2013/11/11

Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa Xã hội, biến thái của Phật giáo Việt Nam hiện tại

Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa Xã hội, biến thái của 
Phật giáo Việt Nam hiện tại

Tuệ Sỹ
 
Lời Dẫn:
 

Bài tham luận này được viết đã lâu. Nguyên đề là "Văn minh tiểu phẩm," chỉ là bài tham luận có tính chuyên đề. Bỗng nhiên nó mang tính thời sự. Ban đầu người viết không có ý định phổ biến rộng rãi, mà chỉ giới hạn trong một số thức giả đọc để suy ngẩm về quá khứ và tương lai.
 

Tuy nhiên, nay nó được cho phổ biến, vì trong mấy tuần vừa qua, Nhà Nước đã vận dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ và độc quyền, từ diễn đàn Quốc hội, cho đến các cuộc họp một số phường quận; từ Hội đồng chứng minh, Giáo hội trung ương, cho đến các ban Đại diện Phât giáo quận; bằng các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí ; mục đích là xác định lại lâp trường "trước sau như một" của Đảng CSVN đối với Phật giáo, và cũng xác định sự hiện hữu duy nhất của Phật giáo qua đại diện hợp pháp là Giáo hội Phật giáo Việt nam, mà thực chất là một tổ chức chính trị của Đảng, thực hiện đúng sách lược tôn giáo theo chỉ thị của Lenin: "đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng." Chính điều đó xác định rõ nhiệm vụ lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt nam như là công cụ bảo vệ Đảng, đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trước đây đã tuyên bố: Phật giáo Việt nam là chỗ dựa cho người Cộng sản Việt nam làm cách mạng.
 

Những tuyên truyền và tuyên bố như trên chỉ được nghe và nhìn từ một phía. Vì vậy tôi cho phổ biến lại bài này; không xem đây là chân lý lịch sử, nhưng là sự thực được nhìn theo chủ quan của một cá nhân. Dù sao, nhìn sự việc từ một khía cạnh khác sẽ cho thấy rõ thêm vấn đề. Chân lý cuối cùng tùy thuộc người đọc; tùy thuộc trình độ tư duy, thành kiến xã hội, hay quyền lợi vật chất.
 

Trước khi giới thiệu bản văn, nhân tiện tôi ghi thêm một vài sự kiện có tính lịch sử gần nhất, để người đọc có thêm cảm hứng suy luận.
 

Tôi nói sự kiện lich sử gần nhất, là muốn nói ngay đến sự xuất hiện của Pháp sư Thích Trí Độ lần đầu tiên tại miền Nam sau ngày Cộng sản chiến thắng. Trên lễ đài chiến thắng, gồm các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hàng cao nhất. Pháp sư thay mặt Phật giáo miền Bắc, mà trên cương vị người chiến thắng, là chính thức đại diện toàn thể Phật giáo Việt nam. Đó là vị Pháp sư, mà miền Nam gọi là Đại lão Hòa thượng; Ngài bận chiếc áo sơ-mi cụt tay như các cán bộ cao cấp khác của Đảng và Nhà Nước. Sự thực như vậy rất rõ: Phật giáo không tồn tại nữa ở Miền Bắc, mà chỉ tồn tại như một bộ phận của Đảng và lãnh đạo Phật giáo chỉ là cán bộ của Đảng và Nhà Nước.
 

Ở miền Nam, theo báo cáo của Trần Tư, tài liệu của Bộ Nội vụ phổ biến năm 1996, bấy giờ chỉ có "khoảng 2.5 triệu tín đồ." Nhưng do nhu cầu lịch sử, nói theo lý luận của Đảng, nghĩa là chưa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ vẫn còn có nhiệm vụ lịch sử của nó; do nhu cầu lịch sử nên Đảng thừa nhận tồn tại tín ngưỡng Phật giáo. Tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Bởi vì, tin và thờ bình vôi, cây đa, ông Táo, ông Địa, là tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ cho phép tin một số hiện tượng. Ngoài ra là mê tín, hoặc duy tâm mang tính phản động thì triệt để bài trừ.
Năm 1980, tôi được anh Võ Đình Cương mời họp thảo luận về văn hoá Phật giáo tại tòa soạn Giác ngộ, tại đó, đại diện Mặt trận Thành phố HCM đến dự, và đề nghị (thực chất là ra lệnh): nhiệm vụ văn hoá Phật giáo là bài trừ mê tín; do đó phải xét lại trong Phật giáo những gì không thuần tuý thì phải dẹp bỏ. Thí dụ, Quan Âm, Địa Tạng có thuần tuý Phật giáo hay không? Tôi phản ứng: đó là đức tin tồn tại ít nhất hơn 2 nghìn năm, trên một phạm vi châu Á rộng lớn; do đó không ai có quyền xét để dẹp bỏ. Tin hay không, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng dẹp bỏ thì không ai có quyền.

 

Ngay sau 1975, nhiều tượng Phật lộ thiên bị giựt sập. Gây chấn động lớn nhất là giựt tượng Quan Âm tại Pleiku. Viện hóa đạo đã có những phản ứng quyết liệt, và đích thân Hòa thượng Đôn Hậu mang tài liệu phản đối ấy ra báo cáo Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Hoà thượng kể lại cho tôi nghe, sau khi chuyển hồ sơ vi phạm chính sách tôn giáo lên Thủ tướng; hôm sau Hòa thượng được một Đại tá bên Bộ Nộ vụ gọi sang làm việc. Sau khi nghe Đại tá lên lớp chính trị, Hòa thượng nói: "Bởi vì Thủ tướng có nhờ tôi sau khi vào Nam trở ra Bắc, báo cáo Thủ tướng biết tình hình Phật giáo trong đó. Vì vậy tôi báo cáo những vi phạm để Chính phủ có thể kịp thời sửa chữa, ngăn chận cán bộ cấp dưới không để vi phạm. Nếu Thủ tướng không muốn nghe thì thôi. Còn viêc lên lớp chính trị như thế này, đối với tôi (Hòa thượng) thì xưa quá rồi." Dù sao, phản ứng ấy cũng làm chùn tay những đảng viên cuồng tín Mác xít, và tự kiêu về chiến thắng với khẩu hiệu nhan nhãn các đường phố lúc bấy giờ: "Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm!" Nghĩa là, không thể tự do hoành hành như trong những năm sau 1954 trên đất Bắc.
 

Ở đây, chúng ta phải đặt câu hỏi: sau 1975, nếu không có Phật giáo miền Nam, cùng với thái dộ cương quyết của các vị lãnh đạo Giáo hội Thống nhất, Phật giáo Việt nam sẽ thoi thóp đến lúc nào rồi đứt hơi luôn, với đà tự kiêu chiến thắng 1975 và với ảo tưởng về thành trì xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng của Liên-xô?
 

Năm 1982 là cột mốc lớn cho Phật giáo Việt nam, với lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đảng không dại gì mà dựa lưng vào chỗ mình chưa nắm chắc. Do đó, bằng mọi giá phải cải tạo Phât giáo miền Nam, giống như cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương thức tịch thu tư liệu sản xuất và đưa các chủ tư bản đi lao động cải tạo. Đảng biết chắc, tuy gặp phải chống đối quyết liệt của lãnh đạo Phật giáo, nhưng với bạo lực chuyên chính trong tay, sẽ phải cải tạo thành công. Trước hết, sự bức tử đối với Thượng tọa Tâm Hoàn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình định, năm 1975, gây kinh sợ không ít cho những ai cưỡng lại ý chí của Đảng. Kinh hoàng nhất là cái chết của Thượng Tọa Thiện Minh năm 1978, trong trại giam X4, Bộ Nội vụ. Đó là thời gian tôi được giam cùng trại với Hòa thượng Thiện Minh, nhưng hoàn toàn cách ly. Chỉ biết rõ, khi nghe tiếng Hòa thượng trả lời thẩm vấn ở phòng hỏi cung kế cận. Tất cả điều đó củng cố cho tuyên bố của ông Mai Chí Thọ, bấy giờ là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố HCM, nói thẳng với Hòa thượng Trí Thủ, bấy giờ là Viện trượng Viện hóa đạo: "Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó." Hòa thượng trả lời: Không theo cũng không chống. Nhưng, đối với Đảng, không có con đưòng thứ ba.
 

Ý chí của đảng là một chuyện. Nhưng những người Phật giáo cũng nên tự đặt câu hỏi: Ban Liên lạc Công giáo Yêu nước cũng hoạt động rất tích cực, nhưng không đưa được Hội đồng Giám mục vào trong Mặt trận Tổ quốc. Trong khi, rất nhanh chóng, Phật giáo trở thành một bộ phận của đảng Cộng sản Việt nam. Tại sao?
 

Từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội thành thành viên Mặt trận đó đã làm những gì? Làm nhiều lắm, vì chùa chiền đồ sộ thêm lên. Như lời Hòa thượng Thanh Tứ phát biểu mới đây trong buổi lễ khai giảng của trường Phật học Trung cấp tỉnh Bình định. Hòa thượng nói: "Phật giáo thời Lý rất thạnh. Nhưng không bằng nay. Vì nay cơ sở của ta to lớn hơn." Ấy là, theo như lời Hòa thượng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài phát biểu: nhờ chính sách của Đảng. Đó là sự thực không thể chối cãi. Nhưng cần nói cho rõ thêm, Việt nam chúng ta bây giờ tiến bộ hơn thời Hồng Bàng gấp vạn lần. Thời Lý, nước Việt nam chỉ từ Thanh hóa trở ra Bắc, chỉ hơn 1/3 lãnh thổ hiện nay. Như vậy thì cơ sở hiện nay nhất định phải to lên rồi. Nhưng cái to hơn ấy của lịch sử bốn nghìn năm văn hiến lại chưa bằng một phần nhỏ của Thái lan chỉ hơn 8 thế kỷ định cư. Và cũng nhờ chính sách của Đảng, nếu chính sách đó trước sau như một, nghĩa là như Phật giáo miền Bắc trước 1975, thì không biết ngày nay các Hòa thượng khi xuất hiện trước công chúng sẽ khoác tăng bào, hay cũng chỉ bận áo sơ mi cán bộ như Pháp sư Trí Độ trước đây? Trên toàn miền Bắc, cho đến 1975, có trên dưới 300 "ông sư, bà vải." Đến 1996, theo báo cáo Bộ Nội vụ của Trần Tư, "Hiện nay Phật giáo ở miền Bắc có khoảng 3000 tăng ni, tín đồ phần đông là ông già (bà già là chủ yếu –nguyên văn). Số cao tăng tiêu biểu hầu hết đã già yếu không còn khả năng hoạt động. Số tăng ni trẻ trình độ văn hoá cũng như lý luận về Phật giáo thấp, không đủ sức làm nhiệm vụ tranh thủ Phật giáo miền nam và hoạt động quốc tế." Giáo hội Phật giáo Việt nam phục vụ cho cái gì, theo báo cáo đó đã quá rõ.
 

Ngoài cơ sở "to lớn hơn thời Lý" ra, còn thêm được những gì để vượt hơn Phật giáo miền nam trước 1975? Nói về báo và tạp chí, được mấy phần trăm? Chỉ một tờ Giác ngộ duy nhất cho cả nước. Cũng là tờ báo hoằng pháp. Nhưng cũng thường xuyên ca ngợi vinh quang của Đảng, và giúp Nhà nước phổ biến kế hoạch sinh đẻ, tuyên truyền đường lối của Đảng chống NATO. Những lời Phật dạy cao siêu cũng chỉ đủ thêm vài chấm đỏ cho vinh quang của đảng và đường lối sáng suôt của đảng trên chính trường quốc tế.
 

Ngoài tờ Giác ngộ ra, với ba cơ sở giáo dục cao cấp, tương đương đại học, nhưng đã có công trình gì đáng kể?
 

Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hoá Phật giáo VN so với những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước 1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt nam đều tiến bộ, theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt nam chưa lấy lại được thế đứng của nó trong lòng văn hoá dân tộc như trước đó, vậy thì đảng hỗ trợ PGVN tiến theo hướng nào?
 

Bề ngoài, cũng còn có mặt đáng nói khác, đó là giáo dục. Trước hết, bao nhiêu cơ sở Trung học Bồ đề, và các Viện Đại học: một Vạn Hạnh, và một Phương Nam, của Phật giáo miền Nam, nay biến đi đâu mất? Nói là biến, vì hầu hết các tăng ni sinh, kể cả những vị đang học tại các trường cao cấp Phật học, không biết các cơ sở giáo dục này là cái gì, dạy những gì trong đó. Chính vì vậy mà họ chỉ biết Phật giáo Việt nam tiến bộ vì chùa to Phật lớn.
 

Các tăng ni sinh này được đào tạo để làm gì? Không thấy họ được đưa về các địa phương để giảng pháp cho Phật tử. Cũng không có cơ sơ văn hoá nào để họ phục vụ. Hầu hết, học xong, trở về chùa, làm nghề thầy cúng hoặc thầy bói. Tất nhiên cũng có nhiều thầy cô vẫn tìm cách mở các khoá học Phật pháp, nhưng cũng chỉ giới hạn trong một số tỉnh thành lớn, nhất là Thành phố HCM. Ngay như Huế, được xem là kinh đô của Phật giáo miền nam, hầu như các thầy chỉ đi cúng và đăng đàn chẩn tế, hoặc lập đàn chay phá cửa địa ngục cho cô hồn đi chơi, chẳng có buổi giảng kinh nào đáng kể. Còn cái trường gọi là cao cấp Phật học, hay Học viện Phật giáo Hồng đức, sau khi Hòa thượng Thiện Siêu tịch rồi, không còn thầy cô nào đủ sức dịch cho xuôi một trang luận Câu-xá, thì lấy chữ đâu mà giảng dạy kinh luận cho tăng ni sinh trình độ cao đẳng, đại học?
 

Nhìn chung, Phật giáo chỉ đang phục vụ nhiều nhất cho người giàu. Còn quần chúng tại các vùng sâu xa, vì họ thiếu phước, kiếp trước ít tu, nên nay chẳng mấy khi được nghe các thầy cô thuyết pháp. Còn lập đàn chẩn tế và phá cửa địa ngục cho ông bà cha mẹ siêu thăng, đốt vàng mã thật nhiều cho ông bà có tiền tiêu và có xe hơi nhà lầu, dưới âm phủ, thì họ không đủ tiền.
 

Tóm lại, nếu nói Phật giáo Việt nam hiện tại chẳng có tiến bộ gì thì không đúng. Vì cơ sở chúng ta hiện nay đồ sộ hơn trước, kể cả miền Nam trước 1975 chứ không cần so sánh xa xôi lùi cho đến đời Lý như Hòa thượng Thích Thanh Tứ. Ngoài việc xây dựng chùa to Phật lớn, Phật giáo hiện tại đã đóng góp gì cho gia tài văn hoá, tư tưởng của dân tộc, ngoài sứ mệnh được giao phó là rao truyền chính sách sáng suốt của Đảng quang vinh? Còn chuyện tìm một vị trí của Phật giáo Việt nam, dù chỉ khiêm tốn thôi, trong thế giới hiện đại, là điều mộng tưởng xa vời.
 

Gần đây, các trường Phật học tại Saigon sợ tăng ni sinh nghe thêm những nguồn thông tin không phù họp với sự tuyên truyền một chiều vừa độc quyền vừa độc đoán của Nhà nước, nên vừa cảnh cáo, vừa khuyên răn: hãy quên đi quá khứ mà lo chăm học cho hiện tại. Quên đi quá khứ hận thù, để sống trong tình cảm dân tộc bao dung, đó là điều cần phải học. Nhưng quên đi những thành tựu quá khứ gần nhất, chỉ cách đây chưa đầy 30 năm, để rồi so sánh sự tiến bộ của ta ngày nay với thời đại Hồng Bàng, hay với thời Lý như Hòa thượng Thanh Tứ, thế thì bản chất của nền giáo dục Phật học ấy là gì? Có phải các thầy muốn dạy tăng ni sinh quên đi những hy sinh gian khổ của Thầy Tổ đã tạo ra di sản ngày nay, do vậy họ sẽ nhận thức dễ dàng rằng những gì chúng ta đang thừa hưởng ngày nay là nhờ công ơn Đảng và Nhà nước?
 

Lời hăm của các thầy có giá trị "hàn mặc dy luân" của những nhà giáo dục. Chính vì thế tôi cho phổ biến bài tham luận này, mà trước đó tôi cho là ý kiến cá nhân nên giới hạn người đọc. Bây giò tôi vẫn xem đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng tôi cho phổ biến để các thầy có cơ sở kiểm chứng những thành tựu mà Nhà nước đã giúp Phật giáo Việt nam. Tất nhiên, tôi nhận mọi trách nhiệm trước pháp luật, và trên hết, trước lương tâm của một con người còn tin tưởng giá trị làm người.

Tuệ Sỹ
Già lam 10-11- 2003

Khai Dân TríTuệ Sỹ

Hội chứng tự xử và tù oan


Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 11.11.2013

Hội chứng tự xử và tù oan

Vài năm gần đây, ở VN thường có hiện tượng người dân đứng ra tự xử những sự việc nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề tới đời sống người dân. Những sự việc lẽ ra chính quyền có bổn phận phải giải quyết nhưng chờ đợi “mòn răng” cũng chẳng cơ quan nào chịu ngó tới. Thế nên họ phải đứng ra “tự xử,” bởi tự xử là tự cứu mình. Hiểu theo nghĩa mạnh hơn là không tự cứu là tự tử. Người ta không thể đứng nhìn quyền lợi của mình từ tinh thần đến miếng ăn, bỗng dưng bị cướp đoạt mà không ai can thiệp. Sống như thế khác gì thú rừng, kẻ mạnh cứ việc ăn thịt kẻ yếu. Sống trong xã hội loài người, có tổ chức, có pháp luật, vậy mà pháp luật ngó lơ hay xử theo kiểu muốn xử sao cũng được, như thế người dân gọi là “luật rừng” chẳng sai tí nào.

Chờ được vạ má đã sưng

Vì chà đạp, vì phẫn nộ, người dân phải cùng nhau đứng lên tự bảo vệ mình, bất cần tới pháp luật, bởi họ chẳng thể tin vào cái gì bảo vệ cho mình nữa. Ăn cướp của họ thì họ giết, xử oan cho họ thì họ trả thù, đánh họ thì họ đánh lại. Họ thừa biết như thế là phạm pháp, nhưng họ vẫn phải làm. Họ sẵn sàng đứng trước pháp luật nói rằng chúng tôi đã làm đúng. Từ đời ông cha chúng ta đã có câu “chờ được vạ má đã sưng,” nếu cứ để kẻ cắp xông vào nhà không kháng cự, chờ tới lúc quan đến thì đã mất mạng rồi. Tình thế đó buộc họ phải làm như vậy. Nếu pháp luật nghiêm minh, các ông được gọi là cơ quan công quyền chịu khó đến gần dân hơn, giải quyết kịp thời từ việc nhỏ đến việc lớn thì chuyện “tự xử” đã không xảy ra. Và ngày càng nhiều nơi người dân tự xử càng lan rộng. Người dân hết đường rồi, buộc phải cùng nhau giải quyết một sự việc nào đó có liên quan tới cuộc sống thiết thân của mình.

Từ một việc nhỏ

Một sự việc rất nhỏ như mất trộm một con chó, chủ nhà gửi đơn đến thưa Ủy Ban Nhân Dân phường, xã, nhưng Ủy Ban coi đây là chuyện thường ngày, chẳng thèm để ý đến. Từ một việc nhỏ không thèm giải quyết, nạn trộm chó lan ra khắp làng, khắp xã. Mười nhà có chó thì đến 7-8 nhà bị bọn “đạo chó” đánh bả và cướp mất tăm. Bọn này rất nhanh, chỉ trong vài phút là chú chó khôn tới đâu cũng nằm gọn trong bao đưa về quán “Cày tơ 7 món” ngay. Những con chó ở vùng nông thôn thường được coi như một vật nuôi trong nhà, không khác gì người thân. Một nhà xót xa rồi đến trăm nhà xót xa, chính quyền vẫn “trơ như đá vũng như đồng.” Người dân phẫn chí, bèn tự tổ chức “đôi quân chống giặc trộm chó.” Họ mai phục theo kiểu đánh du kích, chờ chú trộm vào cuộc là nhảy ra bắt, trộm chạy khó thoát với cả làng cả xóm bao vây. Có người mất chú chó quá tinh khôn, quá thân thuộc nên không nén được tức giận, cầm gậy phang tới tấp. Một người đánh rồi cả làng cùng xúm lại đấm đá tơi bời cho hả giận.
Xe của 2 "cẩu tặc" bị dân đốt, một bị đánh chết, 300 người dân đều nhận tội giết người

Như ở Nghệ An,bắt được chú trộm chó, dân không đợi chính quyền đến xử mà họ tự xử bằng cách đốt xe của chú trộm và đánh chết luôn. Khi công an vào cuộc, cả 300 người cùng ký đơn nhận tội. “Cả làng tôi có tội giết người đấy, các ông có bỏ tù thì cho cả làng tôi cùng đi tù.”

Chính quyền sẽ xử ra sao? Và lỗi tại ai mới xảy ra cớ sự này? Những anh già lẩm cẩm như tôi không trả lời được. Có lẽ phải nhờ đến “ba tòa quan lớn” VN trả lời giùm.

Đến chuyện lớn

Chiều 29/10 vừa qua, thảo luận về công tác phòng chống vi phạm pháp luật, đại biểu Nguyễn Thanh Hồng dẫn lại vụ nhà máy thuốc sâu chôn chất độc xuống lòng đất của Công ty Nicotex (Thanh Hóa) và cho rằng, không thể nói chính quyền, công an không biết bởi nhiều lần thanh tra, kiểm tra nhưng kết quả vẫn bảo đảm an toàn. Còn người dân đã thưa gửi nhiều năm, phản ánh lên nhiều cấp nhưng đều không được giải quyết. (Tôi đã tường thuật với bạn đọc chi tiết sự “vô cảm” này trong bài viết ngày 20-9-2013).
Người dân các xã quanh khu vực của Cty Nicotex Thanh Thái (Thanh Hóa) đã phải bỏ cả đồng ruộng để thay nhau trông coi khu vực tìm ra chất độc làm hại con người.

Ông Hồng nói, “Đây là một vụ việc điển hình, nhiều nơi khác đang diễn ra những sự việc tương tự. Những vi phạm trong khai thác khoáng sản, vàng... rõ ràng có sự bao che, tiếp tay của chính quyền địa phương, cơ quan quản lý. Hoặc họ thờ ơ, sợ va chạm nên không phát hiện hoặc nếu có thì cũng không xử lý nghiêm,”

Ông kết luận “Tất cả đều dẫn đến hệ lụy niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương, cơ quan chức năng ngày càng suy giảm. Từ đó, dẫn đến việc người dân tự xử trong một số vụ vi phạm pháp luật mà không để chính quyền, công an xét xử.”

Không chỉ bao che mà còn là hợp tác

Ông Hồng đã nói đúng về sự bao che, tiếp tay của chính quyền địa phương. Hãy nhìn vào vụ án Dương Chí Dũng thì đủ rõ. Sau khi tham nhũng bị lộ, Dương Chí Dũng được những quan có đầy đủ quyền hành và giang hồ “có số có má” tại TP Hải Phòng tổ chức cho Dương Chí Dũng đi trốn. Đó là sự liên kết của “xã hội đen” với các quan to.

Từ vụ án này, ai cũng thấy được rất rõ “đường dây” liên hệ mật thiết giữa những người có quyền và bọn cầm đầu đám du đãng, ma cô, đầu gấu, buôn lậu ma túy... gọi chung là “xã hội đen.” Giữa “xã hội nhà quan” và “xã hội đen” có mối liên kết chặt chẽ, cứu giúp nhau tận tình. Nhiều chuyện làm ăn phi pháp có “bảo kê” vững chắc phía sau. Nhìn lại vụ án Năm Cam hơn 10 năm trước sẽ thấy cụ thể hơn.

Với sự hợp tác kín đáo, có tổ chức, có quyền hành như thế thì đừng hỏi tại sao dân đi thưa mà các quan làm ngơ. Chẳng phải chỉ có ở Hải Phòng, đó chỉ là đám bèo nổi qua một vụ án, còn cả một tảng băng dầy đang trôi ngầm từ tỉnh này sang thành phố khác. Chỉ có anh dân đen là chịu thiệt. Không “tự xử” thì làm cách nào đây? Cho nên nhận xét của ông đại biểu Nguyễn Thanh Hồng là hoàn toàn đúng.

Đời sống văn hóa, xã hội của đất nước đang có quá nhiều bất công

Chính vì những nhận xét này mà phiên thảo luận những vấn đề kinh tế - xã hội ngày 30-10 đã nóng hẳn lên. Các ông đại biểu Quốc Hội bày tỏ lo lắng trước tình trạng người dân “tự xử” thay cơ quan thực thi pháp luật đã và đang xảy ra khắp nơi, mà nguyên nhân không nhỏ xuất phát từ sự thiếu niềm tin vào chính quyền sở tại.

Vài ngày trước phiên họp ngày 30-10 của Quốc hội, hàng ngàn người dân đã tập trung trước cổng UBND huyện Tư Nghĩa (tỉnh Quảng Ngãi) để phản đối việc nạo hút cát gây nên tình trạng sạt lở khiến tuyến Quốc lộ 1A bị kẹt trong nhiều giờ.
Hàng ngàn người dân đã tập trung trước cổng UBND huyện Tư Nghĩa (tỉnh Quảng Ngãi) để phản đối việc nạo hút cát gây nên tình trạng sạt lở.

Kêu ca, đề nghị, khiếu kiện nhiều song không được chính quyền nơi đó giải quyết thỏa đáng đã dẫn tới việc người dân một số địa phương ở Hải Phòng, Hải Dương, Thanh Hóa... dựng lều lán phong tỏa đường ra vào của các doanh nghiệp gây ô nhiễm.

Ông Huỳnh Ngọc Đáng, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương nói: Thực trạng dân “tự xử” ngày càng nhiều và trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Các đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận này phải thốt lên rằng đời sống văn hóa, xã hội của đất nước đang có quá nhiều bất công. “Đó là tâm trạng bất an và suy giảm niềm tin của người dân với những cán bộ nhà nước mà đỉnh điểm là hiện tượng người dân “tự xử.”

Tại sao lòng dân không yên

Theo ông Bùi Văn Phương, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình, kẽ hở của pháp luật đang khiến “lòng dân không yên.” Ông Phương lấy ví dụ tình hình tội phạm băng nhóm, đâm thuê chém mướn phát triển mạnh trong thời gian qua gây bức xúc dư luận có liên quan đến câu chuyện cho vay nặng lãi, cá độ. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chưa xem xét đằng sau của câu chuyện đó là gì, kịp thời phát hiện để điều chỉnh. Tình trạng cho vay nặng lãi, cầm đồ hiện nay khi xảy ra tranh chấp, đưa nhau ra tòa vẫn được coi là tranh chấp dân sự chứ chưa phải hình sự.

Ông Phương nói, “Nếu cứ nhìn nhận dưới góc độ dân sự thì cực kỳ phức tạp, không răn đe được, của đau con xót sẽ nảy sinh việc thuê người đòi nợ và chuyện băng nhóm xã hội đen tự xử nhau. Nhiều chuyên gia luật và cá nhân tôi cũng cho rằng phải sửa cái này đi, phải hình sự nó để tránh những vấn đề phức tạp.”

Nói thẳng ra, đã từng có rất nhiều vụ nhà các ông được gọi là “lãnh đạo” bị ném đá, bị đốt, bị phá phách và cũng không ít trụ sở bị “kẻ xấu” xông vào đập phá, thậm chí hành hung. Chẳng người dân nào bỗng dưng muốn gây sự với các quan cả. Tất nhiên phải có những nguyên nhân sâu xa, bị chèn ép, bị đè đầu cưỡi cổ, uất ức quá nên đành phải liều “tự xử” thôi.

Trách nhiệm của Quốc Hội đến đâu?

Thật ra trong những phiên thảo luận vừa qua của các ông bà đại biểu quốc hội VN đã chỉ ra hàng loạt điểm yếu kém trong bộ máy hành pháp, có cả những lời chỉ trích rất gay gắt với những tội tham nhũng, cồng kềnh, trì trệ... Nhưng cũng có người bàn rằng có làm thì có sai, những ông không làm chỉ đứng ngó thì chẳng có gì sai cả.” Điều đó cũng đúng. Nhưng ông đai biểu Dương Trung Quốc lại có một ý kiến khác. Ông nói, “Lâu nay, mọi thất thoát lãng phí hay tham ô ngân sách của nhà nước chỉ dồn hết trách nhiệm vào Chính phủ, Quốc hội và đại biểu Quốc hội luôn tự cho mình vô can trong những sai phạm của bộ máy hành pháp.”

Ông Quốc nhấn mạnh đến trách nhiệm của Quốc Hội phải chịu trách nhiệm trước nhân dân như người được ủy thác. Còn Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc Hội.

Đó là lời “nhận lỗi” của ông Dương Trung Quốc. Cho nên các đại biểu không phải chỉ nói “cho sướng miệng,” nói để lấy điểm với nhân dân rồi lại cho qua, mọi thứ vẫn y như cũ. Quốc Hội cũng phải chịu trách nhiệm về mọi tệ nạn xã hội đã và đang xảy ra.

Nhưng còn nhiều vụ dân muốn “tự xử” cũng không được, bởi bị kết án nằm trong tù rồi, làm sao tự xử được! Phải nhờ công lý xử cho mình. Vác đơn đi kiện như kiện củ khoai, từ đó xảy ra nhiều vụ án oan sai rất đau lòng. Một vụ án oan hiện đang làm chấn động dư luận cả nước, người dân hết dám tin vào công lý.

Mười năm tù oan, vợ điên, con thất học bị cả làng khinh bỉ

Vụ án này đang tràn ngập trên khắp các trang báo, bạn đọc báo nào ở VN cũng thấy nhiều chi tiết rất đáng chú ý. Nhưng điều đáng chú ý nhất lại là tâm trạng của người dân, một “người dân thực thụ” đang sống trên đất nước VN này. Tức là anh dân đen, không hề quen biết một thế lực nào, chỉ biết làm ăn chân chỉ. Bên cạnh sự phẫn nộ tất nhiên của con người, có lúc người dân cay đắng và tự đặt mình vào trường hợp bị bắt oan. Thoáng một chút lo sợ là tâm trạng chung. Họ biết trông cậy vào đâu?
Ông Nguyễn Thanh Chấn cùng người thân rơi nước mắt trong ngày đoàn tụ sau 10 năm tù oan ức.

Nếu bị bức cung, ép cung, họ phải nhận bừa một tội nào đó để khỏi bị đánh, rồi cũng như ông Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan tới 10 năm, vác đơn đi từ cửa nhỏ đế cửa lớn vẫn chẳng có kết quả gì. Chỉ đến khi kẻ gây ra tội ác tự đứng ra đầu thú mới được minh oan. Khi đó khi gia đình đã tan nát rồi, vợ phát điên, con bỏ học, cả làng khinh bỉ xa lánh.
Vợ ông Nguyễn Thanh Chấn ngất xỉu tại chỗ

Nỗi tủi nhục ấy rất có thể rơi vào bất kỳ một người dân nào đó đang sống yên lành. Nỗi lo tuy có vẻ mơ hồ nhưng có thật. Số phận của một con người đã bị vùi dập đến tận cùng bởi cách làm tắc trách của một số cơ quan công quyền. Ông Chấn là con của liệt sĩ còn bị tù oan thì anh dân đen, trên không chằng, dưới không rễ còn dễ dàng bị tù oan hơn nhiều.
Hình Mẹ già của ông Chấn cùng người thân không cầm được nước mắt trong ngày đoàn tụ

Thật ra phải coi ông Chần đã bị thi hành án tử hình rồi nhưng là con liệt sĩ nên được giảm án còn tù chung thân. Một độc giả đã viết trên báo Người Lao Động, “Khủng khiếp quá, lỡ một ngày không may mình cũng giống như ông Chấn thật, thì sao nhỉ.” Nỗi lo đó của người dân là có thật.

Vụ án đi lòng vòng qua nhiều cửa, nhiều cấp, nhiều tòa nên nó rối tinh rối mù, dài lòng thòng với hàng chục lời vừa nhận lỗi vừa trần tình và hàng ngàn ý kiến của mọi người dân... Tôi chỉ tóm tắt rất gọn nội dung để bạn đọc dễ hiểu.

Vụ án hiếp dâm, giết người 10 năm trước xảy ra như thế nào?

Theo thông báo của Viện Kiểm Sát Nhân Dân (KSND) Tối Cao, ngày 15-8-2003, tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, (tỉnh Bắc Giang) xảy ra vụ án giết người, nạn nhân là chị Nguyễn Thị Hoan. Nạn nhân bị nhiều vết thương ở đầu, mặt, bụng làm đứt động mạch, chảy máu và mất máu cấp... dẫn đến tử vong.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang sau đó đã ra quyết định khởi tố vụ án “giết người” và đến ngày 29-9-2003 ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với ông Nguyễn Thanh Chấn về tội danh giết người.

Ngày 26-3-2004, TAND tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Chấn và đã ra bản án tuyên bị cáo phạm tội giết người với mức án tù chung thân. Tiếp đó, ngày 26 và 27-7-2004, Tòa phúc thẩm, Tòa án (TAND) tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án, tuyên y án sơ thẩm.

Đáng chú ý, trong khi bị điều tra bị cáo có khai nhận hành vi giết người nhưng tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không nhận tội. Trong trại giam, phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn tiếp tục kêu oan và bị ép cung. Trong đơn kêu oan đề gửi Thanh tra Bộ Công an, ông Chấn viết rõ:

Ngày 30/8/2003, ông nhận được giấy mời lần 1 đến Công an huyện Việt Yên để làm việc. Cụ thể, cơ quan điều tra lấy dấu chân và dấu vân tay, đồng thời hỏi ông có biết gì về cái chết của cô Hoan, ông trả lời không biết gì cả. Đến 20/9/2003, ông nhận được giấy triệu tập lần 2 và vẫn trả lời không biết gì về cái chết của cô Hoan. Sáng hôm sau, ông đến theo hẹn thì cán bộ Nguyễn H.T. lại lấy dấu chân, dấu tay nhiều lần rồi tra hỏi, đánh ông rất đau. Từ đó, khoảng 6 cán bộ thay nhau canh ông suốt đêm này sang đêm khác không cho về và không cho ngủ, dọa nạt, ép buộc ông. Đơn viết:

“Cán bộ Trần N.L bắt tôi vẽ dao, tôi không vẽ loại dao gì lại bảo cho mày cái búa vào đầu cho mày chết bây giờ. Cán bộ H.T trên tay lúc nào cũng cầm dao hăm dọa, ép buộc tôi phải nhận. Tiếp đó, cán bộ Ngô Đ.D đọc và bắt tôi viết đơn tự thú ngày 28/9/2003. Thế là đến chiều chuyển tôi về trại Kế - Bắc Giang.”

Nguyên do xảy ra vụ án

Luật sư Nguyễn Đức Biền, người bào chữa cho anh Chấn cho biết:
Theo cáo trạng, ngày 15/8/2003 tại thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, Bắc Giang tổ chức bóng đá giao hữu, vợ chồng Nguyễn Thanh Chấn bán nước ở sân. Khi tan trận, chị Chiến (vợ anh Chấn) bảo chồng đi múc nước. Trên đường đi qua nhà Hoan, nhìn thấy cô từ nhà tắm đi ra, Chấn vào sàm sỡ. Bị Chấn khống chế, Hoan đập vỡ chai bia để tự vệ. Chấn rút dao bấm trong người ra đâm nhiều nhát và dùng tay đập đầu Hoan xuống đất cho đến chết. Toàn bộ vụ án chỉ có vậy.

‘Cơ quan tố tụng hồ đồ’

Luật sư Biền nói, “Đọc và nghiên cứu hồ sơ, tôi thấy những chứng cứ trên "lỏng lẻo,” hơn nữa nhân chứng không có. Viện kiểm sát cho rằng dấu chân hung thủ để lại hiện trường khớp với dấu chân của Chấn, nhưng kết luận này là hồ đồ vì đó là dấu chân chứ không phải vân chân. Với những người có khổ bàn chân tương đương nhau, khi ướm vào sẽ vẫn vừa.

Còn một tình tiết quan trọng là theo cáo trạng, Chấn khai có dùng con dao trong người để đâm hung thủ, dao bị gãy tại hiện trường, Chấn cầm chuôi về sau đó vứt tại một bãi sắt vụn. Thế nhưng cơ quan điều tra lại không tìm được hung khí đó.

Thời điểm xảy ra vụ án mạng, có người chứng kiến Chấn cho người gọi nhờ điện thoại, bảng kê cuộc gọi do bưu điện cung cấp cũng xác định cuộc gọi lúc hơn 7 giờ chiều. Đó là một chứng cứ ngoại phạm.

Nhận định nhân chứng vụ giết người không có, các chứng cứ thì lỏng lẻo, tôi đề nghị tuyên bị cáo vô tội nhưng tòa không chấp nhận.”

Hậu quả của bản án này khiến bốn đứa con của anh Chấn đều phải bỏ học vì không chịu được búa rìu dư luận. Vợ anh Chấn phải nhập viện tâm thần cách đây 2 năm sau hơn 8 năm kêu oan cho chồng. Vừa nuôi con nhỏ vừa vị cả làng khinh bỉ.

Một người đàn ông sống cùng làng, không muốn nêu tên, cho hay: Mẹ con chị Chiến khổ vô cùng. Nhiều người tin anh Chấn bị oan nhưng họ sợ vạ lây điều tiếng, nên chẳng còn dám đi lại như trước, chứ chưa nói tới chuyện giúp đỡ. Ngoài ra, người nhà anh Chấn đi tới đâu cũng bị người làng bàn tán sau lưng. Năm mẹ con cứ thui thủi với nhau ngày này qua ngày khác. Người này kể, “Tội gì tôi không biết, nhưng cái tội hiếp dâm, cướp của rồi giết người thì nó kinh khủng vô cùng. Như ở quê tôi thì có gột rửa tới mấy đời cũng không hết tai tiếng.” Nỗi oan khổ, nhục nhằn đó ai chịu trách nhiệm?

Thủ phạm chính đầu thú

Sự việc chỉ sáng tỏ khi bất ngờ ngày 25-10-2013, tên tội phạm thực thụ là Lý Nguyễn Chung (người cùng thôn) đã ra đầu thú và khai nhận đã thực hiện hành vi giết chị Nguyễn Thị Hoan vào tối ngày 15-8-2003 để cướp tài sản. 
Chân dung thủ phạm chính Lý Nguyễn Chung (người cùng thôn) đã ra đầu thú và khai nhận đã ra tay giết chị Nguyễn Thị Hoan để cướp tài sản.

Tại cơ quan điều tra, Lý Nguyễn Chung khai nhận đã giết bà Hoan để lấy tiền và hai chiếc nhẫn vào tối 15/8/2003. Sau khi giết bà Hoan, Chung về nhà thay quần áo dính máu ra ngâm ở chậu. Đến khoảng 4g sáng hôm sau, mẹ Chung (bà Nguyễn Thị Lành) giặt quần áo thấy trong nước ngâm bộ quần áo của Chung có màu hồng nên gọi Chung dậy hỏi, “Có phải hôm qua mày làm chuyện đó không?,” Chung đã thừa nhận. Bà Lành và ông Chúc (bố Chung) đã bảo Chung về quê ở Lạng Sơn. Chung về Lạng Sơn kể lại sự việc và đưa hai chiếc nhẫn cho Lý Văn Phúc. Số tiền lấy được của chị H. đếm được 59,000 đồng, Chung tiêu hết, sau đó trốn vào Đắk Lắk làm ăn.

Nhờ vậy ông Chấn được minh oan. Chiều 6-11, 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm tuyên ông Nguyễn Thanh Chấn tội giết người đã chính thức được hủy bỏ xong để chính thức trở thành người vô tội ông Chấn còn phải đợi kết thúc điều tra, xét xử vụ án giết người, tuyên đúng người có tội.

Đến bù cho ông Nguyễn Thanh Chấn

Chủ tịch nước yêu cầu khẩn trương minh oan, đền bù, khôi phục đầy đủ quyền lợi hợp pháp của người bị oan; điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh người phạm tội và những sai phạm của các tập thể, cá nhân thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng đã điều tra, truy tố, xét xử oan đối với ông Nguyễn Thanh Chấn và báo cáo chủ tịch nước kết quả đã giải quyết.
Nước mắt ông Chấn ngày được thả tù

Chúng ta hãy đợi kết quả này. Tuy nhiên nếu tội phạm thực thụ đó trốn biệt tăm hoặc lăn ra chết thì vụ án mãi mãi đi vào đêm tối. Đó là cách làm việc thiếu trách nhiệm, vô cảm của các cơ quan, viện kiểm sát và các cấp tòa án tại tỉnh Bắc Giang. Số phận của một con người đã bị vùi dập đến tận cùng. Không thể có thứ gì đền bù lại cho danh dự và 10 năm tù dài đằng đẵng đầy đau khổ mất mát kia./.

Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

2013/11/04

Ngoại cảm thật và ngoại cảm dởm

 
Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 04.11.2013

Ngoại cảm thật và ngoại cảm dởm

Dư luận tại VN đang bùng lên dữ dội và được mọi người theo dõi hiện nay không còn là chuyện ông BS Nguyễn Mạnh Tường ném xác bệnh nhân bị tử vong xuống sông để phi tang nữa. Tội ác quá tàn độc của một BS bị lên án gay gắt nhưng cho tới nay vẫn chưa thấy ai chịu trách nhiệm cả. Phường đổ cho xã, xã đổ cho quận, quận nhận “sai chút đỉnh”, đỡ đòn cho Sở Y Tế Thành Phố, nhưng lại viện dẫn hàng chục khó khăn để bào chữa. 

Còn bà Bộ trưởng Bộ Y tế thì thấy “xót xa, khổ tâm, day dứt” và cũng thanh minh: "Cả nước có gần 300 thanh tra, trong đó tập trung chủ yếu ở Hà Nội, có tỉnh chỉ có 2-3 thanh tra; trong khi có rất nhiều lĩnh vực khác nhau không thể kiểm tra hết được”.

Cứ đá qua đá lại, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phải chỉ ra lỗ hổng trong cơ chế quản lý các cơ sở hành nghề y dược tư nhân,đề nghị Bộ Y tế, UBND TP Hà Nội rà soát trách nhiệm của cơ quan quản lý và địa phương trong vụ thẩm mỹ viện Cát Tường.

Chưa có cơ quan nào, chưa có một vị “lãnh đạo” nào đứng ra thẳng thắn nhận “lỗi ấy của tôi”. Họ sợ cái gì? Sợ mất uy tín hay mất ghế? Thật ra, không cần ai từ chức cũng được, cũng là cái “thói quen” không có “văn hóa từ chức” trong thời đại này thôi. Nếu có một cơ quan hay một “nhân vật nào đó” đứng ra nhận lỗi, dư luận sẽ bớt giận dữ hơn bây giờ nhiều. Như lời ông Nguyễn Bá Thanh khi còn làm việc ở Đà Nẵng “cán bộ phải biết học tập văn hóa xấu hổ”, đến nay dường như chưa có ai chịu học cả. Từ chuyện lười học văn hóa xấu hổ mới đẻ ra chuyện không có văn hóa từ chức.

Tuy nhiên chuyện đó không đáng bàn nhiều. Chuyện hôm nay tôi bàn đến là chuyện khác, câu chuyện về tâm linh trong mỗi con người chúng ta. Có người tin điều này, có người tin vào điều khác và cũng có thể có người không tin vào điều gì cả. Cái quyền tự do ấy không ai bắt buộc ngược xuôi được và cũng chẳng có điều luật nào ngăn cấm cho hay không cho. Mà dù có ngăn cấm cũng vô ích, bởi niềm tin đó nằm sâu xa trong tâm tưởng mỗi người.

Tin hay không?

Cụ thể hơn, tôi chỉ muốn tường trình cùng bạn đọc những sự việc đã và đang xảy ra tại VN về vấn đề được gọi là “những nhà ngoại cảm”. 

Tôi cũng xin minh xác ngay, ở đây tôi không chỉ trích, phản đối hay ủng hộ việc làm của những nhà được gọi là “nhà ngoại cảm” ở VN hiện nay. Bới, thú thật với bạn đọc, chính tôi cũng chưa biết có nên tin hay không. Chưa từng tận mắt chứng kiến cảnh đi tìm hài cốt hoặc được nghe những người đã khuất nhập hồn về nói chuyện với người còn sống. Nhưng câu chuyện về những sự hiển linh, về những cuộc đối thoại giữa người cõi âm và người trần thế thì tôi nghe nhiều rồi. Chắc một số bạn đọc cũng ở trong tình trạng đó. 

Tôi chỉ nghĩ rằng chuyện tâm linh và những người có khả năng đặc biệt để giao tiếp với những điều bí ẩn là có thật, nhưng không nhiều. Những kẻ lợi dụng lòng tin lại quá nhiều. Chuyện đó vẫn âm ỷ chảy trong đời sống của chúng ta. Thât giả lẫn lộn là chuyện khó phân biệt rõ ràng, nhất là trong thế giới tâm linh. Nhưng tại sao đến bây giờ làn sóng dư luận mới bùng lên như một cơn bão. Trước hết vì hai lý do:

1- Đài Truyền Hình VN – VTV1– mới đây có môt “chuyên đề” về vấn đề này mà mục đích chính là vạch mặt chỉ tên những kẻ lợi dụng lòng tin của người dân. 
Đài truyền hình VTV1 phát sóng “vạch mặt chỉ tên nhà ngoại cảm dởm”.

2- Ngay sau vụ bà Lê Thị Thanh Huyền bị BS thẩm mỹ ném xuống sông Hồng,  gia đình nạn nhân đã dồn hết công sức vào việc tìm kiếm, trong đó có cả việc mời nhà ngoại cảm cùng lên thuyền với toán thợ lặn tìm kiếm. Nhưng cho đến khi tôi viết bài này đã là nửa tháng trôi qua, thi thể nạn nhân vẫn chưa tìm thấy. 

Cho nên dư luận vẫn cứ sôi sùng sục, hầu hết các báo đều thi nhau đưa tin tức mới nhất về vụ này. Có hàng trăm câu chuyện được kể, có hàng ngàn ý kiến độc giả góp tiếng nói. Có thể viết thành một tập sách dầy vài trăm trang khiến bạn đọc bối rối. 

Ở đây, tôi chỉ xin tóm tắt những sự kiện chính để bạn đọc tìm hiểu vấn đề dễ dàng hơn.

- Đài Truyền hình VN “vạch mặt” nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng

Ngày 23/10/2013  vừa qua, trên Youtube có tên VTV Đài Truyền Hình Việt Nam đã đăng tải một phóng sự gây sốc cho rất đông quần chúng tin vào năng lực của những nhà ngoại cảm.
VTV đã đưa ra khá nhiều thông tin và bằng chứng về khả năng thực sự của các nhà ngoại cảm. Trong số đó có cả nhà ngoại cảm nổi tiếng Phan Thị Bích Hằng. 
Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng bị “tấn công” mạnh nhất.

Theo cục Người có công (Viện pháp y quân đội) gần như 100% các mẫu xương tìm theo lời các nhà ngoại cảm mang đến giám định đều cho kết quả sai. Và 2-5% số xương mang đến không phải xương người. Với các trường hợp do thân nhân tự mang đến xét nghiệm cũng cho các kết quả sai khá cao.

Chương trình này cũng nêu ra một số trường hợp đau lòng vì quá tin nhà ngoại cảm mà các gia đình đã mang các xương động vật về thờ cúng trang nghiêm. Như vụ ông Hoàng Chí Kiên bị hành quyết. Năm 1990, phần thân thể của vị tướng này đã được vào nghĩa trang liệt sĩ. Còn phần thủ cấp thì vẫn chưa tìm ra. Bộ quốc phòng và gia đình đã nhờ đến nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng chỉ giúp.

Khi đem kiểm định, phần xương mà bà Bích Hằng mang về lại là mảnh sành vụn và 1 chiếc răng lợn. Sau vụ việc trên bà Bích Hằng vẫn tiếp tục đi tìm hài cốt và không có bất cứ lời giải thích nào.

Sau đó bà Bích Hằng được mời đến tìm thi thể nạn nhân Lê Thị Thanh Huyền, người bị BS Tường mới “thủ tiêu xác” bằng cách ném xuống sông Hồng, đoạn cầu Thanh Trì. Nhưng bà Bích Hằng từ chối bởi sau khi bị Đài TH và báo chí phanh phui bà không còn tinh thần làm việc này nữa. 

Có người còn cho rằng trước đây bà Hằng có thể có khả năng ngoại cảm, nhưng từ khi sinh đứa con thứ hai, bà đã mất khả năng ấy nên càng về sau bà đều có ngoại cảm sai hết.

Đây là một sự phỉ báng cực kì vô luân

Vụ “tấn công” bà Bích Hằng đã gây ra nhiều tranh cãi gay gắt. Đáng chú ý nhất, sau khi VTV1 phát sóng, Đại tá Hàn Thụy Vũ với tư cách là Phó chủ nhiệm Bộ môn Cận tâm lí, Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam –chua xót khi nói về vụ việc nhà báo Thu Uyên và VTV “kết án” các nhà ngoại cảm gây chấn động dư luận.
Bài viết của ông rất dài, tôi chỉ tóm tắt vài điểm chính. Ông cho rằng, dựa vào một hai vụ việc không chính xác rồi “đánh” vào nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng là thiếu khách quan, khoa học. 

Ông cón nói:
“Chúng tôi nhận thức đây là một sự phỉ báng cực kỳ vô luân đối với các vong linh liệt sỹ”.
“Với một cơ quan truyền thông chính thống như VTV, việc đưa ra một phóng sự với những khẳng định “chắc nịch” về ngoại cảm trong một chương trình truyền hình trực tiếp đã gây hiện tượng tâm lý “tát nước theo mưa” của đông đảo người dân không có hiểu biết về ngoại cảm. Gây hoang mang, xáo trộn và bức xúc lớn trong dư luận cả nước”.

Ông Hàn Vĩnh Thụy đã hoạt động tìm mộ và hài cốt liệt sĩ từ năm 1900 cho biết, năng lực ngoại cảm của Phan Thị Bích Hằng được thử thách và đánh giá trong thời gian lâu dài. Vụ tìm hài cốt nhà văn Nam Cao, bà Hằng có công lớn nhất…

Một nhà ngoại cảm khác cũng bị “tấn công”

Ngoài bà Phan Thị Bích Hằng, chương trình VTV1 còn tiếp tục “vạch mặt” một nhà ngoại cảm khác là Vũ Thị Hòa – người đã từng có tiền án buôn bán động vật hoang dã và là nhân vật chính của vụ lừa đảo tìm hài cốt tại nhà lao Tân Hiệp cũ (Biên Hòa – Đồng Nai).

Nhà ngoại cảm Vũ Thị Hòa cũng bị VTV “vạch mặt”

Theo chương trình, rất nhiều thân nhân, gia đình của các liệt sĩ đã nhận nhầm xương động vật thành xương của người đã khuất. 

Vụ này cũng bị ông Hà Văn Tuấn - con trai của liệt sĩ Hà Văn Bào (1933-1969) và ông Phạm Văn Chiến là cháu của liệt sĩ Phạm Văn Lựu (1948-1969) đã gửi đơn tới VTV vì phần phê phán "nhà ngoại cảm" Vũ Thị Hòa. Ông Tuấn viết:
"Tôi khẳng định không có sự tạo hiện trường giả, bởi vì đất nơi bố tôi nằm rất chắc, được bồi đắp bao năm nay nên nếu là giả thì chúng tôi nhận thấy ngay.

Hơn nữa, cô Hòa làm giả để làm gì, vì cô không nhận một đồng tiền nào khi giúp gia đình tôi.

Ông Phạm Văn Chiến, cháu của liệt sĩ Phạm Văn Lựu (1948-1969) cũng cho biết nhà ngoại cảm Vũ Thị Hòa đã giúp gia đình ông tìm hài cốt 2 liệt sĩ trong gia đình ông là bác ruột (vào ngày 28/4/2013) và chú ruột của ông (30/9/2013).

Bên “tấn công” ráo riết, không thương tiếc, bên bênh vực rất cương quyết, bên nào cũng có những bằng chứng “đáng tin nhất”  khiến dân VN cứ như đứng giữa sa mạc.

Vài mánh khóe lừa lọc tinh vi

Bên cạnh đó, rất nguồn tin dẫn chứng còn có nhiều nhà ngoại cảm hoàn toàn không có khả năng này, nhưng thấy “làm ăn khá” nên nhào vô kiếm chác với hàng trăm kiểu lừa đảo tinh vi. Tạm thời có thể kể ra một số mánh lới lừa bịp đó.

- Kiều lừa đảo cao cấp

Tiến sĩ Vũ Thế Khanh (Tổng Giám đốc Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Tin học ứng dụng - UIA) cũng cho biết trên báo Pháp luật Việt Nam: “Tôi cũng biết được một thủ đoạn là dùng hóa chất, dược liệu để đánh lừa cảm giác, đánh gục ý thức của người đến xem. Nếu dùng quá liều sẽ gây những tác dụng phụ rất lớn”.

Chính loại hóa chất “lạ” này đã tác động gây ảo giác để rồi sau đó, người đi tìm mộ đã hoàn toàn bị nhà ngoại cảm điều khiển.

- Kiều lừa đảo có “đồng minh” công tác

Các nhà ngoại cảm nuôi một đội quân chuyên đi nghe ngóng thông tin của các gia đình đi tìm mộ. Đội quân này được trang bị đầy đủ điện thoại, chi phí…Sau đó, đội “thám tử” báo cáo lại thông tin thu thập được cho “nhà ngoại cảm”. Nhà ngoại cảm lại dùng những thông tin này để “ra đòn” phủ đầu với tín chủ. Cho nên nhà ngoại cảm nói vanh vách họ tên, tình nết, hình dáng mọi người trong gia đình. Gọi hồn về nói chuyện khóc lóc, kể lể toàn sự thật vái chục năm xưa. Như thế nhà nào cũng cúi đầu thán phục và cho tới bây giờ vẫn cứ cho là “đúng quá”, “thần kỳ nhất thiên hạ”.

- Dựng hài cốt giả

Không tốn kém như việc dùng hóa chất, dược liệu hay “thám tử riêng”, một số nhà ngoại cảm tự xưng lại còn mất nhân tính hơn khi dựng mộ giả nhằm tung tin đó là phần mộ của người đã khuất. Nhà ngoại cảm dởm cùng đồng bọn, tạo ra những nấm mộ giả, chôn sẵn xương cốt, đôi khi còn có một lọ thủy tinh như lọ penicilline ghi tên tuổi người quá cố. Sau đó làm môt màn “lên đồng” ngay bên mộ, nói chuyện với người cõi âm!

Với vài thủ đoạn nham hiểm như trên, nhà “ngoại cảm dởm” đã dễ dàng chiếm được niềm tin của mọi người. Và cứ thế một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy lúc cả nước nức tiếng linh thiêng. Chưa thể thống kê hết được đã có bao nhiêu gia đình bị móc túi hàng trăm triệu cho đến bây giờ vẫn chưa tin mình bị lừa.

Vụ lừa đảo “ngon” nhất, ẵm gọn gần 8 tỉ đồng

Ông Nguyễn Hoàng Phương, Phó chủ tịch Công đoàn Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) cho biết, trước đây, thông qua một số người giới thiệu, bà Phan Thị Thuộc - lúc đó là quyền Chủ tịch Công đoàn NHCSXH - đến gặp ông Nguyễn Thanh Thúy đặt vấn đề phối hợp tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ.

Sau đó, hai bên đã ký thỏa thuận, Công đoàn NHCSXH sẽ trả 75 triệu đồng/mỗi bộ hài cốt liệt sĩ (HCLS) mà ông Thúy tìm được. Sau đó, ông Thúy sẽ chỉ vị trí để tìm kiếm. Tại nơi tìm kiếm, hầu hết ông Thúy không phân biệt được đó là hài cốt của liệt sĩ nào, chỉ đưa ra kết luận là HCLS.

Ông Thúy đã tìm được hơn 100 bộ “hài cốt liệt sĩ”. Đồng nghĩa với việc 75 triệu nhân với 100, cơ quan này đã trả cho nhà ngoại cảm này số tiền gần 8 tỉ đồng.

Công đoàn NHCSXH thuê ông Thúy tìm HCLS, thì phải biết được chính xác những bộ hài cốt tìm được thực sự là HCLS thì mới trả tiền. Đằng này, họ chưa biết đó có phải là HCLS hay không vẫn trả đủ tiền, lên tới khoảng 8 tỉ đồng.

Ông Thúy còn hợp tác với NHCSXH một vài lần khác cũng với cái giá trên trời ấy.

Sự dễ dãi thái quá này khiến mọi người không thể không đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa “nhà tâm linh" Nguyễn Thanh Thúy và Công đoàn NHCSXH. 

Cũng cần biết thêm, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực chất là 1 quỹ của Nhà nước lập ra để hỗ trợ đối tượng chính sách, gia đình nghèo khó và sinh viên học sinh. Trong khi những người mang danh được hỗ trợ đói nhăn răng thì các quan cứ tiêu tiền nhà nước vào những việc lãng nhách, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

'Nhà tâm linh' bị bắt vì nghi lừa đảo tìm mộ liệt sĩ 

Chính vì vụ lừa đảo trắng trợn này, sáng 28/10, Công an tỉnh Quảng Trị, Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị công bố quyết định khởi tố bị can, tạm giam 4 tháng Nguyễn Văn Thúy (tức Cậu Thủy, 54 tuổi) và Mẫn Thị Duyên (41 tuổi, cùng trú ở thôn Trác Bút, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh).

“Nhà tâm linh" Nguyễn Thanh Thúy tức cậu Thủy bị bắt tại nhà

Hai nghi can bị khởi tố về hành vi làm giả hài cốt, di vật, nơi chôn liệt sĩ theo Điều 139 Bộ luật Hình sự (tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản). Công an tỉnh Quảng Trị sau đó khám xét nơi ở của Thúy và Duyên, đưa các nghi can về tỉnh Quảng Trị để điều tra.
Biệt thự sang trọng của vợ chồng cậu Thủy, cậu còn nhiều tài sản
ở quanh vùng lên tới hàng chục tỉ đồng.

Trong khi khám xét, trên chiếc xe Toyota Land Cruiser Prado của Thúy, CA phát hiện một còng số 8, dùi cui điện, dao dài 58cm (cả cán), một dao bấm và một dao nhọn.

Vài nét về chân dung “cậu Thủy”

Sau khi ly dị vợ đầu, năm 1995, ông Thúy chung sống với bà Mẫn Thị Duyên (50 tuổi), cùng hành nghề cúng bái và tìm mồ mả thất lạc cho người dân địa phương và mấy tỉnh lân cận. Năm 1996, Thúy và Duyên bị công an tỉnh Bắc Ninh bắt vì tội lừa đảo, chiếm dụng tài sản và sử dụng vũ khí quân dụng.

Sau đó, Thúy bị kết án 10 năm tù, Duyên 12 năm tù. Năm 2005, sau khi ra tù, ông Thúy tiếp tục hành nghề “ngoại cảm”, tìm mồ mả và bắt đầu nhận tìm mộ liệt sĩ với biệt danh tự xưng là “cậu Thủy”.

Muốn tìm kiếm mồ mả, người thân đến tìm “cậu Thủy” và đặt cọc số tiền 15 - 20 triệu đồng. Sau vài tháng, “cậu” gọi đi đến một nơi hoang vắng, sau đó bảo nhập vong. Vong sẽ đưa đến nơi mà đào khoảng 0,5 đến 1 mét là thấy xương vụn kèm di vật có khắc tên. Sau đó, gia đình của liệt sĩ sẽ trả thêm cho cậu khoảng 100 triệu đồng.

Với những cuộc tìm kiếm được trả công hậu hỉ, vợ chồng Thúy - Duyên phất lên nhanh chóng, nhà cửa, xe cộ sang hơn quan.

Các nhà ngoại cảm đang “ăn có” vụ tìm thi thể bà Huyền

Trong thời gian tìm kiếm thi thể nạn nhân bị BS Tường ném xuống sông Hồng, những ngày vừa qua, đã có gần chục người tự xưng là "nhà ngoại cảm" từ khắp nơi đến khu vực cầu Thanh Trì nhằm giúp tìm kiếm thi thể nạn nhân Lê Thị Thanh Huyền. Đáng chú ý, có người còn "lao xuống sông" để... nhập hồn nạn nhân. Tuy nhiên, trong những lời phán đoán của các nhà ngoại cảm, có người cho rằng thi thể bị cát vùi, sâu lắm, sợ không tìm được.
 Sau khi làm ra vẻ được chị Huyền "nhập hồn" nhà ngoại cảm này ôm lấy anh Huy hét lên:
"Em không muốn chết, không muốn đi đâu cả, em chỉ ở nhà với chồng và con thôi! "
Nhưng… kết quả vẫn chẳng có gì biến chuyển.

Hôm 25/10, một người phụ nữ mặc áo khoác vàng, quàng khăn vàng đến hiện trường và tự xưng là nhà ngoại cảm để tìm xác nạn nhân. Sau khi thắp hương khấn vái, người phụ nữ này cùng đội thợ lặn và anh Huy, chồng nạn nhân, xuống thuyền cùng tìm kiếm xác nạn nhân. Ngay khi ra giữa sông, "nhà ngoại cảm" này đã được chị Huyền "nhập hồn" rồi ôm lấy anh Huy hét lên: 
- "Em không muốn chết, không muốn đi đâu cả, em chỉ ở nhà với chồng và con thôi".
Sau khi lên bờ, "nhà ngoại cảm" này vẫn khóc lóc vật vã:
- "Hôm qua chị ấy nhập vào người em rồi hiển linh bắt em đi xuống đây bằng được lúc 18 giờ. Em lẽ ra không dám đi vì trời tối nhưng chị ấy bắt em đi nên không thể không đến được”.

Nhưng rồi vẫn chỉ là vô vọng...

Liên tiếp vào chiều cùng ngày, chừng 10 "nhà ngoại cảm" tự xưng khác cũng đã tìm đến hiện trường mong được cùng tham gia tìm kiếm thi thể chị Huyền. Song thi thể chị Huyền vẫn chưa được tìm thấy.

Trước diễn biến này, anh Huy, chồng nạn nhân, đã bày tỏ: "Thực sự bây giờ tôi rất mệt mỏi. Các nhà ngoại cảm kia gia đình tôi không nhờ, tôi cũng không muốn bàn luận về họ nữa".

Em trai chị Huyền bực tức hơn, gọi điện thoại báo cho lực lượng công an đến để dẹp các nhà ngoại cảm. Anh cho biết: “Nhà ngoại cảm đến cũng nhiều, ai cũng nói là ở đây, cứ tìm sẽ có tin vui nhưng đến nay đã có gì đâu”. Anh nói “Toàn cào cào, châu chấu đến để kiếm miếng ăn, gia đình thật sự mệt mỏi vì những nhà ngoại cảm như thế này rồi”. Nghe tin có công an tới, các nhà ngoại cảm chuồn ngay lên trên bờ để tránh gặp.

Bằng mọi giá phải tìm bằng được thi thể chị Huyền

Đến nay gia đình chị Huyền đã đặt nghi ngờ là BS Tường không ném xác chị Huyền xuống sông, có thể BS này đã cắt nhỏ thi thể nạn nhân chôn ở đâu đó trên bờ. Tuy nhiên theo Giám đốc Công an Thành phố Hà Nội vẫn tin là BS Tường đã ném xác chị Huyền xuống sông, có những nhân chứng phát hiện điều này. Ông nói, bằng mọi giá phải tìm được xác chị Huyền còn để chứng minh, xác định đúng tội danh đối với đối tượng Nguyễn Mạnh Tường. CA Hà Nội nhất định không bỏ cuộc. Cuôc tìm kiếm vẫn tiếp tục và sẽ dùng lưới gắn móc câu thép kéo rê dọc sông với hy vọng sớm tìm được xác nạn nhân.
Tại khu vực chân cầu Thanh Trì (Hà Nội), người nhà nạn nhân
vẫn kiên trì tổ chức tìm kiếm. 

Đó là những sự thật qua dư luận, không biết từ nay còn ai tin tưởng hoàn toàn vào các “nhà ngoại cảm” dù có danh tiếng hay không. Nó kéo theo sự ế ẩm của hàng loạt những “trung tâm thẩm mỹ” ở Hà Nội và Sài Gòn.

Nhất là các bà ở VN hoặc cũng có nhiều bà nước ngoài về VN làm phẫu thuật thẩm mỹ cho rẻ, cần đề phòng hết sức cẩn thận. Phải tìm đến những trung tâm được cấp giấy phép, có cơ sở đàng hoàng. Tốt nhất nên đi cùng một người thứ hai để phòng mọi bất trắc. Ở đây mọi chuyện “liều lĩnh” đều có thể xảy ra. 

Tôi đã từng thưa với các cụ là không liều thì không sống ở VN được./.
 
Văn Quang


Khai Dân TríVăn Quang

2013/11/03

Thiền ca/Đạo ca Lê Minh Hiền

Đào Văn Bình
 
Tôi không phải là một nhà chuyên khảo cho nên những nhận xét của tôi về âm nhạc Phật Giáo có thể chỉ là phỏng đoán. Theo tôi, trước dấu mốc 1963, hình như âm nhạc của Phật Giáo hầu hết là Phật nhạc. Điều đó có nghĩa là những bản nhạc đều tập trung vào sự tích, cuộc đời Đức Phật, giáo lý, chùa, thầy v.v…Dĩ nhiên có nhiều bài rất hay, còn được ưa chuộng cho tới bây giờ, chẳng hạn như bản nhạc:
 
Từ ngàn xưa, vương thành Ca-tỳ -la-vệ.
Tất Đạt Đa, thái tử con Vua Tịnh Phạn.
Lìa vua cha, lánh xa cung điện nguy nga…
 
Rồi bài “Trầm Hương Đốt” hát trong tất cả các buổi lễ của Gia Đình Phật Tử:
            Trầm hương đốt,
Xông ngát mười phương
Nguyện nguyện kính đức nghiêm từ vô lượng
Cầu, cầu xin chứng tâm thành chúng con…
 
Rồi bài “Từ Đàm Quê Hương Tôi” (Văn Giảng):
            Ôi uy nghiêm bóng Chùa Từ Đàm
            Nơi Bắc Nam nối liền một nhà…
 
Rồi bài “Hôm Nay Thầy Về Đây”:
            Hôm nay thầy về đây.
Chúng con xin kính chào thầy.
Trong giờ phút vui này.
Chúng con biết làm gì đây?
 
Thế nhưng sau năm 1963 dường như Phật Giáo “thay da đổi thịt” trên mọi lãnh vực. Với sự ra đời của 10 Bài Đạo  Ca và 10 Bài Thiền Ca của Phạm Duy do Thái Thanh và Thái Hiền hát, âm nhạc Phật Giáo bước vào một khúc quanh mới. Rồi với tập Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư cũng do Phạm Duy phổ nhạc, hai thiên tài thi ca và âm nhạc này đã đưa Thiền Ca và Đạo Ca lên một đỉnh cao. Nói âm nhạc Phật Giáo bước lên một đỉnh cao mới là vì Thiền ca/Đạo ca không phải chỉ được hát trong chùa hay bởi đoàn sinh Gia Đình Phật Tử hay Phật tử thuần thành mà nó lan vào mọi tầng lớp thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ thời bấy giờ. Tại sao thế? Thiền ca/Đạo ca không giống như Phật nhạc nặng về giáo lý và cuộc đời Đức Phật. Một thoáng mây bay, một búp sen nở, một tiếng chim hót, vạt nắng ban mai, mảnh trăng in mặt hồ… cũng có thể là chủ đề của Thiền ca/Đạo ca. Thiền ca/Đạo ca cũng nói về tình yêu nhưng không than van, rên xiết mà làm thăng hoa cuộc sống, giảm nhẹ những cay đắng của cuộc đời, nâng tình yêu lên một tầng cao “Rằng xưa có gã từ quan. Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau.” 
 
Thiền ca/Đạo ca không nói đến “tha thứ” mà nói về “buông bỏ” (Thôi thì thôi chỉ là phù vân). Thiền ca/Đạo ca không nói rằng “yêu” mà nói đến “nhớ”. Thiền ca/Đạo ca không  nói rằng “chết” mà nói về “hóa thân”. Thiền ca/Đạo ca không nói đến ”chia ly” mà chỉ nói “Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi”. Thiền ca/Đạo ca không nói rằng “mùa thu đã chết” mà nói rằng “Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”. Thiền ca/Đạo ca không có ý “truyền đạo” nhưng lại “tải đạo” và khiến người nghe chợt “ngộ” và “thấm ý đạo”. Cái dễ thương và lạ lùng của Phật Giáo nằm ở chỗ đó. 
 
            Sau năm 1975, Phật nhạc, thiền ca/đạo ca lâm vào bế tắc. Vào thập niên 1990 tại hải ngoại (Hoa Kỳ và Canada) đã có khá nhiều nhạc sĩ sáng tác Thiền ca/Đạo Ca.  Hiện nay phong trào sáng tác Thiền ca/Đạo ca nở rộ trong và ngoài nước trong đó có Lê Minh Hiền. Anh vừa cho ra đời CD thứ 4 mang chủ đề Nụ Cười. Là một Phật tử thuần thành, cùng với người bạn đời là Thu Nga, hai người hầu như đóng góp thiện nguyện vào tất cả các sinh hoạt văn nghệ của Phật Giáo tại San Jose, California.  Chúng ta thử xem nhạc của Lê Minh Hiền trong CD Nụ Cười như thế nào? CD này gồm 12 bài hát.
 
1.      Bài “Vỗ Tay Ca” phổ thơ Không Lạc, do Duy Linh hát, âm hưởng rộn ràng, vui …từ đó thoát cảnh nghèo “nghèo an lạc, nghèo thanh tâm”. Đúng vậy. Người ta rất giàu của cải vật chất, nhưng tâm hồn lại nghèo nàn. Cái đáng sợ nhất của kiếp người là “nghèo nàn trong tâm hồn, nghèo nàn về trí tuệ”.
2.      Bài “Búp Sen Cúng Phật” do Thu Nga hát tiếng nhạc nhẹ nhàng, thanh thoát, vui như nhạc Xuân “ Chắp tay nở đóa sen tươi, dâng lên cúng Phật mười phương cúng dường…và cùng chào nhau.”
3.      Bài “Lời Nói ” nhịp Boston  thánh thót, dễ thẩm thấu lời, do Gia Huy  hát với những câu như “Lời nói đẹp như hoa, lựa lời mà nói, cho nhau dịu dàng”.
4.      Bài “Nẻo Về Bình Yên” do Hổ Trung Dũng hát, âm hưởng dìu dặt, tiếng nhạc quyến rũ, huyền hoặc như nhạc dân ca Bắc Âu với những câu như “Nẻo về bình yên như gió bay qua đời…”
5.      Bài “Nụ Cười” do Thu Nga hát vui như  nhạc Disco với những câu như “ Nụ cười là nắng ấm…làm tiêu tan giá lạnh”
6.      Bài “Hỏi Em” phổ thơ Sơn Cư do Vân Khánh hát, nhạc mang âm hưởng dân ca xứ Huế.
7.      Bài “Trả” do Hổ Trung Dũng hát với những câu như “ Một xả buông là hết ngâm ngùi…” Điệu nhạc tuôn chảy như dòng sông, song có lúc rộn như ngựa phi trên cảnh đồng, âm hưởng quyến rũ giống như một Dạ Khúc (Serenade).
8.      Bài “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” do Thu Nga và Lê Minh Hiền hát với triết lý như chúng ta có khi chỉ là “một hành vô danh” trong cuộc sống này.
9.      Bài “ Thân Khẩu Ý” phổ thơ Không Lạc do Diệu Hiền hát. Nhịp ¾ dìu dặt, khoan thai với những lời thơ như,”Mỗi lần nghe tiếng khen chê. Giữ cho tâm-ý bốn bề lặng yên.”
10.  Bài “Tam Quy” do Lê Minh Hiền hát. Nhạc vui, rộn ràng. Tam quy là quay về nương tựa nới Phật, Pháp, Tăng trong đó một số câu niệm Phật bằng tiếng Phạn nghe là lạ.
11.  Bài “Tiếng Thu Không” phổ thơ Không Lạc do Hổ Trung Dũng hát nhịp Rumba quá quen thuộc vớ nhạc Việt, dìu dặt với những lời thơ như “ Nghe chuông lòng thấy nao nao” như  “tiếng từ cõi tịnh vọng về thênh thang.”
12.  Bài “ Kinh Nhạc A Di Đà” do Thu Nga, Caddilac và Lê Minh Hiền hợp ca. Cả bài là khúc phổ nhạc câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” trang nghiêm, nhẹ nhàng, giải thoát. 
 
Giữa cuộc sống quá bon chen, ngày càng khó khăn của thời đại “toàn cầu hóa”. Giữa “cái nôi bá chủ” của nền âm nhạc thế giới với những loại nhạc kích động đang thống ngự nhân loại như nhạc Rock, nhạc Pop, nhạc Disco, nhạc Rap của Mỹ mà Lê Minh Hiền có thể sáng tác ròng rã trong mười mấy năm trời 4 CD mang âm hưởng Đạo ca/Thiền Ca Việt Nam...quả là một công trình đáng ca ngợi. 
 
Quý vị, quý bạn nào muốn có một chút “thiền” tức nhẹ nhàng, thanh thoát  (relax) trong cuộc sống đang có quá nhiều bạo lực (violent), xâm hại (abused), căng thẳng (stress) và đôi khi rất buồn chán (depressed),  xin ghé trang điện tử http://www.leminhienmusic.com/
 
 
Trân trọng giới thiệu,
Đào Văn Bình
(California 3 Tháng 11, 2013)

Khai Dân TríĐào Văn Bình