thích,  vì không có gì khác có thể giải thích được, tại sao bà ta có thể nhẫn tâm ngồi trên nhiều triệu đô la như vậy trong khi trẻ con, ngay cả ở nơi bà hoạt động ở Ấn Độ, đang chết đói.  Điều này chống lại mọi giải thích hợp lý, và tôi thách đố bất cứ ai, từ Morphew cho đến chính giáo hoàng, có thể giải thích được sự kiện đó.
   [Teresa collected her millions of dollars "in the name of God" and then promptly hid them away like a squirrel readying for winter.  She also converted  souls "in the name of God", many just before they expired... I wonder if, in her simplistic view of things, anything she did for God would earn her big-time brownie points in the afterlife.  For her, perhaps, this world had no meaning whatsoever, and was just some challenging religious maze, designed by God to determine who gets the best bits of paradise.  If so, it might explain, since nothing else can, how she could be so callous as to sit on those millions of dollars while children, even in her own part of India, were dying of starvation.  This defies rational explanation, and I challenge anyone, from Morphew to the pope himself, to explain it.]  Và Judith Hayes kết luận:
 
   Hiển nhiên là mục đích của bà ta là vơ vét tích tụ tiền bạc.  Để làm gì, ai mà biết được.
   [Apparently her goal was to hoard the money.  To what end, though, is anybody's guess.]
 
   Năm 1954, viện trợ Mỹ để cho dân di cư nhưng các Cha nhà thờ chỉ để cho giáo dân và ép người ngoại đạo phải cải đạo vào Ca-tô Giáo nếu muốn được hưởng viện trợ.  Đó có phải là việc từ thiện hay không hay chỉ là từ thiện theo tiêu chuẩn của Ca-tô Rô-ma Giáo?
 
   Người Ca-tô cũng thường quảng cáo cho Ca-tô giáo là đạo của Bác Ái.  Bác Ái là đức tính chung trong thế gian chứ không chỉ riêng trong Ca-tô Giáo.  Nhưng thực ra bác ái trong Ca-tô Giáo là như thế nào.  Người Ca-tô thường quảng cáo các viện mồ côi do các sơ trông coi.  Thực chất các viện mồ côi chỉ là những bình phong của một bộ mặt đạo đức giả, trong thực tế các sơ đối xử rất tàn nhẫn đối với các trẻ trong đó.  Chúng ta có thể kể vài sự kiện.

   Cách đây ít năm, chương trình Prime Time của đài ABC cũng như chương trình Date Line của đài NBC đều đưa lên vụ kiện 1.2 tỷ đô-la [1.2 billion suit] của những trẻ mồ côi, nay đã trưởng thành, thường được biết là những "Trẻ mồ côi của Duplessis" (Duplessis Orphans).  Những đứa trẻ này trước sống trong những viện mồ côi ở Québec, Canada, quản trị bởi các "Sơ của Bác Ái",  dưới triều Thủ Tướng Maurice Le Noblet Duplessis, một tín đồ Công giáo bảo thủ cực đoan.  Một số những đứa trẻ mồ côi trong số khoảng 3000 còn sống sót này, nay đã trưởng thành, đã lập nên một tổ chức để kiện chính quyền Québec và viện mồ côi St. Julian ở Québec, do các "Grey nuns" (Sisters of Charity) quản trị, về những hành động hành hạ độc ác, ngược đãi, lừa gạt của các Sơ đối với các em khi còn ở trong các viện mồ côi, với sự toa rập của chính quyền Công giáo Québec trước đây và bác sĩ Công giáo.. Độc giả có thể đọc chi tiết đầy đủ về vụ "Duplessis Orphans" trong bài "Bác Ái Của Công Giáo Trong Hành Động" (Catholic Charity in Action) [http://www.lazyboysreststop.com/history-3.htm] và bài  "Những Nữ Tu Công Giáo Ác Độc, Lừa Gạt Ở Mỹ Và Trên Khắp Thế Giới" (Abusive Nuns In The USA And Worldwide) trên trang nhà:http://www.ianpaisley.org/new_details.asp?ID=353.

 
   Thay vì tình thương, các em đã nhận được từ các "Sơ của bác ái" (Sisters of Charity) sự đánh đập, hành hạ, lạm dụng tình dục, dùng như là các nô lệ lao động, và một nền giáo dục thô sơ nhất, nếu có. [The care these children received was reminiscent of a Dickens novel. They were beaten, tortured, sexually abused, used as virtual slave labor and provided only the most rudimentary education, if any.]
 
     Bác ái Ca-tô trong hành động của một số Sơ là như vậy.  Nhưng vấn đề không chỉ có vậy.  Vấn đề chính là các viện mồ côi hay "nhà thương điên" của Ca-tô Giáo được trợ cấp của chính quyền và liên bang (Federal).  Và chúng ta đã biết, tiền và tài sản là quan tâm số một của Ca-tô giáo ở mọi nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam.  Vào những thập niên 1940-1960, chính quyền Québec, Canada,  trả cho các viện mồ côi $0.75 cho mỗi em bình thường (normal), và $2.75 cho mỗi em bất bình thường (mentally ill).  Do đó Thủ tướng Công giáo Duplessis đã dàn xếp với các giới chức Ca-tô quản trị các viện mồ côi, và hầu như chỉ qua đêm, một số các viện mồ côi và trường học của Ca-tô đã biến cải thành nhà thương điên [Apparently, Duplessis, and/or some others in his administration, reached an arrangement with the local Catholic authorities, who operated the orphanages. Virtually overnight, some of the orphanages and schools were transformed into psychiatric hospitals.].  Nhà thương điên thì phải có bệnh nhân điên thì mới có tiền của chính phủ, và một số các em bình thường đã được chuyển đến các nhà thương điên của Ca-tô giáo này [Children were shipped from orphanages to existing hospitals. These hospitals also were run by Catholic religious orders..]  Và để hợp thức hóa tình trạng, các bác sĩ Ca-tô, được chỉ định bởi Thủ tướng Ca-tô Duplessis, đã làm hồ sơ giả để chứng thực là các em này điên thật. [Doctors appointed by Premier Duplessis wrongfully declared many of them to be mentally ill]. 
 
   Chỉ vì sự sai biệt $2.00 cho mỗi đầu người mà cả ngàn các em lành lặn trở nên bất bình thường, dưới tay của Thủ tướng Ca-tô, bác sĩ Ca-tô, và các "Sơ của Bác ái Ca-tô".  [Fewer 'normal' orphans and more 'mentally deficient' children meant more money for the religious orders].  Đặc biệt hơn nữa là tuy ở trong nhà thương điên, các em cũng bắt buộc phải lao động không công cho nhà thương [unpaid labor which the children were forced into during their stays in these asylums.]  Một trường hợp khác là chính quyền Québec đã trực tiếp chịu trách nhiệm biến cải nhà thương Ca-tô ở Mont Providence, trước là một viện mồ côi do các "Sơ của bác ái" lập lên [an orphanage founded by the Sisters of Charity (Grey Nuns)], thành nhà thương điên.  Sự biến cải này đã giam khoảng 350 đứa trẻ bình thường trong một nhà thương điên [In the case of the Mont-Providence hospital, the Quebec Government is directly responsible for its conversion to psychiatric facility. This change led to the confinement of approximately 350 normal children in a psychiatric asylum. ]  Chính quyền Duplessis cũng như các dòng tu Ca-tô đã kiếm được nhiều lợi nhuận bằng cách biến cải các viện mồ côi và trường học thành các nhà thương điên và xếp các trẻ em bình thường vào loại những em có bệnh nhân tâm thần. [Duplessis' government gained financially from turning orphanages and schools into mental hospitals and reclassifying normal kids into mentally deficient patients. So did the religious orders that operated these facilities.] 
 
     Một hành động dã man khác của những sơ trông nom các nhà thương gọi là điên này là dùng những hình phạt hay biện pháp để kiềm chế những người điên thật đối với các em nhỏ: bó chặt các em trong những bộ áo đặc biệt, chữa trị bằng điện giật, cho thuốc quá độ, giam giữ trong những chuồng hẹp, và ngay cả giải phẫu những giây thần kinh óc [By being labeled mentally deficient they were subject to treatments such as being strapped into straightjackets, electroshock therapy, excessive medication, detainment in cells and even lobotomies.]  Tệ hại hơn cả là khi giữ các em đó lớn lên, không còn mang lại lợi nhuận, thì các em bị thảy ra ngoài.  Không có học vấn và với hồ sơ y tế ngụy tạo về tình trạng tâm thần, các em không thể sống một cách bình thường như những người trưởng thành khác.  [When no more financial gain could be achieved by keeping them, they are released from their dreadful existence behind those institution walls. With no education and false medical records they were well unprepared for adult life.] Ngay cả hồ sơ về tông tích gia đình của các em cũng bị hủy đi. [Even traces of their families have been snatched from them.]  Vì vậy, nhiều em chết trong viện mồ côi hay trong nhà thương được đưa đến bàn mổ của trường y khoa để cho các sinh viên học.  Có nhiều em chết một cách bất minh và trong nghĩa địa có những nấm mồ vô danh. Chương trình Prime Time của đài ABC nói đến những sự ngược đãi và ngay cả sát hại (mistreatment and even murder] trong các cơ sở "bác ái" này..  Một số các trẻ mồ côi trước sống trong các viện mồ côi đang vận động để khai quật những nấm mồ không tên tuổi này để tìm hiểu sự thật về cái chết bất minh của các em. [A group of orphans are fighting for the bodies of children to be exhumed from an abandoned Montreal cemetery in a bid to discover whether they were the subject of medical experiments. The group has hired a lawyer to ask a court for permission to dig up the bodies of the children, who were also orphans, and perform forensic examinations.]
   Chúng ta cũng không nên quên là năm 2003, Peter Mullan đã viết và đạo diễn một phim có tên là "Các Sơ Magdalene" [The Magdalene Sisters].  Magdalene là một hệ thống các cơ sở của Giáo hội Ca-tô Ái Nhĩ Lan lập lên để đầy những em gái mà Giáo hội coi là không có đạo đức, ở đây các em phải lao động tốt không lương suốt đời.  Cuốn phim dựa trên những sự thật đã xảy ra ở cơ sở này.    Điều kinh khủng nhất, theo quan điểm của Mullan về các cơ sở Magdalene của Công giáo là các bậc cha mẹ đã bị xiết chặt trong móng vuốt của Giáo hội Ca-tô cho nên đã trở thành đồng lõa trong việc đầy ải man rợ con cái của mình. [What is most horrific about Mullan's look at the Magdalene asylums is that the Church had so strong a grip...that parents would be complicit in the barbaric treatment of their own children.]  Chúng ta hãy đọc vài nét về cuốn phim này.
    Đây là một cuốn phim thực sự quan trọng.  Báo của Vatican cho cuốn phim là một "sự khiêu khích có ác ý thù hận".  Điều quan trọng đáng ghi là Vatican không cho là cuốn phim là chuyện bịa đặt.  Lên án một cuốn phim vì đã đưa ra sự thật?  Danh ngôn nói: "Quyền lực thì đồi bại.  Quyền lực tuyệt đối thì đồi bại một cách tuyệt đối."  Điều này có phải đã xảy ra trong nhiều cấp trong tôn giáo (Ca-tô giáo).  Cuốn phim này là về những phụ nữ bị coi là "vô đạo đức" theo tiêu chuẩn của giáo hội bị cưỡng bách loại ra khỏi xã hội và cưỡng bách lao động trong những xưởng giặt bằng tay của giáo hội suốt ngày và mọi ngày để có thể lấy lại ân sủng của Thiên Chúa.  Hơn 30000 phụ nữ đã là nạn nhân.  Họ bị đày ải vô thời hạn và không được trả công, tuy rằng xưởng giặt được trả tiền cho dịch vụ giặt.  Đó có phải là chế độ nô lệ không?  Hãy nhớ rằng, các phụ nữ đó không phạm một tội ác nào, họ chỉ bị giáo hội cho là không có đạo đức.
 
    [God vs. religionby cdog1399 (movies profile) Aug 2, 2003:  This was such an important film. The Vatican newspaper called this film a "malicious and rancorous provocation." It is important to note it was not called a fabrication. Condemnation of a film for telling the truth.?  As the saying goes,: Power corrupts, and absolute power corrupts absolutely."  Is that not what has happened within many religious hierarchies ? This movie is about women considered "immoral" by the church's standards being forced out of society and forced to work in a sweatshop doing laundry by hand all day every day to win back their favor with God. Over 30,000 women were victimized. They were sentenced for an undetermined time period and were not paid, although the facility was paid for the services rendered. Isn't that called "slavery"? Keep in mind, these women had not committed any crime, they were just deemed immoral.]
  Chúng ta hãy xem tiêu chuẩn đạo đức của giáo hội Ca-tô Ái Nhĩ Lan (Ai-len) trong vụ trên là như thế nào.  Cuốn phim đưa ra ba trường hợp điển hình và những hành động ác ôn (wicked) của các Sơ:
   Nạn nhân thứ nhất, em Margaret, bị một người anh em họ hiếp trong một lễ cưới trong khi các ông linh mục ca những bài ca truyền thống Ái Nhĩ Lan.  Em kể ngay việc này với một phụ nữ, thay vì được ủng hộ em trở thành đối tượng của một âm mưu cho tên hiếp dâm chuồn ra khỏi lễ cưới và đưa em vào một cơ sở cứu tế Magdalene. [One, Margaret, is brutally raped by a cousin at a wedding while priests perform traditional Irish songs. Immediately telling a woman, instead of support she becomes the subject of a hasty conspiracy to spirit the rapist from the wedding and to place her in the Magdalene asylum.]
  Nạn nhân thứ hai là em Patricia sinh một đứa con mà không có chồng.  Cô ta bị áp lực của một linh mục phải từ bỏ đứa con và cô ta bị đưa ngay vào một cơ sở Magdalene. [One of the young women, the shy and angelic Patricia, has a baby out of wedlock.She is pressured by a priest to surrender the baby boy and then she, too, is hustled off to the asylum.]
   Trường hợp thứ ba là em Bernadette đang sống trong một viện mồ côi.  Tội của em là dám đứng trong hàng rào tán gẫu với mấy cậu con trai trong làng bị sắc đẹp của em quyến rũ đứng ở ngoài hàng rào.  Chỉ vì vậy mà em bị chuyển đi làm lao động trong cơ sở Magdalene. [The third victim is in an orphanage where she gets under the director's skin for no other offense than she is pretty and boys from the neighborhood crowd a fence to call down to her. Transfer to the asylum follows.]
       Bài học chúng ta học được từ những sự kiện trên là: "Đừng tin những gì người Ca-tô nói mà hãy nhìn kỹ vào những gì họ làm".  Lẽ dĩ nhiên, tin sao là quyền của họ, chẳng ai có thể nói gì về niềm tin tôn giáo đó.  Nhưng về phương diện lịch sử và xã hội, người Ca-tô Việt Nam nên tự hỏi tại sao Ca-tô Rô-ma Giáo lại suy thoái trầm trọng ở nay cái nôi của Ca-tô Giáo trước đây là Âu Châu, đến độ Hội Đồng Giám Mục Âu Châu phải than phiền là "Âu châu ngày nay sống như là không có Thiên Chúa" và Giáo hoàng benedict XVI cũng phải than phiền là "Âu Châu ngày nay sống như là không biết đến Thiên Chúa và cũng chẳng cần đến sự "cứu rỗi" của Giê-su nữa".  Hiện tượng suy thoái trên tất nhiên phải có lý do.  Tôi nghĩ những tín đồ Ca-tô Việt Nam nào còn có chút đầu óc thì cũng phải cảm thấy xấu hổ vì cái lịch sử tàn bạo đẫm máu của tôn giáo mình, so với các tôn giáo khác như Phật Giáo, Lão Giáo v…v…  Họ cũng phải cảm thấy xấu hổ vì một số không nhỏ những "bề trên" của mình, từ giáo hoàng trở xuống cho đến Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám mục và Linh Mục mà mình vẫn được dạy phải cúi đầu "quên mình trong vâng phục", lại quá vô đạo đức, vô lương tâm, vô nhân tính.  Họ cũng phải cảm thấy ngượng ngùng, nếu họ còn biết ngượng, trước người ngoại đạo là tại sao mình vẫn còn bị mê hoặc, tiếp tục ở trong một một tôn giáo mà cái lịch sử tàn bạo ô nhục đẫm máu của nó là một sự kiện không thể chối cãi, và nhất là, vẫn còn tin vào những điều đượm màu hoang đường mê tín đã không còn giá trị trong các xã hội văn minh tân tiến ngày nay.  Như vậy có phải thật là đáng buồn không? 
 
 
    Trần Chung Ngọc.
    Viết xong ngày Lễ Độc Lập, 2011

CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐỘC TÀI HAY KHÔNG ?


CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐỘC TÀI HAY KHÔNG ?


Nguyễn Kha


Muốn biết một chế độ, bất kỳ chế độ có tên gọi là gì, có độc tài hay không, ta chỉ cần đơn giản trả lời ba câu hỏi rất cụ thể, dễ kiểm chứng, và bất khả phản bác sau đây:


1- Chế độ đó có khung pháp lý cho đối lập chính trị hay không ?

Nếu không có khung pháp lý đó, hay có đối lập mà bị đàn áp thủ tiêu, thì chế độ đó chắc chắn độc tài. Hiến pháp 1956 thiết định Quốc hội chỉ có một Viện, không có "Thượng Viện" như quốc hội Mỹ, nơi định chế hóa sự có mặt của đảng phái. (Phải đợi đến sau 1963, khi thành lập Đệ nhị Cọng hòa với Hiến pháp ban hành vào tháng 4 năm 1967, Quốc hội mới có thêm Thượng Viện với sự có mặt của 6 liên danh đại diện cho các đảng phái và khuynh hướng chính trị). Do đó, từ tiên quyết, chế độ Diệm đã không thừa nhận và khuyến khích một chế độ đa đảng, vì vậy mà khi đi vào thực tế sinh hoạt, xã hội miền Nam không phải là một xã hội đa nguyên chính trị. Chế độ Diệm:

- đã đàn áp các đảng phái quốc gia đến nỗi Đại Việt Quốc Dân đảng phải lập chiến khu Ba Lòng ở Quảng Trị để võ trang chống lại, còn các đảng khác như Việt Quốc, Duy Dân, Dân Xã thì co cụm lại đi vào bí mật để đối lập,

- đã thủ tiêu mạng sống của đối lập chính trị (Tạ Chí Diệp, Nguyễn Tấn Quê, Vũ Tam Anh, Nguyễn Bảo Toàn, Ba Cụt Lê Thành Vinh, Trình Minh Thế, Hồ Hán Sơn …) Đó là chưa nói đến những Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương, Võ Côn, Trần Bá Nam, … trong vụ án gián điệp miền Trung - Oan hồn những người nầy bây giờ không biết có được nhóm tàn dư Cần Lao Công giáo ở hải ngoại thắp cho nén hương mỗi lần họ làm thánh lễ "cầu hồn" cho ông Diệm vào ngày 1 tháng 11 không ? Và bạn bè, đồng chí, bà con của những oan hồn nầy nghĩ gì về những vọng ngôn xảo ngữ của những "sử gia" hoài Ngô đang sơn phết lại "Ngô Tổng thống muôn năm" để bóp mép lịch sử và chia rẽ dân tộc,

- đã kết án rồi tìm cách giết các nhà đối lập chính trị thuộc nhóm "Caravelle" khi ra lệnh cho phi cơ của Không quân thả bom xuống Hải vận hạm HQ401 khi chiến hạm nầy đang trên đường chở các nhà đối lập nầy ra nhà tù Côn đảo,

- đã cưởng bức o ép đến nỗi ông Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất Linh) phải tự tử và để lại câu trối trăn tiền định: "Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất vào tay Cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hũy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do."


2- Trong nhà tù của chế độ có chính trị phạm hay không ?

Nếu có chính trị phạm, dù chỉ một người, thì chế độ đó chắc chắn độc tài. Chế độ Diệm, theo Avro Manhattan trong "Vietnam, Why Did We Go ?", đã bỏ tù hơn 300,000 người vì lý do chính trị. Theo ông Lê Nguyên Long, một lãnh tụ Quốc Dân Đảng ở miền Trung, thì hàng ngàn cán bộ của đảng ông đã bị nhóm "Cần Lao ác ôn" (như ông Quận trưởng tên Thái ở Điện Bàn, Quảng Nam) vu cáo là Việt Cọng rồi bỏ tù theo luật 10/59. Trong Nam thì đội Phước kéo lê máy chém đi hành hình không biết bao nhiêu người kháng chiến yêu nước không-Cọng sản trong chiến dịch Tố Cọng của bộ trưởng Trần Chánh Thành. Ngoài ra còn hai nhà tù siêu chính phủ là "Chín hầm" ở Huế của ông Ngô Đình Cẩn không nằm trong hệ thống Tư pháp quốc gia , và trại biệt giam P42 của ông Ngô Đình Nhu, cũng bí mật không thuộc cơ quan nào của chính phủ cả, ở gần Sở thú Sài Gòn, đã nhốt biết bao nhiêu người chiến sĩ yêu nước nhưng không chịu được chế độ độc tài của Thục-Diệm-Nhu-Cẫn (như các cụ Nguyễn Xuân Chử, Xuân Tùng, Trần Văn Hương, Phan Bá Cầm, Phan Quang Đán, Nguyễn Văn Lực, Phan Khắc Sữu, …)


3- Trong sinh hoạt ngôn luận, có tự do báo chí hay không ?

Nếu không có tự do báo chí thì chế độ đó chắc chắn độc tài. Chế độ Diệm có ông Bộ trưởng Thông tin cũng là Chủ tịch Phong trào Tố Cọng toàn quốc, ký giả nói gì viết gì cũng phải trong cái khung tố Cọng, dọa nhau thì lại chụp cho cái nón cối lên đầu. Lại có hệ thống Cấp bông giấy (in báo) để khống chế quyền độc lập của chủ báo, và có gia nô của chính phủ độc quyền hệ thống Phát hành thì làm sao nói đến tự do báo chí nữa.

► Nhật báo Tự Do của các ông Nguyễn Hoạt (Hiếu Chân), Lưu Đức Sinh (Mặc Thu), Lê Văn Tiến (Như Phong), Tam Lang (Vũ Đình Chí) ... lúc đầu là diễn đàn chống Cọng sâu sắc và hiệu quả nhất nhưng cuối cùng cũng không thể hợp tác được với chế độ Diệm. Số Xuân Tự Do năm Canh Tý (1960), vì in hình bìa của họa sĩ Phạm Tăng vẽ 5 con chuột (vừa tượng trưng cho tuổi Tý của ông Diệm vừa tiêu biểu cho 4 anh em Ngô Đình và bà Nhu) đang gậm nhắm đục khoét trái dưa hấu (tượng trưng cho miền Nam) nên báo bị đóng cửa và các ký giả thì đi tù.

► Nhà báo Vũ Bằng mô tả tình trạng làm báo dưới chế độ Diệm trong tác phẩm nổi tiếng "Bốn Mươi Năm Nói Láo" (Cơ sở Xuất Bản Sống Mới – Sài Gòn – 1969, trang 204 đến 263) như sau:

… nhà báo đối lập chẳng trước thì sau cũng bị lâm vào mấy cái thế sau đây: báo bị đóng cửa; chủ nhiệm, quản lý … bị đưa đi bí mật ban đêm; nếu không thế thì một ngày đẹp trời nào đó tự nhiên cũng bị ghép vào tội gá bạc, tống tiền, dỗ gái vị thành niên hay đi lừa đảo, đưa ra toà, gia sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn liếng đi tiêu hết.

… ông Nhu và vợ đặt ở các văn phòng các đường phố một số mật báo viên , có nhiệm vụ báo cáo những phần tử chỉ trích chánh phủ; ngoài ra theo dõi hành động của các tờ báo khác, hồ thấy viết một câu nào xa xôi, xách mé bóng gió thì đóng cửa vĩnh viễn, còn ký giả nào bướng bỉnh, không quy phục thì chụp cái nón cối Cọng sản lên đầu, cho xuống hầm tối để không bao giờ lên được đất liền nữa, hoặc có lên được cũng mù loà, què quặt, bán thân bất toại.

… Không khí làng báo lúc ấy thực đìu hiu, tẻ lạnh. Mỗi buổi sáng, người làm báo nhận được những cú điện thoại cho biết phải tránh những tin gì không được nói, những lời tuyên bố nào của ông Diệm, bà Nhu phải làm to; thậm chí lại có khi buộc phải đưa câu nói này của bà Nhu lên làm vơ-đét tám cột, diễn văn kia của ông Diệm năm cột và kèm theo thật nhiều tranh ảnh.

… Báo nào mới ra đời cũng la thét ghê gớm lắm: nào dám nói, dám làm, dám chửi; nào phục vụ nhân dân, đứng hẳn về phiá đối lập, đòi công bằng xã hội, tranh đấu cho đồng bào có cơm no áo ấm; nào quét sạch thối tha, nhơ bẩn, dám làm, dám chết…nhưng rút cục trong một chính thể độc tài, nô lệ, dân chủ ngụy tạo như chính thể nhà Ngô, chẳng có một tờ báo nào thoát được ra ngoài quỹ đạo của chế độ Ngô Đình Diệm.

► Còn ba nhà báo tên tuổi là Từ Chung (báo Chính Luận), Hiếu Chân (tên thật llà Nguyễn Hoạt làm báo Tự Do) và Chu Tử (tên thật là Chu Văn Bình làm báo Sống), ngay sau khi chế độ Diệm sụp đổ, trong "Lời Hiệu triệu các Nhà Văn Nhà Báo" đăng trên báo Ngôn Luận số ra ngày 4/11/1963, đã hối hận thú nhận rằng:


Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, giải phóng con người vậy mà trong thời gian vừa qua, vì cơm áo, khiếp nhược, đớn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ tâm hồn, phản bội sự thật, phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè lũ họ Ngô. Dù chúng ta có viện bất cứ lẽ gì để bào chữa, chúng ta cũng không thể chối cãi được tội lỗi của chúng ta đối với đồng bào, lịch sử...

Cách mạng 1/11/1963 là cơ hội duy nhất để chúng ta thoát khỏi cảnh huống bồi bút phi cầm phi thú, cơ hội duy nhất để chúng ta trở lại làm người đã tới... Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi văn nghệ sĩ, bằng máu và nước mắt, mồ hôi mà trong chín năm qua bè lũ họ Ngô đã làm hoen ố...

Chế độ Ngô Đình Diệm, sản phẩm chính trị của Mỹ và Vatican, không xuất sinh từ dân tộc, lại hội đủ 3 yếu tố của một chế độ độc tài, nên đã bị dân tộc Việt Nam khước từ và thời đại ném vào sọt rác.

Nhưng ngày nay, đã bước vào thế kỹ 21, vẫn có chỉ một bộ phận muốn bào chữa cho nó mà thôi: Vatican !

Nhưng không phải là Vatican thì còn ai vào đó nữa ? Thật là thảm thương !


Nguyễn Kha

2011/08/02

Người Phu Đào Huyệt

Người Phu Đào Huyệt
Hoàng Nguyên Nhuận


Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về... Câu sấm ấy một lần nữa lại được ứng nghiệm.
Nguyễn đây không phải là một người thuộc dòng dõi Nguyễn Hoàng.
Nguyễn đây là Nguyễn cao Kỳ, cựu Tư Lệnh Không Quân, cựu Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa.

Hành động can đảm của một đứa con hoang. Chuyện phải đến đã đến, thế thôi.

Quyết định về Việt Nam đón Tết Giáp Thân 2004 của Nguyễn cao Kỳ khoanh trọn một chu kỳ lịch sử vừa oai hùng, vừa oan nghiệt, nếu không của cả dân tộc thì ít ra cũng cho cá nhân và gia đình Nguyễn cao Kỳ.

Cuộc chiến vì độc lập, hòa bình, thống nhất của quốc gia kết thúc ngày 30/4/1975. Lịch sử như một con tàu, đến rồi đi, nhưng thường cũng để rơi rớt lại một số người ngơ ngác ồn ào trên cả hai phía sân ga như bao giờ. Con tàu VN cũng thế.

Thay vì độc lập, những người này lại muốn đất nước vẫn tiếp tục bị lệ thuộc, không Pháp, Mỹ thì cũng Nga, Trung Quốc. Thay vì hòa bình, họ lại muốn đất nước vẫn dây dưa trong một cuộc nội chiến, tiếp tục xa lìa nhau bằng những biên giới huyễn hoặc có tên là Việt Cộng và Quốc Gia, Bắc Kỳ cũ và Bắc Kỳ mới, vô thần và hữu thần, nguỵ và cách mạng.

Chiến tranh kết thúc đã gần ba mươi năm nhưng họ vẫn suy nghĩ, ăn nói, hành động như năm, sáu mươi năm trước. Họ là những xác chết biết đi đang ngấp nghé sắp hàng với những người Nga đào tỵ sau năm 1917, những người Hoa chạy khỏi lục địa sau năm 1949, những người Cuba di tản năm 1959, hay với Kim chính Nhất của Bắc Hàn hôm nay.

Chuyến hồi hương của Nguyễn cao Kỳ là một lát cuốc xẻng khơi sâu mộ huyệt cho những xác chết chưa chôn đó.

Ðối với những người Việt chạy khỏi nước từ năm 1975, về thăm nhà hay về quê ăn Tết không còn là chuyện hiếm hoi, liều lĩnh hay mới lạ.

Nhưng với những xác chết biết đi, chuyến về của Nguyễn cao Kỳ là một sự phản bội.

Phản bội lại công việc kinh doanh ảo tưởng và đầu tư thù hận của những kẻ đang chờ đợi đất nước sạch bóng quân thù để giải thể chế độ đương hành và tái lập chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa. Hành động tôn vinh tưởng niệm Ngô chí sĩ hàng năm của họ nói lên cuồng vọng đó. Họ không muốn chết và không muốn cho anh em nhà Ngô siêu thăng.

Sự chờ đợi này được đặt cho nhiều tên gọi nhưng tựu trung vẫn có hai đặc điểm rõ rệt.

Thứ nhất, đó là một cuộc đấu tranh ủy nhiệm, viễn khiển. Người chủ chốt không trực tiếp nhúng tay vào, họ chỉ dùng gian dối, lừa mị, khủng bố, già họng xúi dục kẻ khác làm thay cho họ chuyện CCCB - chống cộng chết bỏ, hay CCCÐ - chống cộng cực đoan hoặc chỉ mấy người chủ chốt, hay cầm cu chó đái để chỉ mấy người bị lừa và bị lợi dụng.

Thứ hai, họ là công cụ của những thế lực chính trị và tôn giáo quốc tế đang muốn quay trở lại VN để làm những điều mà cả trăm năm qua những thế lực này đã cố gắng làm và đã thất bại.

Chuyến về quê sau gần 40 năm lang bạc kỳ hồ, lên bổng xuống trầm, đi ngang về ngược của Nguyễn cao Kỳ đã phơi bày hai đặc điểm đó. Họ đã tung ra và chạy theo những chiếc bong bóng thời sự như phục quốc, chống văn hóa vận, chống Trần Trường, thắp sáng niềm tin, tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo, chống bỏ cấm vận, chống cá tra, ủng hộ Linh Mục Nguyễn văn Lý, bảo vệ biên giới và lảnh thổ, phất cờ vàng ba sọc đỏ chống SBS-TV và tấn phong Huyền Quang-Quảng Ðộ-Tuệ Sĩ thành tam đầu chế đối kháng giải thể chế độ cộng sản.

Nguyễn cao Kỳ xuất hiện như một cây kim đâm xì hơi những cái bong bóng thời sự ấy. Nguyễn cao Kỳ là cái phao cuối cùng, cái thế dựa của những xác chết biết đi, cái phao đó đã trôi theo dòng nước,cái thế dựa đó đã không còn.

Năm 1966, Nguyễn cao Kỳ đã tự đào huyệt vùi lấp công danh sự nghiệp của mình khi đánh phá Phật giáo Ấn Quang, dẹp phong trào đòi hỏi Quốc Hội Lập Hiến phát xuất từ Miền Trung, làm ngựa cho Nguyễn văn Thiệu cưỡi vào Dinh Ðộc Lập.

Năm 2004, từ một lãnh tụ của những người tự nhận là CCCB - CCCÐ, Nguyễn cao Kỳ trở thành phu đào huyệt cho những người chưa chịu chết, cho những cái xác biết đi.

Nguyễn cao Kỳ là biểu tượng của một thứ trai thời loạn thiếu định hướng, một kẻ có lòng lạc loài.

Nguyễn cao Kỳ là một đặc sản của Việt Nam thời Pháp độc quyền chống Việt Minh, và tiếp đó là một đặc sản của Miền Nam thời Hoa Kỳ độc quyền chống Việt Cộng.

Ðời Nguyễn cao Kỳ thật sự lên hương từ ngày 19/6/1965, ngày mà chính Nguyễn cao Kỳ đã rửa tội cho thành Ngày Quân Lực trong buổi lễ ra mắt tại hội trường Diên Hồng, Sàigòn.

Với lối rửa tội này, Tòa Ðại Sứ Mỹ đang dùng Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu để làm điều Nguyễn Khánh muốn làm nhưng chưa được: quân đội là cha, thiết lập một chính quyền quân phiệt làm bình phong cho Mỹ leo thang chiến tranh.

19/6/65 là ngày trình diện Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Nguyễn văn Thiệu làm chủ tịch, một thứ Quốc Trưởng hàm và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Nguyễn cao Kỳ làm chủ tịch, một thứ chính phủ nắm thực quyền.

Buổi lễ ra mắt này khởi diễn với lời giới thiệu của ban tổ chức: Nhị vị chủ tịch bước lên sân khấu.

Câu nói ấy thể hiện đúng thực chất của Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu, hai ông tướng phường chèo bước lên sân khấu để chính thức nhận lảnh vai trò những công cụ cho Hoa Kỳ độc quyền điều khiển cuộc chiến ở Việt Nam.

Ðại sứ Lodge gọi Nguyễn cao Kỳ là thằng con thứ của tôi - my second son.

Tướng Nguyễn chánh Thi kể rằng để điều hợp cuộc leo thang chiến tranh ở Việt Nam, TT Johnson đã tổ chức một hội nghị chiến lược ở Honolulu ngày 2/8/65, Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu được phép tham dự để nhận chỉ thị. TT Johnson ra tận phi trường nghênh đón nhị vị chủ tịch. Khi thấy Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu từ trên phi cơ bước xuống, TT Johnson đã vẫy tay reo lên: Eh boys!

NCK, Phạm văn Liễu, Ngô trọng Anh và cả Lê văn Thái hay Thái Trắng vẫn còn đó cả, và có thể còn nhớ là sau khi nhận chức Chủ Tịch UBHPTƯ, Nguyễn cao Kỳ đã nhờ Liễu ra Huế đón một số người ở Huế vào nhà Ngô trọng Anh để góp ý thành lập nội các cho Nguyễn cao Kỳ.

Một số anh em đồng ý hợp tác với Nguyễn cao Kỳ. Ngày hôm sau, anh Bùi tường Huân và tôi đã hẹn vào Trại Phi Long - Tân Sơn Nhất gặp Nguyễn cao Kỳ để gián tiếp xác nhận sự ủng hộ của nhóm Huế đối với Nguyễn cao Kỳ.

Chúng tôi đến trong lúc Nguyễn cao Kỳ đang ăn sáng. Cà-phê sữa, mì, trứng chiên, Nguyễn cao Kỳ mặc quân phục ka-ki đà đậm, ủi láng bâng... chừng như có thể làm gương soi mặt. Lần đó, tôi nhớ tôi chỉ lưu ý Nguyễn cao Kỳ ba chuyện.

Thứ nhất, phải nghĩ đến chuyện dùng lá phiếu dân chủ như một lá chắn để đương đầu với những sức ép của Mỹ và ngăn tham vọng chính trị của những tướng tá bị ra rìa rắp ranh đảo chánh. Qua kinh nghiệm bầu cử Hội Ðồng Tỉnh Thị thời Phan huy Quát, tôi nghĩ chúng tôi có thể bảo đảm thắng lợi cho Nguyễn cao Kỳ.

Thứ hai, đừng quá nhu nhược với Westmoreland và Lodge.

Thứ ba, phải coi chừng Nguyễn văn Thiệu, vừa thâm vừa nhát lại có nhiều tham vọng. Về điểm 1, Nguyễn cao Kỳ ngần ngừ không đưa ra một thời khóa biểu dân chủ hoá nào cả mà chỉ nói chuyện cách mạng xã hội, chống gian thương tham nhủng. Về điểm 3, Nguyễn cao Kỳ cam đoan sẽ không làm bồi Mỹ. Tôi nửa đùa nửa thật: Tôi e là họ đã chọn ai là bồi cho họ rồi, và từ đó lưu ý Nguyễn cao Kỳ về Nguyễn văn Thiệu.

Tôi nhớ mãi hình ảnh Nguyễn cao Kỳ chìa bàn tay xinh như bàn tay con gái ra lật qua lật lại và nói: Anh đừng lo. Thiệu thì tôi muốn cho ở cho đi lúc nào chẳng được. Tôi là cái dù mà! Tôi gật đầu cười nhẹ: Vâng, ông là cái dù, nhưng coi chừng Thiệu có thể làm cái cán đấy...

Tôi cũng nói với Nguyễn cao Kỳ là chúng tôi sẽ tránh liên hệ mật thiết với Nguyễn cao Kỳ vì tôi nghĩ Mỹ không thích những người được quần chúng ủng hộ đâu, để gián tiếp lưu ý Nguyễn cao Kỳ là chỉ còn cách công khai hóa sự ủng hộ ấy bằng bầu cử.

Sau cuộc họp thượng đỉnh ở Honolulu về thì Nguyễn cao Kỳ hoàn toàn thay đổi. Không nói gì dân chủ, hiến pháp, bầu cử nữa, mà chỉ nói phải huấn luyện và giáo dục dân chủ cho dân trước, và cách mạng xã hôi trở thành xây dựng nông thôn.

Cố gắng thiết thực nhất của Nguyễn cao Kỳ là tuyên bố thành lập Nội Các Chiến Tranh, lập ủy ban chống tham nhủng, Ðoàn Thanh Niên Trừ Gian, và đem Tạ Vinh bị tội gian thương Chợ Lớn ra xử bắn để tế cờ.

Ðiều này lại càng làm cho Mỹ khó chịu với Nguyễn cao Kỳ hơn vì ngán Nguyễn cao Kỳ có thể điên điên không vâng lời mình, và nhất là vì chủ trương của Mỹ là dùng tư sản mại bản để khống chế kinh tế Miền Nam như người ta nuôi bệnh nhân bằng cách chuyền nước biển.

Cứ nhớ lại vụ Tòa Ðại Sứ Mỹ và tay sai hè nhau đánh Tướng Nguyễn văn Vỹ khi ông thành lập Quỹ Tiết Kiệm Quân Ðội với tham vọng có được một chút tự túc về tài chánh và phương tiện chứ không mỗi chút mỗi ngữa tay xin Mỹ như thế nào thì đủ rõ. Chuyện gì xảy ra thì mọi người đã biết.

Nguyễn cao Kỳ đã trút hết tất cả những đắng cay ấm ức đối với Hoa Kỳ và Nguyễn văn Thiệu cho ký giả Oriana Fallaci qua một buổi trò chuyện diễn ra hồi tháng 3/1968, sau vụ Tết Mậu Thân đợt 1 và trước vụ Mậu Thân đợt 2, được đăng lại trong quyển The Egotists, [Tempo Books, NY 1969, tt. 53-67].

Thông thường, mặn hết ngon, giận hết khôn, trái lại ở đây, trong cơn đắng cay ấm ức, người ta mới thấy rõ Nguyễn cao Kỳ là ai, nghĩ gì?

Cảm nghĩ của Fallaci sau cuộc phỏng vấn là Nguyễn cao Kỳ đáng... " là lãnh tụ của một vùng đất thiếu lãnh tụ một cách đau đớn. Qúy vị sẽ nhận thấy điều đó khi ngỡ ngàng lắng nghe ông ta khoảng hơn 10 phút. K không phải là một thằng ngố, ông ta có điều muốn nói, và ông nói huỵch toẹt mà không sợ vạ miệng. Ðầu tiên, ông ta là một người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng không phải là thứ xã hội chủ nghĩa hồng, đang tiến thối lưỡng nam giữa một đàng là cãi tạo, và một đàng là thỏa hiệp. Ông ta là một người theo xã hội chủ nghĩa Mác-xít y hệt như Hồ chí Minh. Và cũng như Hồ chí Minh, ông ta không tin vào dân chủ theo ý chúng ta (người da trắng), không tin vào tự do theo như chúng ta quan niệm. Dưới mắt ông, hạng giàu là những kẻ hư đốn đứt đuôi con nòng nọc, hạng nghèo là những kẻ hẳn nhiên vô tội; cách mạng xã hội là giải pháp duy nhất cho vấn đề Việt Nam. Ðó không phải là một cuộc cách mạng ôn hòa, cũng không phải là một cuộc cách mạng hiến chế. Ðó phải là một cuộc cách mạng bạo động, một cuộc cách mạng đẩm máu, nếu cần" (sđd. tr.56).

Hãy nghe một vài đoạn đối thoại giữa Nguyễn cao Kỳ và Fallaci...

Fallaci: -Tướng Kỳ này, có phải ông đang nói về cách mạng không?
Nguyễn cao Kỳ: -Ðã hẳn. Ðiều người Mỹ không biết là Miền Nam cần một cuộc cách mạng để ngang hàng với lý tưởng cách mạng ở Miền Bắc, để chứng tỏ không phải chỉ ở Miền Bắc mới cần công chính... Tôi không màng những cuộc bầu cử mà Mỹ đòi hỏi phải có. Hầu hết nhữg người được bầu ra ở Miền Nam không phải là những kẻ dân muốn chọn, họ không đại diện cho ai cả... Những cuộc bầu cử vừa rồi của chúng tôi là một cách phung phí thì giờ và tiền bạc, một trò hề... Tôi cũng đã ra ứng cử, đã đắc cử như một Phó Tổng Thống của một chế độ đã được chọn ra như thế, nghĩa là tôi cũng có trách nhiệm với trò hề đó. Nhưng ít ra thì tôi cũng thấy được cái xấu xa quỷ quái chỗ nào. Và tôi nói luật pháp phải thay đổi, vì những luật lệ hiện hành của chúng tôi là luật bảo vệ nhà giàu. Chúng tôi cần những luật lệ bảo vệ người nghèo.

Fallaci: -Tướng Kỳ này, đó chính là điều Hồ chí Minh nói, điều Việt Cộng nói. Ðó là xã hội chủ nghĩa, là Mác-xít.
Nguyễn cao Kỳ: -Thì có ai chối đâu? Tôi đâu có ngán mấy chữ "xã hội chủ nghĩa". Chính người Mỹ đã làm cho mấy chữ đó trở thành xấu xa... Cô bảo tôi là một tay Mác-xít. Ðây không phải là lần đầu tiên một người Âu Tây bảo tôi như thế. Như vậy, có thể tôi là một tay Mác-xít. Thì đã sao? Tôi không hề biết Marx, Engels, hoặc bất cứ một lý thuyết gia nào gốc Âu châu. Họ lập thuyết và tôi không hơi đâu mất thì giờ với lý thuyết. Thành thật mà nói, tôi không đọc sách. Tôi cũng không xấu hổ nhận rằng tôi ít học. Sức học của tôi chưa quá trung học. Tôi nghỉ học lúc 18 tuổi khi người Pháp đóng cửa trường và đẩy chúng tôi đi đánh nhau. Tôi là một phi công, sống chết với máy bay chứ không phải với sách của Marx hay của Engels. Tôi không cần bận tâm chuyện Marx đã khám phá ra rằng nhà nghèo không cần phải nghèo mãi. Tôi không cần khám phá của Marx mới biết điều sơ đẳng đó. Tôi là người da vàng, người Á châu, tôi hiểu đất nước tôi hơn những người da trắng đã viết ra sách vở.

Fallaci: -Tướng Kỳ ơi, nói gì thì nói sự thật là nếu ông đọc những sách đó thì ông sẽ ý thức rằng ông đang nói những điều mà chính những người ông đang đánh nhau với cũng nói y hệt. Ông có thể cho tôi biết tại sao ông chống Cộng Sản không?
Nguyễn cao Kỳ: -Tôi chỉ biết Cộng Sản trong xứ tôi thôi. Và tôi không thích thứ Cộng Sản ấy. Tôi không thích thấy một đứa con nhân danh đảng đấu tố mẹ mình. Tôi không thích một đảng nhân danh ý thức hệ để đạp đổ gia đình và những tình cảm gia tộc. Tôi không thích một xã hội trong đó mỗi người là một đảng viên. Do đó, dù tôi chống cái tự do đã gây nên hỗn độn và ngăn trở thực hiện công bằng xã hội, nhưng tôi cũng chống độc tài nữa. Tôi không biết phải nói sao về điều ấy. Có lẽ tôi nên giải thích như thế này: Tôi không ưa Công giáo và Cộng Sản lại y hệt Công giáo. Người Cộng Sản thần phục đảng y hệt như người Công giáo quỵ lụy Giáo Hội - một cách cuồng tín. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng. Nhưng dĩ nhiên tôi không chống Cộng khi họ phân chia tài sản, và tôi đồng ý trăm phần trăm với họ khi họ tước đất của người giàu đem phân phát cho người nghèo. Khi họ trao súng cho nông dân và bảo: Hãy đấu tranh cho một cuộc đời tốt đẹp hơn. Khi họ tước bỏ những đặc quyền đặc lợi giai cấp, khi họ nói rằng phân chia giai cấp là sai. Như Khổng Tử từng nói, chúng ta phải nâng kẻ nghèo lên và hạ người giàu đến một mức mà mọi người có thể hoàn toàn hòa hợp chung sống.

Fallaci: -Tướng Kỳ này, có lúc nào ông nghĩ rằng ông đã lựa chọn sai chỗ đứng không? Có bao giờ ông nghĩ rằng ông có thể hợp với Hồ chí Minh không?
Nguyễn cao Kỳ: -Vâng... nếu số phần của tôi khác thì tôi đã đứng về phía ông ấy rồi. Nhưng theo ông ấy thì bây giờ tôi là gì? Tôi có thể chỉ là một cán bộ quèn câm nín trong guồng máy đảng, chẳng làm nên tích sự gì. Còn ở phía bên này, tôi là Nguyễn cao Kỳ; và tôi có thể làm được việc này việc khác. Dĩ nhiên, con ém không làm nên mùa hạ nhưng con én ít ra cũng báo hiệu mùa hạ... Ðôi khi người ta hỏi tôi: anh có muốn biết qua về Hồ chí Minh không? Thành thật mà nói tôi không muốn, và cô biết tại sao không? Vì ông ấy thuộc thế hệ khác. Dĩ nhiên ông ấy là một lãnh tụ tài ba, nhưng ông ấy già rồi. Ông ấy ngoài 7 mươi còn tôi thì mới 37... Những người như Hồ chí Minh không thuộc thế kỷ này, hệ thống chính trị của họ cũng đã lỗi thời...

Fallaci: -Nhưng Tướng Kỳ ơi, nếu ngày nào đây, ông thấy ông không thể thực hiện cuộc cách mạng của ông, rằng ông đã chọn lầm phe, ông có sẵn sàng nhảy qua bên kia không?
Nguyễn cao Kỳ: -Không. Ðã chọn thì phải đi đến cùng. Sớm muộn gì, nếu tôi thấy tôi đã chọn nhầm thế đứng thì tôi thà chết còn hơn là đổi phe... Tôi thà chết hơn là phải thú nhận mình đã chọn lầm đường đi...

Fallaci: -Ông thực sự tin ông sẽ thành công, hay ông chỉ mơ ông thành công?
Nguyễn cao Kỳ: -Tôi tin vào vận mạng của tôi, cho nên tôi tin tôi sẽ thành công, trừ trường hợp chúng (không phải là cộng sản) giết tôi. Nếu chúng không giết tôi thì tôi chắc thắng vì tôi không thuộc phe thiểu số. Ðại khối quần chúng - người nghèo, nông dân- ủng hộ tôi.

Nguyễn cao Kỳ múa tay trong bị không phải vì Hoa Kỳ không cho phép Nguyễn cao Kỳ đổ bộ Miền Bắc hay tham dự oanh tạc. Bởi chiếc Skyrider của Nguyễn cao Kỳ chỉ đủ sức vượt vỹ tuyến ra đến Cồn Cỏ, Vĩnh Linh.

Nguyễn cao Kỳ múa tay trong bị vì Hoa Kỳ và tập đoàn Nguyễn văn Thiệu không để cho Nguyễn cao Kỳ thử thời vận với cuộc cách mạng xã hội của ông.
Vụ Miền Trung bùng nổ mùa Hạ 1966. Nguyễn cao Kỳ và nhóm của ông đã đội nón rơm chữa lửa bằng cách bắt nhốt tất cả những ai đòi hỏi dân chủ, hiến pháp vào tù và tổ chức bầu cử độc diễn hợp thức hóa chức Tổng Thống cho Nguyễn văn Thiệu.

Nguyễn cao Kỳ đồng ý đứng phó với điều kiện các chức vụ ông đã thiết lập trong thời làm Chủ Tịch UBHPTƯ phải giữ nguyên, và ông được quyền chọn Thủ Tướng.

Kẻ được ông chọn là Luật sư Nguyễn văn Lộc. Nhóm Nguyễn văn Thiệu đồng ý nhưng khi bầu cử xong rồi, Nguyễn văn Thiệu đã được hợp thức hóa thì ông trở mặt, lần lữa mãi đến ngày lễ đăng quang vẫn không chịu tấn phong Nguyễn văn Lộc.

Hôm đó, Nguyễn ngọc Loan thông báo thẳng cho Nguyễn văn Thiệu biết là đâu đó trong đô thành có một chiếc xe bít bùng trên xe trí sẵn súng cối và tọa độ được điều chỉnh là trụ sở Hạ Viện, địa điểm cử hành lễ đăng quang. Nguyễn văn Thiệu không chấp nhận Nguyễn văn Lộc thì buổi lễ đăng quang coi như không có.

Nguyễn văn Thiệu buộc lòng phải nhận cho Nguyễn văn Lộc làm Thủ Tướng. Cho đến khi vụ Mậu Thân xảy ra. Tất cả tay chân Nguyễn cao Kỳ bị dứt gọn ở Chợ Lớn vì "hỏa lực bạn" như Ðại Tá Văn văn Của - chỉ bị thương - Ðô Trưởng Sài Gòn-Gia Ðịnh, Trung Tá Phó quốc Trụ Giám Ðốc Thương Cảng Sài Gòn, Trung Tá Ðào bá Phước Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân Thiếu Tá Nguyễn bảo Thụy Phụ Tá Tổng giám Ðốc CSQG Nguyễn ngọc Loan và Thiếu Tá Lê ngọc Trụ Quận Trưởng Quận 5. Nguyễn ngọc Loan bị bắn gãy giò mất luôn chức Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát Quốc Gia, Lưu kim Cương kẻ trách nhiệm an ninh cho Nguyễn cao Kỳ trong trại Phi Long bỏ mạng ngoài vòng đai Tân Sơn Nhất, Nguyễn văn Lộc mất chức Thủ Tướng, Nguyễn cao Kỳ chỉ còn là một con cua bị lảy hết cọng hết càng nằm chình ình một đống bên cánh trái Dinh Ðộc Lập với hư danh Phó Tổng Thống, ăn rồi ngồi đọc truyện kiếm hiệp và truyện trinh thám.

Trước ngày 30/4/75, trong khi Nguyễn văn Thiệu lủi mất rồi sau khi trút hết gánh nặng cho Nguyễn bá Cẩn, rồi Trần văn Hương và Dương văn Minh thì Nguyễn cao Kỳ nhảy ra hô hào thà chết chứ không đầu hàng...

Trong khi Tướng Nguyễn khoa Nam và Tướng Lê văn Hưng chờ đợi Nguyễn cao Kỳ về Vùng 4 bắt tay hành động thì Nguyễn cao Kỳ đã... di tản chiến thuật. Bằng cách nào?

Trong một bài bào trên tờ New York Times ngày 26/1/04 nhan đề Sau Nhiều Thập Niên, Một Người Có Tiếng Tăm của Sài Gòn Thăm Lại Việt Nam Với Sự Ðồng Thuận của Hoa Kỳ (After Decades, Saigon Figure Visits Vietnam With U.S. Nod) tác giả là Jane Perlez kể rằng: Trong cuốn tự truyện "Con Cầu Tự" viết chung với Marvin J. Wolf, ông Kỳ đã kể một câu chuyện không màu mè hoa hòe hoa sói về cuộc trố khỏi xứ của ông như thế này... Trong khi quân Bắc Việt đang tiến gần vào Sài Gòn thì ông đề nghị bảo vệ đô thành, không để mất một nhà, không thiệt mất một người. Nhưng khi thấy không còn ai nghe mình nữa thì ông và một số đồng sự leo lên trực thăng bay ra biển. Ông Kỳ kể rằng khi trực thăng bay đến gần hàng không mẫu hạm Midway ông đã ném khẩu súng lục bá khảm ngà do John Wayne tặng ông xuống biển. Người Mỹ thế nào cũng tước khí giới mình, ông thà tự mình làm lấy. Khi trực thăng của ông hạ cánh xong đâu đó, các thủy thủ Mỹ đã lật nhào chiếc trực thăng của ông xuống biển một cách tàn nhẫn.

Nguyễn cao Kỳ kể chuyện di tản của mình như thế đó nhưng lật quyển NAM - The Vietnam Experience 1965-1975 (Tim Page & John Pimlot biên soạn, Orbis Publishing Ltd, London 1990), đến trang 562 ai cũng thấy hình ông và gia đình trên một xe buýt của Mỹ chở ra Tân Sơn Nhất.

Hai lối kể chuyện di tản đó có thể khiến người ta phân vân không biết tin ai. Nhưng điều chắc chắn là Nguyễn cao Kỳ đã di tản, đã nhường câu thà chết chứ không đầu hàng cho Tướng Nguyễn khoa Nam và Tướng Lê văn Hưng đang chờ ở Vùng 4. Cuộc đời của Nguyễn cao Kỳ sang trang từ đó.

Cả bài phỏng vấn của Oriana Fallaci, câu trả lời đáng ghi nhận của Nguyễn cao Kỳ có lẽ là câu này: Tôi không ưa Công giáo và Cộng Sản lại y hệt Công giáo. Người Cộng Sản thần phục đảng y hệt như người Công giáo quỵ lụy Giáo Hội - một cách cuồng tín. Ðó là lý do tại sao tôi chống Cộng.

Qua câu nói đó, vô hình chung Nguyễn cao Kỳ đã nói lên một sự thật lịch sử bi đát đó là Ðệ Nhị Thế Chiến 1939-1945, Chiến Tranh Lạnh 1951-1989 và cái gọi làcuộc chiến chống khủng bố khởi phát từ biến cố 11/9 đến nay thực tế đã mang màu sắc một cuộc chiến tranh tôn giáo của Tây phương và do người Tây phương phát động.

Cuộc chiến chống khủng bố - hay Ðệ Tứ Thế Chiến - là cuộc chiến giữa một bên là Hồi giáo, một bên là Do Thái giáo và Ki-Tô giáo, cả ba đều thờ cùng một Thiên Chúa, cả ba đều là con cháu của một tổ phụ là Abraham.

Lập lại cái luận điệu của những đoàn Thập Tự Quân ngày xưa, Hitler đã lợi dụng chiến dịch ngàn năm chống Do Thái giết Giê-Su của Công giáo và Tin Lành để phát động chiến tranh, cũng như Hitler đã lợi dụng chiến dịch ngàn năm chống Chính Thống giáo của Công giáo và Tin Lành để xâm chiếm Nga.
Chiến Tranh Lạnh vẫn thường được mô tả như là cuộc chiến giữa Hữu Thần của Khối Tự Do chống Vô Thần của Khối Cộng Sản.

Giáo Hoàng Pius XII còn ra lệnh tuyệt thông - nghĩa là khai trừ khỏi giáo Hội để rồi phải đọa hỏa ngục - những ai theo Cộng Sản, vì họ đã phạm tội trọng Vô Thần.

Hồng Y Spellman đến Việt Nam ban phép lành cho những chiến binh Mỹ lùng diệt 'quỷ đỏ' VC.

Thực tế đó chỉ là một cuộc chiến giữa hai phe cùng đọc một Thánh Kinh, cùng thờ một Thượng Ðế, một bên là Công giáo và Tin Lành, một bên là Chính Thống giáo.

Thật vậy, nếu Lenin, Stalin thực sự là những Satan quỷ đỏ phản Chúa, là những kẻ vô thần quyết tận diệt những ai thờ lạy Chúa, như Công giáo Spain và Portugal triệt hạ tín ngưỡng địa phương ở Nam Mỹ thì làm sao mà sau 70 năm thống trị của quỷ đỏ cộng sản vô thần, Nga và Romania vẫn còn 80%, Bulgaria vẫn còn 85% dân theo Chính Thống giáo, Poland vẫn còn 95% dân tự nhận là Công giáo? Như vậy thì phải chăng chỉ có những kẻ điên - hay những kẻ tưởng thiên hạ điên hết - mới bảo chống cộng là chống Satan quỷ đỏ vô thần?

Cuộc trò chuyện với Oriana Fallaci diễn ra tháng 3/1968, đến bây giờ là đã 36 năm.

Những lời bộc trực của Nguyễn cao Kỳ với Fallaci như tiên đoán trước chuyến về quê ăn Tết năm nay của ông.

Về phương diện chính trị, chuyến đi Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ có ý nghĩa gì?

Jane Perlez của tờ New York Times trong bài báo kể trên trả lời câu hỏi ấy bằng cách cho rằng chuyến về của Nguyễn cao Kỳ phù hợp với mưu định của chính quyền Bush mong muốn cải thiện bang giao Mỹ-Việt thể hiện qua những hành động cụ thể như việc chiến hạm Mỹ đến thăm Sài Gòn,

Tướng Phạm văn Trà sang Mỹ gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng D. Rumsfelt và Ngoại Trưởng Colin Powell, và Phó Thủ Tướng Vũ Khoan gặp Ngoại Trưởng Colin Powell.

Cải thiện bang giao Mỹ Việt cũng là điều hay cho Việt Nam trong cố gắng quân bình quan hệ với Trung Quốc.

Nói thế khác, chuyến về Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ không phải là một quyết định bốc đồng thẳng ruột ngựa như tính tình của Nguyễn cao Kỳ.

Cũng theo Jane Perlez, hai điều Nguyễn cao Kỳ muốn nhắn nhủ là tìm cách giảm bớt tệ nạn tham nhủng và thu hẹp hố ngăn cách giữa giàu và nghèo.
Trong cuộc tiếp đón của Mặt Trận Tổ Quốc dành cho mình tại Hà Nội ngày 27/1/04, Nguyễn cao Kỳ tuyến bố: Nếu như Ðảng thực hiện được những chính sách đường lối đề ra, đưa đất nước phát triển, làm cho dân giàu nước mạnh, tôi sẵn sàng đứng lên hô: Ðảng Cộng Sản Muôn Năm.

Chuyến về Việt Nam của Nguyễn cao Kỳ đã làm cho những người CCCB, CCCÐ vất vả choáng váng.

Nói gì cũng không ổn cả, giải thích sao cũng không xong cả. Bởi Nguyễn cao Kỳ đã làm điều họ nói nhưng họ không muốn kẻ khác làm: Tự Do! Nhất là tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do yêu cái mình yêu, tự do nói không yêu cái mình không yêu.

Ðồ tễ một phút buông dao còn có thể thành Phật huống nữa là Nguyễn cao Kỳ... Ðời ai cũng thế cả.

Nguyễn cao Kỳ đã có lần nghĩ đúng, có lần nghĩ sai. Ðiều quan trọng là biết mình sai. Chuyến trở lại quê hương của ông nói lên rằng ông đã nghĩ sai, và ông muốn không tiếp tục nghĩ sai nữa.

Ðó là một điều can đảm, một dấu hiệu trưởng thành. Của một đứa con cầu tự, Một Người Con Phật, như tựa đề một quyển sách mới xuất bản năm ngoái của Nguyễn cao Kỳ./.


Hoàng Nguyên Nhuận