2013/10/18

Ai thống trị Việt Nam ngày nay: Đảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?

Bài viết của GS Stephen B. Young. Ông qúa thấu hiểu VN và cũng như sử Việt nói chung nên bài của ông qúa chi tiết mà một người VN chúng ta chắc chưa có một bài tương tự. Nhờ phổ biến rộng đến từng tầng lớp dân tại VN/ PQA.

Ông Young, người Hoa Kỳ, Luật sư, nói tiếng Việt, có vợ là người Việt, đã sang VN nhiều lần. Đọc kỹ bài viết, mọi người sẽ thấy cách hành văn của một người ngoại quốc viết tiếng Việt, tuy rất kinh điển v
à rành lịch sử Việt Nam.

Stephen B. Young, Global Executive Director of the Caux Round Table, is a lawyer and writer. He has served as Dean of the Hamline University School of Law and as an Assistant Dean at Harvard Law School
.


Ai thống trị Việt Nam ngày nay: Đảng Cộng sản hay là Hán Ngụy?

Stephen B. Young

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ . Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là "Đảng Cộng Sản Việt Nam".

Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình.

Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng?

Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác .Tôi nói đó là một "thứ đảng phái" vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành "chính nghĩa xã hội chủ nghĩa " theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng "hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học". Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân.

Ông Bảo nói thêm rằng " tổ chức anh chị em cán bộ phải giử quyền cai trị Việt nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giử ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ".

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình" chính nghĩa Mác-Lê." một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng "chính nghĩa Mác-Lê" để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảngthì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào?

Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt
đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?

Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hảy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.

Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tìng chống Trung quốc xăm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.

Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyẽn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng.  Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt nam chăng? Tức đảng cộng sản vỉnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xăm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà nội bắt đầu lo sợ.  Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hảy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chổ dựa vửng chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rỏ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy.

Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rặp.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi.

Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng
Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – " hoàng đế chính thuyết "– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ
tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lịnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.

Trong lịch sử Việtnam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là "Mỹ Ngụy" .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: Mỹ Ngụy hồi đó hay Hán Ngụy bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ "nhân bản, khoa học, khai phóng " …

Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo " hoàng đế chính thuyết ".

Như vậy làm Mỹ Ngụy là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt nam, không ở lại Việt nam. Và "dân ngụy." không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ Tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

2013/10/17

“Trời” sinh Võ Nguyên Giáp để làm gì?


Thuận Văn

Võ Nguyên Giáp đã về với đất giữa những tiếng tung hô về “thiên tài quân sự” và “phẩm cách thánh nhân” của ông, giữa những lời phân trần biện minh cho thất bại chính trị của ông, cả những nhận xét điềm đạm hay phê bình gay gắt nhất đối với ông. [1] Không nhất thiết phải đóng góp thêm cái không khí ồn ào khi “tang lễ quốc gia” sặc mùi đồng bóng vừa mới bị cắt ngang một cách chưng hửng ngay tại thủ đô để tiếp khách giống như là… chạy cưới, tôi vẫn cảm thấy thiếu thiếu, vẫn còn có một câu hỏi chưa có lời đáp ở nhân vật này. [2]


Câu hỏi đó là: “Trời” sinh ra Võ Nguyên Giáp để làm gì?

Đã ca ngợi ông là một “thiên tài quân sự”, là “thánh nhân” thì phải thừa nhận chuyện “Trời sinh”: sinh ông ra, rồi phú cho ông một “thiên tài”, một phẩm cách “thánh nhân”, ắt hẳn “Trời” đã sắp đặt sẵn cho ông một chương trình, một mục đích và ý nghĩa nào đó, cho đời. Như thế thì cái ý nghĩa “thiên mạng” đó phải thể hiện trong sự nhất quán, trong mối quan hệ tương liên giữa những chặng đời mâu thuẫn mà những kẻ xưng tụng ông vẫn ấm ức gọi là “nghịch lý”, cái “nghịch lý” của cuộc đời khởi đầu vinh quang trong vai trò “cầm quân” tại chiến trường Việt Bắc để rồi tiếp tục một cách ê chề với những tháng năm “cầm quần” giữa những mưu mô chính trị hậu cung tại Hà Nội, nói theo một câu ca dao hiện đại. [3]

Sự nhất quán giữa hai thái cực “cầm quân” và “cầm quần” ấy có thể nhìn qua học thuyết của Thomas Malthus, nhưng đầu tiên là “thiên tài” và phẩm cách của ông Giáp.

Chúng ta thán phục một người là có “tài” khi kẻ đó làm được những điều mà kẻ khác làm được nhưng làm bằng cách nhanh hơn, với cái giá rẻ hơn mà có thể đem lại kết quả hay hơn. Chúng ta ngưỡng mộ một bậc “thiên tài” khi kẻ đó làm được những điều độc sáng mà chưa ai từng làm được hay, không chỉ hơn khối kẻ bình thường khác qua cách làm nhanh nhất, bằng cái giá rẻ nhất nhưng mang lại kết quả mỹ mãn nhất mà còn có thể, qua cách ấy hay việc ấy, để lại một dấu ấn hay những ý nghĩa khó phai nhạt qua những ảnh hưởng đến người khác, ít ra là trong lĩnh vực của mình.

Nếu “thiên tài” của Võ Nguyên Giáp kết tinh ở chiến thắng Điện Biên Phủ “lẫy lừng” thì cái tài trời phú ấy không thể chấm hết sau phút giây bắn pháo hoa mừng chiến thắng mà còn phải để lại những ý nghĩa “lẫy lừng” nào đó, ít nhất là cho riêng vùng đất ấy, và ít ra là trong đường lối quân sự sau đấy.

Ông là “thiên tài quân sự”, thế nhưng với những đồng chí thuộc vai vế đàn em “thiên tài” ấy chẳng có một tý ty trọng lượng, chẳng để lại một dấn ấn hay ý nghĩa hay ảnh hưởng nào, ngay trong lĩnh vực quân sự. Gạt ông ra ngoài trong những quyết định trọng đại về chiến tranh, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã không đếm xỉa gì đến “thiên tài” của ông. Chiến dịch Mậu Thân, họ chỉ báo trước có một ngày. Chiến dịch Quảng Trị, khi xương cốt bộ đội trắng cả đáy dòng Thạch Hãn, họ cũng bỏ ngoài tai những ý tưởng chiến thuật của ông. [4]

Và “chiến thắng lẫy lừng” ấy cũng chẳng mang lại một ảnh hưởng tích cực nào cho những vùng đất hay con người đã trực tiếp và gián tiếp trả giá. Không nói xa xôi đến “đất nước” hay “dân tộc”, gần ba phần tư thế kỷ sau ngày chiến thắng, những “an toàn khu”, những “căn cứ địa”, những “chiến khu gió ngàn” nuôi dưỡng nên chiến thắng ấy vẫn tiếp tục là những vùng đất đói nghèo nhất nước và, phần đông, thế hệ trẻ lớn lên ở đó, muốn đổi đời thì chỉ có thể, hoặc ngược sang Lào theo những “cung đường ma túy”, hoặc bỏ xuôi làm thuê hay làm đĩ. [5]

Giới hâm mộ Võ Nguyên Giáp viện dẫn sự thất thế chính trị để biện minh cho sự vô can của ông trước giá đắt trong Mậu Thân 1968 và Quảng Trị 1972-1973, thế nhưng cái giá của Điện Biên Phủ 1954 đâu có rẻ chút nào? Bao nhiêu nông dân cầm súng đã gục ngã, bao nhiêu tài nguyên đã tiêu tốn và những món nợ “xã hội chủ nghĩa anh em” với hậu quả nhãn tiền về sự phụ thuộc? Mà, xét cho cùng, nếu tướng tài là vị tướng không cần đánh mà có thể lấy được thành thì, chẳng cần đến những “chiến công chấn động thế giới” kiểu ấy, những cựu thuộc địa có cùng hoàn cảnh tại Á châu không chỉ đã giành lại độc lập với cái giá rẻ hơn mà, hơn thế nữa, còn vươn tới những kỳ tích hậu thuộc địa lẫy lừng hơn, rất nhiều.

“Chiến thắng lẫy lừng” ấy là một món hàng xa xỉ, cực kỳ hoang phí, không chỉ hoang phí bằng xương bằng máu mà còn hoang phí bằng sự tụt hậu và phụ thuộc, phụ thuộc ngay vào kẻ thù truyền kiếp, kẻ thù đã xâm lăng đất nước chúng ta nhiều lần hơn ai hết, chiếm đóng đất nước lâu dài hơn ai hết.

Cái chiến thuật thí thịt người chẳng có gì độc đáo sáng tạo về mặt quân sự của ông Giáp, gợi nhắc một giai thoại về Napoléon Bonaparte khi bị một viên thống chế dưới quyền thắc mắc trước một quyết định thí quân: “Chỉ một đêm của Paris là đủ”. Chỉ một đêm thôi, và riêng tại Paris thôi, sẽ có bao nhiêu cặp nam nữ cuồng nhiệt quấn quýt vào nhau, sẽ có bao nhiêu tinh trùng bắn ra, sẽ có bao nhiêu tinh trùng tiến về bắt rễ trong buồng trứng để từ đó mở ra một mầm sống mới và, với Napoléon, thế là đủ. Đủ để bù lại những sinh mạng bị ông ta vung vãi trước trận địa mà đối phương đã bày bố sẵn sàng.

Như thế phải có một điểm nhất quán nào đó trong “vinh quang” của vị “anh hùng chiến thắng” vào năm 1954 với sự cam chịu thụ động đến bạc nhược của vị “thống chế đặt vòng” vào năm 1983, khi ông ta trở thành “Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch”. [6]

Để hiểu được sự nhất quán ấy, có lẽ, phải nhắc qua học thuyết của Thomas Malthus (1766 – 1834), một giáo sĩ và là một nhà kinh tế học nối tiếng người Anh.

Năm 1798 Malthus xuất bản cuốn khảo luận An Essay on the Principle of Population (Một tiểu luận về nguyên tắc dân số) và, thế là, những lời công kích nổi lên. Để đáp trả những lời chỉ trích và củng cố lý thuyết của mình, từ năm 1799 đến 1802 Malthus thực hiện chuyến du khảo năm năm xuyên suốt Âu châu để rồi tái bản quyển sách trên với sự minh định rằng quan điểm chính vẫn không hề thay đổi. Vẫn bị công kích dữ dội nhưng vẫn thu hút sự chú ý rất đặc biệt và cuốn sách ấy của Malthus đã đuợc tái bản đi, tái bản lại nhiều lần.

Điều khiến Malthus vừa bị công kích vừa lôi cuốn sự chú ý là cách phân tích nguyên nhân của nạn bần cùng như là hậu quả tất yếu của tình trạng quá tải dân số. Theo Malthus thì dân số tăng theo cấp số nhân trong khi kinh tế chỉ tăng trưởng theo cấp số cộng, và khi nền kinh tế không đáp ứng nổi nhu cầu của một dân số quá đông thì bần cùng là hệ quả tất yếu. Vấn đề là làm thế nào để giải quyết nạn ấy và, theo Malthus, khi con người bó tay, không “giải quyết” được sự bùng nổ dân số, thì “tự nhiên” sẽ bắt tay thực hiện. Khảo sát thật kỹ các xã hội trong suốt chiều dài lịch sử của nó, Malthus đi đến kết luận rằng các biến cố lớn liên quan đến nạn đói, thiên tai, bệnh dịch và chiến tranh đều gắn liền với những “khó khăn về dân số”.[7]

Hẳn nhiên học thuyết của Malthus không hoàn toàn đúng và không phù hợp với thực tế của hôm nay sau bao nhiêu bể dâu về kinh tế về khoa học và kỹ thuật thế nhưng mối ám ảnh “khó khăn dân số” ấy vẫn tiếp tục hiệu lực, vẫn dai dẳng đeo bám nhân lọai, thậm chí từng ám ảnh cả nhà thơ Tú Xuơng của chúng ta, qua bài thơ “Chúc Tết”:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non

Ba năm sau khi Tú Xương lìa đời thì Võ Nguyên Giáp mới chào đời. Và bốn mươi bốn năm sau khi ông Giáp chào đời thì ám ảnh ấy đã phần nào giải quyết bằng chiến thuật thí thịt người tại Điện Biên Phủ cùng muôn vàn những trận đánh tương tự trước đó hay sau đó với những quy mô nhỏ hơn. Nếu chiến tranh, theo cái nhìn của Von Clausewitz, là sự “tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác” thì, phải chăng, “người hùng chiến tranh” Võ Nguyên Giáp, như một kẻ hoàn toàn thất bại về chính trị, chính là hiện thân của sự “can thiệp của tự nhiên” để giải quyết những “khó khăn về dân số”?

“Tự nhiên”, ở đây, nên hiểu là “Trời” và nếu nhìn như thế thì sẽ thấy ngay cái mẫu số chung hay mối quan hệ “biện chứng” giữa đoạn trước và đoạn sau của cuộc đời ông. Cơ hồ “Trời” sinh ông ra là để giải quyết những khó khăn đã ám ảnh Malthus. Đoạn đầu đời xông xáo trên mặt trận, ông “giải quyết khó khăn” bằng cách đẩy những mầm sống đã đạt tuổi trưởng thành vào trận địa theo chiến thuật thí thịt người. Nửa đời sau thầm lặng trong nền chính trị hậu trường, ông “giải quyết khó khăn” với những cái bọc condom, những sợt dây thắt ống dẫn tinh và hay những vòng tránh thai để phong toả, ngăn không cho tinh trùng tiến về với trứng.

Giới hâm mộ xem đó là “thăng trầm” của đời ông Giáp và ca tụng đó là chữ “nhẫn” của bậc thánh nhân, là “phong cách trí thức” của một tướng lĩnh “có văn hoá”. Nhưng tính cách của bậc trí thức không chỉ hình thành từ việc đọc sách, việc làu thông kim cổ hay, giữa một đám lãnh tụ công nông đàn gảy tai trâu, “biết đánh cả đàn pinao”. Và, ngoài chữ “nhẫn”, tiếng Việt còn có thêm từ “khí tiết”. Nếu “nhẫn” không có nghĩa là bạc nhược thì “phong cách trí thức” không có nghĩa là phải giữ sự mềm mỏng và thụ động của con người chỉ biết mỗi một việc đọc sách. Mềm mỏng, hay cứng cỏi, người trí thức phải quyết liệt, không lùi bước, không khoan nhượng để bảo vệ lẽ phải và sự thật. Đó là thái độ của Emile Zola khi lên tiếng “Tôi kết tội” để bảo vệ Alfred Dreyfus, viên sĩ quan gốc Do Thái bị cả guồng máy quân sự và chính trị Pháp toa rập để vu khống tội gián điệp. Dreyfus chẳng can dự gì đến Zola và nhà văn này lên tiếng là để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự thật, nhưng còn ông Giáp? Như một “đại tướng – trí thức – anh hùng”, ông đã làm gì để bảo vệ lẽ phải và sự thật khi chính những tướng lĩnh và sĩ quan tâm phúc của mình như Đặng Kim Giang, Lê Liêm hay Đỗ Đức Kiên bị vu khống là gián điệp?

Không chứng tỏ một nỗ lực tối thiểu để bảo vệ lẽ phải và sự thật, để trọn chữ nghĩa tình với những người từng vào sinh ra tử với mình thì có thể nào đạt đến chuẩn mực xử sự của bậc thánh nhân? Những kẻ chỉ trích vin vào điều này để cho rằng ông hèn nhát. Thì đó cũng là một cách nhìn nhưng từ góc độ của Malthus và ý nghĩa “Trời sinh” thì chẳng có gì là anh hùng hay ươn hèn trong cái cuộc đời đó cả. Trời sinh ông để “giải quyết những khó khăn” về dân số và ông  phải sử dụng bất cứ vai trò nào có thể sử dụng được để thực hiện sứ mạng đó theo đúng nguyên tắc “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” mà Niccolò Machiavelli đã nêu ra trong The Prince (Quân Vương).

Cuốn sách được xem là kinh điển về chính trị thực dụng này được xuất bản năm 1532, năm năm sau khi Machiavelli qua đời. Trong công trình mỏng tang của mình, Machiavelli đã nhấn mạnh rằng, trong chính trị, yếu tố hiệu năng và thực tiễn phải được đặt lên lên trên giá trị đạo đức hay các khái niệm trừu tượng, và để sống còn, những lãnh tụ chính trị phải biết cách học hỏi từ loài dã thú:

“Bậc quân vương phải học hỏi từ bản chất của loài thú để kết hợp sức mạnh của con sư tử với sự tinh ranh của loài cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình trước các cạm bẫy nhưng cáo thì không thể chống lại loài chó sói. Vì thế, cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẫy và là sư tử để dọa chó sói.” [8]

Nếu “thiên tài quân sự” là kẻ phải thể hiện sự dũng mãnh của loài “sư tử” thì ông, “Thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp”, còn có nhiều lợi thế trên đấu trường chính trị hậu cung khi đã từng là “cáo” và cũng từng là “sói”. Trước khi thực sự chống lại thực dân ông đã đóng vai trò chủ chốt trong những cuộc thanh trừng khốc liệt nhắm vào các đảng phái quốc gia chỉ để giành lấy độc quyền chống thực dân, nghĩa là từng giăng bẫy như “cáo”. Trước khi là Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Lư lệnh Quân đội, ông đã là Bộ trưởng Nội vụ đầu tiên của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và, trong vai trò ấy, đã ký nghị định để chống lại cái gọi là các tổ chức quốc gia “phản động” tháng Chín năm 1945, nghĩa là đã vồ mồi như “sói”.

Đã là “sư tử”, đã từng giăng bẫy như “cáo” và từng vồ mồi như “sói”, tại sao ông có thể dễ dàng đầu hàng trước những đồng chí chỉ đáng mặt là “cáo” hay “sói” như Lê Duẩn và Lê Đức Thọ?

Cũng chẳng có gì đáng gọi là “nghịch lý” trong mối quan hệ tưởng là mâu thuẫn này cả khi một “đại tướng anh hùng” dễ dàng bỏ rơi đồng đội, dễ dàng nhìn những ý tưởng mà mình tin là có lợi cho đất nước bị vứt bỏ vào sọt rác mà, thậm chí, còn là một sự nhất quán và thông suốt nếu nhìn theo những góc độ nói trên. “Trời” sinh ông thế và, cơ hồ, cả trong cái thời sung mãn nhất về thế chất và trí lực của mình, ông, “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, chưa bao giờ cảm thấy có đủ tự tin với “thiên tài”, với “thiên mạng” của bậc anh hùng cứu thế trong tầm vóc của một con sư tử của mình. “Trời” không sinh ông để sống trọn vẹn ý nghĩa của một con người huyền thoại. Trời sinh ông ra để giải quyết những “khó khăn về dân số”.

“Thiên mạng” của ông là giải quyết những “khó khăn về dân số” còn chế độ toàn trị thì đang lúng túng với “thiên mạng” của mình trước một “dân số khó khăn”. Lúng túng vì người dân ngày càng trưởng thành hơn. Lúng túng vì càng ngày càng lộ liễu cái bản chất phản động và thối nát nhiều hơn. Thế là, sau bao nhiêu năm bị bỏ quên, phải tìm quên trong thiền và trong kinh Phật, ông được vực dậy, được công kênh như một huyền thoại chiến tranh. Ông càng rũ xuống, càng vật vờ trong đời sống thực vật trên giường bệnh bao nhiêu, cái chiến dịch phục dựng huyền thoại chiến tranh ấy càng rầm rộ bấy nhiêu.

Nhưng, luôn luôn, cái mà nền toàn trị cần là những huyền thoại chỉ để thờ, thờ sống hay thờ chết. Nó chỉ cần cái bài vị, cái vừng sáng lung linh nhang nến quanh một nhân vật để công chúng kính cẩn gập mình xuống lạy chứ không phải những giá trị thực tiễn mà kẻ đó có thể đóng góp. Hồ Chí Minh cũng vậy mà Võ Nguyên Giáp cũng vậy. Cũng chỉ đơn thuần là hai cái bài vị để cho công chúng lạy, lạy sống hay lạy chết. Thập niên 60, hệ thống quyền lực đó vừa thờ sống Hồ Chí Minh, vừa gạt ông qua một bên. Chỉ cách đây mấy năm thôi, hệ thống đó cũng vừa rầm rộ “lạy sống” ông Giáp, vừa thẳng tay vứt vào sọt rác những “tâm can” mà ông trút cạn khi hệ thống quyền lực tự đâm vào cổ mình bằng cách mời mọc kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đến cắm rễ ngay tại vùng đất chiến lược. [9]

Những kẻ hâm mộ ông lấy làm ấm ức vì trong bài điếu văn chính thức đọc trong tang lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không đề cập về ông như một “anh hùng” mà chỉ gọi suông là “nhà lãnh đạo uy tín.” Theo họ ông là “anh hùng dân tộc”, là “hồn thiêng sông núi” v.v… và, theo những dòng người rồng rắn đưa tang, những mỹ từ này đã rồng rắn nối đuôi nhau trên các phương tiện truyền thông để tấn công vào suy nghĩ của công chúng, để bám vào suy nghĩ của thế hệ mới lớn. [10]

Xung tụng ông thế nào, là “thiên tài quân sự”, là “bậc thánh nhân” v.v… là tùy bởi việc đó quyền, là năng lực nhận thức, là trí tuệ của từng người. Nhưng nếu gọi một nhân vật như thế – “sư tử” không ra “sư tử”, “sói” không ra “sói” và “cáo” không ra “cáo” – là “hồn thiêng sông núi” hay “anh hùng dân tộc” thì quả là một sự báng bổ và xúc phạm. Nó báng bổ tổ tiên. Nó xúc phạm đến sông núi thiêng liêng. Nó xúc phạm những anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt. Lê Lợi hay Nguyễn Huệ v.v…

Và nó xúc phạm đến cả chúng ta, những người đang mang ơn những người con kiệt xuất của dân tộc ấy, những anh hùng đã thực sự bảo vệ đất nước trước dã tâm nghiền nát và nuốt chửng của kẻ thù truyền kiếp, cái kẻ thù đang vừa kêu ca đòi chia chác thứ “vinh quang” xây trên xác người ở Điện Biên Phủ, vừa vận dụng cả trăm ngàn trò trí trá để bóp nghẹt môi trường và nguồn sống của chúng ta, dồn ép chúng ta vào cảnh kiệt quệ và chết dần chết mòn, cũng với dã tâm nghiền nát và nuốt chửng. [11]


Thuận Văn
17.10.2013


Chú thích
[1] Hiện có rất nhiều ý kiến tôn sùng Võ Nguyên Giáp là bậc “thánh nhân”, thí dụ như: Nguyễn Như Phong, “Người là bậc Thánh Nhân!”
[2] Tang lễ kết thúc lúc 5 giờ chiều tại Quảng Bình nhưng trước đó, vào buổi trưa, cờ tang ở Hà Nội đã được tháo bỏ để đón Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường.
[3] Có thể kể mấy câu liên quan đến việc Võ Nguyên Giáp nhận chức vụ này:
Năm xưa đại tướng cầm quân
Năm nay đại tướng cầm quần chị em
Hay:
Năm xưa đánh giặc công đồn
Nay về quản lý cái l** chị em
[4] Có rất nhiều tài liệu về việc này, trong đó phần cô đọng nhất là chương viết về Võ Nguyên Giáp trong cuốn Bên thắng cuộc II: Quyền bính, của Huy Đức.
[5] Có thể tham khảo một số bài báo tiêu biểu:
[6] Câu này liên quan đến việc Tố Hữu trở thành Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế: “Nhà thơ làm kinh tế, thống chế đi đặt vòng”.
[7] Hẳn nhiên tính toán của Malthus không hoàn toàn phù hợp với thực tế và trong hai thế kỷ sau đó tốc độ tăng dân số vẫn xảy ra mà không bị cản trở bởi nghèo đói tại các nước kỹ nghệ như Âu châu. Một trong những người chỉ trích Malthus kịch liệt nhất là Friedrich Engels – đồng chí kiêm môn đệ của Karl Marx. Theo ông tổ số hai của chủ nghĩa cộng sản thì Malthus đã không thấy được các yếu tố như quá trình tích sản, tích lũy giá trị thặng dư của giai cấp bóc lột, cũng không thấy được vài trò của khoa học v.v…
[8\] Bản tiếng Anh: “Of the animals, a prince should be compelled to choose to emulate the effective points of] the fox and the lion, because the lion cannot defend himself against traps, and the fox cannot defend himself against wolves. Therefore, it is necessary to be a fox to discover the traps, and [to be] a lion to terrify the wolves. Those who rely simply on the [effective points of a] lion do not understand what they are about.
[9] Võ Nguyên Giáp đã ba lần viết thư gởi Bộ Chính trị đề nghị chấm dứt dự án bauxite Tây Nguyên, tuy nhiên lời ông bị gạt qua một bên, thậm chí những kẻ có trách nhiệm đã không thèm trả lời.
[10] Thí dụ các bài báo hay bản tin:
- Hoàng Điệp – Lam Giang – TTXVN, “Quốc tang anh hùng dân tộc Võ Nguyên Giáp”.
[11] Có nhiều tài liệu từ phía Trung Quốc nhấn mạnh vao trò của các cố vấn Trung Quốc, thí dụ:
“Hồi kí cố vấn Trung Quốc (3)  -Vai trò của Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing) qua lời kể của viên thư kí” [Bản dịch của Dương Danh Dy].


Khai Dân TríThuận Văn

Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay TQ


Phan Châu Thành

Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn:

"Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?" Hắn cười: "Chắc là chưa đến ba ngày?!"
Tôi ngạc nhiên: "Sao chết nhanh vậy?" Hắn lại cười: "Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!"
"Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?"
"Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!"
Tôi thắc mắc: "Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?"
"Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!"

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà:

"Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…"

"Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?"
"Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!"

Thế họ có ăn chung với các cháu không?"
"Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng."

"Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?"
"Chúng cháu được 35 ngàn đồng ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đồng ngày thôi…"

"Sao lại 28 ngàn thôi?!" Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đồng/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta…

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên.

Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ. Xin kể câu chuyện thứ ba. Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn "du lịch- thám hiểm" ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các "dự án lớn" của Vinalines làm đến nới cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bở biển nữa. Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư. Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiêu năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sắn sàng…

Câu chuyên thứ năm. Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà… Gặp nó tôi bảo:

- "Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!"
- Nó cười khẩy: "Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!" Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh: "A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở tài nguyên Môi trường mà…" Tôi nhăn mặt nghĩ: Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…

Tôi phán tiếp:
"Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quan còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi, Công chúng mày to quá!"

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm: "Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!" (Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuế nó làm đương lên "trồng rừng". Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…).

Và câu chuyện cuối cùng. Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường Hồ Chí Minh mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi: "Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?" Tôi thở dài chua chát "Bố chịu!" Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình: "Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và không chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?"

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai: "Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!"

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt Nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi. Các chiến sĩ Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều: Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không?


Phan Châu Thành

2013/10/14

Kế hoạch xây dựng thật hay đùa?


   
Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 14.10.2013

 Kế hoạch xây dựng thật hay đùa?

Trong 3 năm sẽ có 70 lô chung cư cũ được di dời, tháo dỡ (ảnh hưởng  lớn tới hơn 7.250 gia đình dân), trong đó 3 lô được sửa chữa và 61 lô được khởi công xây mới trong giai đoạn 2013- 2015. Đây là các lô chung cư đã xây dựng trước năm 1975, có nguy cơ sụp đổ cao.


     
      Cảnh hỗn tạp trong chung cư tại Sài Gòn.

       
         Những vết bong tróc trên hành lang chung cư rớt xuống bất cứ lúc nào, 
đe dọa tính mạng người qua lại hàng ngày.

Đó là dự thảo kế hoạch cải tạo, xây dựng lại các khu nhà ở cũ bị xuống cấp ở TP.Sài Gòn vừa được Sở Xây dựng TP Sài Gòn đưa ra lấy ý kiến các sở ngành liên quan. Cụ thể, theo kế hoạch này, trong năm 2013, TP Sài Gòn sẽ hoàn thành bồi thường, “giải phóng mặt bằng” 20 lô chung cư, ảnh hưởng tới gần 3.000 gia đình dân (xin nói rõ giải phóng mặt bằng có nghĩa là phá dỡ hết nhà cửa cùng các công trình xây dựng cũ thành khu đất trống trơn như sân đá bóng để lấy đất làm công việc khác); khởi công xây mới 7 lô chung cư với quy mô 1.850 căn nhà (hay còn gọi là căn hộ). Năm 2014, hoàn thành bồi thường 18 lô chung cư (ảnh hưởng tới 465 gia đình dân); khởi công xây mới 22 lô chung cư, quy mô 3.287 căn nhà. Năm 2015, hoàn thành bồi thường 32 lô chung cư, ảnh hưởng tới 3.789 gia đình dân; khởi công xây mới 32 lô chung cư, quy mô 4.734 căn nhà.

Những chung cư sẽ bị di dời

Tôi nghĩ nhiều bà con ở nước ngoài có thể có nhà bà con anh em bạn bè ở Sài Gòn, biết rõ hơn rất cụ thể về từng lô chung cư sẽ được tháo dỡ, dân sẽ phải di dời đến khu tái định cư mới. Xin “kê khai” rõ ràng rành mạch như sau:

Trong năm nay (2013) sẽ di dời xong một số chung cư và khởi công xây dựng 14 chung cư gồm: chung cư 72-86 Trương Quyền, chung cư số 2 Nguyễn Gia Thiều, 148 Nguyễn Đình Chiểu - 125 Pasteur (Q.3), chung cư Trúc Giang, lô Y chung cư Hoàng Diệu, Ngô Văn Sở (Q.4), chung cư 489-509 Gia Phú, chung cư 73/18G/17 Hồng Bàng (Q.6), lô K-L-M-N-O Nguyễn Kim, lô A-F-G Ngô Gia Tự (Q.10), lô chữ và lô số chung cư Thanh Đa (Q.Bình Thạnh), chung cư 350 Hoàng Văn Thụ (Q.Tân Bình), chung cư 231/9 Lê Văn Sỹ (Q.Phú Nhuận).

Trong năm nay cũng sẽ hoàn tất di dời các gia đình dân để tháo dỡ bảy chung cư: 128 Hai Bà Trưng (Q.1), 206/1-34 Trần Hưng Đạo, Nguyễn Văn Sửu (Q.5), lô A-B-C Phạm Thế Hiển và Bình Đông (Q.8), 319 Lý Thường Kiệt (Q.11), 40/1 Tân Phước (Q.Tân Bình); bồi thường và di dời các hộ dân tại bảy chung cư khác: bốn lô tại chung cư Cô Giang, chung cư Quốc Thanh (Q.1), 8/11 lô tại chung cư Nguyễn Thiện Thuật (Q.3), lô A-B-C chung cư Tôn Thất Thuyết (Q.4), 194 Đỗ Ngọc Thạnh, 3/1-13 và 23/1-17 Phù Đổng Thiên Vương (Q.5), lô K-T-S-U-V-X-Y chung cư Ngô Gia Tự.

Riêng hai chung cư 481 Lê Văn Sỹ và 18 Phạm Văn Hai (Q.Tân Bình) thì năm 2013 sẽ hoàn tất di dời các gia đình dân để tháo dỡ.

Có làm được không?

Như thế, bạn đọc đã có thể thấy được một núi công việc trong ba năm. Tính riêng trong năm 2013, chỉ còn 3 tháng nữa là hết năm, với bằng ấy chung cư phải tháo dỡ rồi bồi thường, tìm chỗ tái định cư cho hàng ngàn gia đình, rồi xây dựng tới 14 chung cư mới. Không hiểu các ông ở Sở Xây Dựng TP Sài Gòn, làm cách nào để có thể hoàn thành kế hoạch ấy? Chỉ cần một vài chung cư thôi đã là quá sức của Sở Xây Dựng rồi và cũng là vấn đề đau đầu với cả Ủy Ban Nhân Dân Thành phố. Các ông có nhìn thấy trước mắt cái chung cư ọp ẹp, nguy hiểm nhất Sài Gòn là chung cư 727 Trần Hưng Đạo không? Công việc làm từ gần mười năm trước, di dời một số dân, đền bù rồi để đó, cho tới nay, chung cư 727 Trần Hưng Đạo vẫn thế. Bao nhiêu trở ngại và bất ngờ xảy ra, mọi chuyện vẫn dậm chân tại chỗ. Tôi chỉ nói đến một thí dụ điển hình, chưa bàn tới những chung cư khác mà các vị muốn tu bổ, sửa chữa cũng chưa làm được.

Tất cả đều nằm trên giấy, trên lời đồn đại, nay tháo mai dỡ mốt đền bù… Chắc là các vị làm ra “kế hoạch” để hỏi ý kiến các ban ngành cho vui vậy thôi, cho có làm, ra cái điều có chú trọng tới dân chung cư có thể chết bất đắc kỳ tử vì nhà xây dựng quá lâu, nếu có sụt lún, vỡ toác thì các vị cũng… hết trách nhiệm vì đã có kế hoạch rồi nhưng không ai chịu làm, không ban ngành nào chịu giúp. Các vị khôn thật. Nhưng các vị có hiểu được nỗi lòng của dân ở chung cư không? Kế hoạch của các vị không thực hiện được chỉ mang lại nỗi thấp thỏm lo lắng cho dân ở chung cư mà quý vị liệt kê thôi.

Nỗi ám ảnh của dân chung cư

Dân chung cư, đầu tiên còn có nhiều gia đình bấn xúc xích vì cảnh phải lìa bỏ nơi làm ăn sinh sống, đi lại, học hành từ mấy đời nay. Nhưng bây giờ dường như người ta chán rồi, đọc báo thấy vậy thì bàn tán và người dân nghi ngờ các ông không làm nổi. Tuy vậy, đã là cuộc sống thiết thân, cũng chẳng ai thờ ơ được, ngoài mặt là vậy nhưng tự trong đáy lòng vẫn có nỗi ám ảnh do những kế hoạch của các quan mang lại.

Người dân đã không được sống yên ổn với giá cả, với suy thoái, với xăng dầu điện nước, với cướp bóc vây quanh, lại thêm một ám ảnh về cảnh phải bỏ nhà đi chỗ khác. Dù từ nay đến cuối năm chỉ còn 3 tháng nữa, nhưng biết đâu đấy, có một phép màu nào, các ông đến dỡ nhà thật thì làm sao? Có khi dỡ nhà, đưa dân đi chỗ khác rồi lại để đấy thì sao? Đi đâu, tất nhiên là không thể tái định cư giữa trung tâm thành phố rồi, không thể lấy cái sân banh Cộng Hòa hay sân Tao Đàn, sân Hoa Lư cho dân tái định cư được. Tất nhiên là phải ra tuốt ngọai ô rồi. Hóc Môn, Bà Điểm, Thủ Đức hay tuốt sau quận 7, quận 8…? Sang đó rồi làm gì để sống? Con cái đang học hành sẽ ra sao, điện nước sẽ thế nào, đường xá ngập lụt bao nhiêu phân, trộm ngày cướp đêm không tránh khỏi với những con đường tối vắng… Nỗi ám ảnh về những khu tái định cư, về những phiền toái rắc rối trăm thứ đang âm ỷ trong lòng người dân sống trong cả 70 cái chung cư mà các ông Sở Xây Dựng đang định phá đi xây lại. Phá đi mất bao lâu và xây lại mất bao nhiêu năm, rồi bao giờ lại được trở về với “đường xưa lối cũ”?

Tình cảnh hiện tại của người dân sống ở chung cư cũ

Tôi là một người dân sống trong cái chung cư cũ từ hơn hai mươi năm nay, chắc nhiều vị đã biết. Trong số 8/11 lô được “giải phóng” chắc sẽ có lô tôi đang ở. Tôi không kể lể nhiều về cái sự mất nhà, mất tất cả ở cư xá Chu Mạnh Trinh xưa, phải về ở căn nhà trên chung cư. Trải qua vài năm ở chung cư, tôi lại thấy mình may mắn hơn khi còn phải lang thang đi ở trọ hết xóm chợ Bàn Cờ đến khu chợ An Đông và còn hơn nhiều người chui rúc trong những khu nhà lá, khu ổ chuột, khu gầm cầu. Được ở chung cư đã là “sang” rồi, tôi chẳng mong gì hơn nữa. Tôi không kêu ca, phàn nàn gì vì những tiện nghi quanh mình. Tôi chỉ nói đến những mối hiểm nguy rình rập cho tất cả bà con xung quanh mình, có lẽ cũng phản ảnh được một phần tình trạng chung của những người dân đang sống trong các chung cư có tên trong 70 chung cư có tên trong “sổ đoạn trường” của các ông trong Sở Xây Dưng Sài Gòn như đã liệt kê ở trên.

Chung cư tôi đang sống được chính phủ Sài Gòn xưa xây dựng từ năm 1968, sau Tết Mậu Thân, xóm nhà bên kia đường Phan Đình Phùng, nay đổi tên thành đường Nguyễn Đình Chiểu bị cháy hết. Chính phủ bèn xây chung cư này bên đường Nguyễn Thiện Thuật, và chung cư mang cùng tên ở trong khu gọi là Khu Bàn Cờ. Những gia đình bị cháy được mua nhà trả góp ở chung cư này. Căn nhà tôi đang ở là của ông chú tôi đã mất, năm 1975 các con đều “ù té” chạy qua Mỹ. Ngay từ khi tôi mới được dọn về đây ở, đã thấy tường vách, trần nhà loang lổ vì thấm nước từ các căn nhà lầu trên xuống. Vài năm sau, đôi khi vôi trên trần nhà rớt lộp độp xuống giữa nhà. Tôi đã phải tốn công sửa lại, làm một lớp nhựa che kín trần nhà và ông Đằng Giao cho thợ lên dán giấy quanh tường, trông cứ như vách gỗ, cũng “coi được” lắm.

Nhà thường chỉ có 2 người nên cũng “rộng rãi” chán. Nhưng cứ đóng cây đinh vào tường treo tranh ảnh là thấy xi măng mủn ra như cát. Thỉnh thoảng nhà trên lầu để quên nước, chảy lênh láng, nước tí tách nhỏ xuống nhà, tường lại thấm nước ướt sũng. Nhưng nguy hiểm nhất là ngay trên lối đi lại hàng ngày ngoài hành lanh trước cửa, từng mảng bong tróc, thỉnh thoảng một đống vôi vữa xi măng rớt xuống ầm ầm, cái đầm hành lang bằng xi măng cốt sắt, nay đã lỗ chỗ, lắm chỗ há mồm rộng hoác khoe vài cái cọc sắt đen sì bị thời gian ăn mòn như ghẻ Tàu. Cái miệng xi măng lúc nào cũng có thể rớt xuống từng mảng lớn, đe dọa mọi người qua lại thường xuyên và nhất là lủ trẻ nhỏ vẫn thường chơi đùa trong hành lang. Nó đã từng rớt vài lần giữa ban ngày, nhưng tôi không hiểu tại sao vẫn chưa có ai bị thương hoặc lăn ra “đi tàu suốt”. Mỗi lần ra cửa hóng gió, mọi người đều phải cẩn thận chú ý đứng vào khoảng nào tạm coi là an toàn nhất. Chỉ cần nhìn vào cây lõi sắt đã hoen dỉ, có chỗ thanh lõi sắt chỉ còn lại một nửa cũng có thể biết toàn bộ cốt lõi của chung cư này như thế nào. Chúng tôi thường ví nó long lay như hàm răng ông lão tám mươi.

Cuộc sống chung cư ban đầu còn sống chung với mấy anh xì ke ma túy, chích choác ngay đầu lối đi, trộm cắp vặt cũng xảy ra thường xuyên. Nhưng mấy năm sau này, các nhà ở cùng khu phố, chung tiền lại mắc đèn sáng choang ngoài hành lang nên mọi tệ nạn cũng đỡ dần. Trên những con đường nhựa vào chung cư thì bị lấn chiếm vô tội vạ. Lấn hết phần hè đường chưa đủ, lấn chiếm luôn xuống đường, đủ các thứ hàng quán mọc lên, cuộc sống trở nên hỗn độn.Trong nghị định của chính phủ cấm ngặt việc này, nhưng nghị định chỉ là những trang giấy, người thi hành “vướng mắc” gì đó không thi hành cũng huề cả làng. Chỉ cần đi từ cửa Trụ sở Ủy Ban ND Phường xuống vài chục thước là quý vị có thể thấy ngay những cảnh nhếch nhác này. Nhà ôm cột điện, ngã ba đường là quán cà phê, hàng quán lấn ra tới giữa đường, có khi chiếc taxi đi không lọt, đành xuống đi bộ…

Mặc dù nhiều gia đình đã phản ảnh tình trạng nguy hiểm này đến phường xã từ nhiều năm qua rồi, nhưng mọi chuyện đều trôi vào lãng quên, cho đến nay vẫn vậy. Có lẽ cơ quan có trách nhiệm còn đợi đến khi nào có người bị mảnh trần rơi trúng đầu nằm lăn quay ra mới chú ý đến chăng? Cũng như ngay trong tuần này một vụ sát hại người dã man đã đã xảy ra tại chung cư Nguyễn Kim. Kẻ giết người và người bị hại cùng ở trong một chung cư. Một chung cư chẳng khác gì chung cư tôi đang ở.

Cái chết được báo trước ở chung cư Nguyễn Kim

Một cô gái đang độ tuổi trăng tròn là nạn nhân của kẻ cuồng sát tại chung cư Nguyễn Kim, P7 Q10 TPSài Gòn vào chiều ngày 4/10 vừa qua. Hung thủ là Nguyễn Quang Mạnh (26 tuổi) một thanh niên lêu lổng, nghiện ngập ở căn nhà số 324 của chung cư. Mạnh nghiện đã nhiều năm. Không việc làm, nhà nghèo cha mẹ suốt ngày bù đầu vào cuộc mưu sinh, Mạnh sống như thú hoang giữa rừng. Kiếm được tiền, Mạnh mua thuốc để “phê”. Bà con chung cư Nguyễn Kim rất phiền lòng về Mạnh. Nếu không có biện pháp cách ly, đưa Mạnh vào trung tâm cai nghiện chắc chắn sẽ có ngày xảy ra án mạng. Và cái ngày đó đã đến…

       
Chung cư Nguyễn Kim, nơi vừa xảy ra vụ giết người tàn ác. 
Vòng tròn trắng là căn nhà chị Nguyệt bị sát hại.

15h30 chiều ngày 4/10 vừa qua, chị Lê Thị Hồng Liên (34 tuổi) nhà ở tầng 2 chung cư, đi làm về Trong lúc đang sum họp cùng gia đình, có tiếng gõ cửa. Ngỡ là người mang hủ tíu, chị mở cửa thì bất ngờ Mạnh xuất hiện với con dao nhọn trên tay. Mạnh uy hiếp đòi chị đưa cho hắn 500.000đ.

     
      Bà Lê Thị Hồng Liên sau khi nộp cho tên cướp 400 ngàn,
thoát chết kể lại sự việc kinh hoàng.

Chị Liên chưa kịp phản ứng, hắn đã vung dao đâm chị. Nhát đầu hụt, nhát sau ngang thắt lưng nhưng chưa gây thương tích. Chị Liên chụp vội chiếc ghế thủ thế cũng vừa lúc con chị sợ quá khóc thét lên. Mạnh bước ra không quên buông lời đe dọa : “không được báo công an, tao sẽ trở lại để lấy tiền”.

Mạnh bỏ đi được một lúc lâu rồi quay lại. Cả nhà chị Liên cùng nhau chặn cửa. Mạnh vừa đập cửa vừa đòi tiền. Chị Liên năn nỉ đừng xô cửa nữa và đưa qua khe cửa 400.000đ. Chị Liên kể: “Nó không lấy”. Nó nói phải đủ 500.000đ mới được, tôi lại phải xuống nước năn nỉ: “chị chỉ còn bấy nhiêu thôi”. Thế là nó cầm tiền và không quên…“ghi nợ”. Còn 100 đó hôm nào phải trả. Cấm không được báo công an. Nếu báo tao giết cả nhà…

Tiếp tục gây án mạng ngay sau đó

Mạnh bỏ đi đến một căn nhà gần đó. Gõ cửa. Thấy là người quen ở chung cư, trong nhà mở cửa. Cánh cửa vừa mở, Mạnh chĩa dao vào bụng cô gái đòi tiền. Cô gái – là nạn nhân Lê Mỹ Nguyệt – nói “nhà không có tiền”. Thế là hắm đâm nhiều nhát vào người Nguyệt. Bé Lê Mỹ Phụng sợ quá chạy vào buồng trong đóng cửa trốn. Sau khi bị đâm, chị Nguyệt chạy ra phía cửa sổ tri hô. Máu tuôn xối xả rơi xuống cả tầng dưới.

     
     Di ảnh chị Lê Thị Nguyệt bị sát hại khi vừa sanh được 19 ngày.

Tên sát nhân lôi Nguyệt vào trong đâm thêm nhiều nhát cho đến chết rồi ung dung trở về căn nhà của hắn trốn trên gác lửng. Lúc này cả chung cư náo loạn. Công an xuất hiện, tóm gọn tên giết người.

Mọi người vào nhà Nguyệt. Không ai cầm lòng được khi được biết Nguyệt đang trong thời kỳ ở cữ vì mới sanh con được 19 ngày.

Cái chết được báo trước chẳng may rơi vào Nguyệt. Hung thủ không phải người xa lạ mà chính là cư dân trong chung cư. Người dân nơi đây hết sức bàng hoàng. Điều họ lo lắng, tại chung cư này vẫn còn ít nhất 2 con nghiện đang nhởn nhơ. Liệu máu có còn tiếp tục đổ ở các chung cư khác nữa hay không? Thật ra tình trạng này cũng vẫn có ở các chung cư khác, nếu không là con nghiện thì cũng là những người mang bệnh tâm thần, những đại ca, đầu gấu, những đàn anh giang hồ hảo hớn cát cứ lộng hành, người dân sợ bị trả thù nên đành ngậm miệng làm ngơ cho yên.

Hãy nhìn lại những gì xảy ra ở chung cư 727 Trần Hưng Đạo

Người dân ở chung cư Sài Gòn, không ai không nhớ tới cái chung cư có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào, một chung cư thuộc loại nguy hiểm nhất thành phố. Thế mà từ mười năm nay, các ông “nhà nước thành phố” dù đã tốn rất nhiều công phu cũng vẫn hoàn toàn “vũ như cẩn”.

     
      Hình ảnh chung cư cũ nát 727 Trần Hưng Đạo.

Tôi nhớ cách đây khoảng 7-8 năm, tôi đã đến chung cư này để tìm một ông đánh vi tính thuê cho mấy cuốn sách tôi không làm kịp. Ông này vốn là thứ công chức quèn, “ăn theo giải phóng” từ Bắc vào Nam, làm thư ký cho một sở rồi vài năm sau về hưu. Cho nên tôi không rõ là căn nhà của ông được nhà nước lúc đó “phân” cho ở hay ông cũng là dân đi “vồ”, cứ thấy nhà không chủ là nhào vô ở hay nhà ông thuê lại của một anh cha căng chú kiết nào đó. Nhà ông ở trên lầu 3. Là dân ở chung cư đã quá quen với cái sự nhếch nhác rồi, vậy mà vừa bước chân vào đây tôi đã thấy sợ, cứ như lạc vào căn nhà ma. Ở mặt tiền, nhiều hạng mục đã bong tróc xi măng, lòi cả lõi sắt. Bên trong chung cư là cảnh hoang tàn, xập xệ, cầu thang sắt thoát hiểm từ lâu hoen rỉ, mục nát không ai dám đi. Càng lên càng thấy khung cảnh lờ mờ, chỗ nào cũng loang lổ vết bong tróc. Tôi đã từng tường thuật với bạn đọc từ những ngày đó. Đến nay mọi thứ còn tồi tệ hơn. Tôi không dám bén mảng đến chung cư này nữa, chỉ xin trích dẫn một đoạn ngắn của một người dân sống trong chung cư đó kể lại:

Chị Bùi Thị Vân, sống ở tầng ba, cho biết trần nhà và tường trong căn nhà của chị nhiều chỗ bị nứt, bê tông rớt liên tục. Hệ thống thoát nước cũng bị hư hỏng. Chị ngao ngán cho biết: “Sống ở đây không chỉ sợ nhà sập mà còn bất an vì những người nghiện thường xuyên vào chích ma túy công khai. Ban đêm tụi tôi chẳng dám ra khỏi nhà, thậm chí ban ngày cũng hạn chế đi một mình lên các tầng cao hơn, nơi phần lớn hộ dân đã di dời”.

Theo Công ty Công ích quận 5, chung cư 13 tầng trên được xây dựng từ năm 1960, vốn là khách sạn cao cấp. Sau năm 1975, đây là nơi sinh sống của 530 gia đình dân. Đến năm 2008, khi chung cư xuống cấp trầm trọng, UBND TP chỉ thị cho các đơn vị liên quan khẩn trương di dời dân ra khỏi chung cư. Nhưng đến nay vẫn còn hơn 100 gia đình dân đang sống tại đây, chưa kể một số hộ đã di dời lại quay trở lại “tái chiếm”. Ngoài ra còn nhiều người bên ngoài cũng vào thuê ở tạm.

Không đủ năng lực tài chính cũng nhào vô thực hiện dự án

Nguyên nhân chậm di dời dân khỏi chung cư 727 Trần Hưng Đạo để xây mới là do chủ đầu tư không đủ tiền thực hiện dự án. Ông Nguyễn Thành Phương, Giám đốc Công ty Công ích quận 5, cho biết: Ngoài dự án này, công ty (trước đây là Công ty Phát triển Nhà quận 5) còn được giao đầu tư xây dựng chung cư Soái Kình Lâm và hai chung cư thương mại (dự án Tản Đà - Hàm Tử và dự án 107-107B Trần Hưng Đạo). Tổng mức vốn đầu tư của cả bốn dự án lên tới 4.091 tỉ đồng.  Theo tính toán của Sở Tài chính, để thực hiện bốn dự án này, Công ty Công ích quận 5 phải có hơn 600 tỉ đồng, vượt quá vốn điều lệ hiện có (chỉ hơn 90 tỉ đồng)!

Bỏ qua những chi tiết lỉnh kỉnh của chủ đầu tư và nhà nước, chỉ biết toàn bộ cái gọi là dự án đó “đánh trống bỏ dùi”. Ra lệnh cho người dân di dời rồi lại để đấy nên mới có chuyện nhiều gia đính đã ra đi nhưng thấy nhà mình vẫn chưa bị tháo dỡ, nhiều người dân cũng còn ở lại nên lại trở về “tái chiếm”. Tình trạng lơ lửng đó kéo dài từ mười năm nay, cái “răng bà lão” của thành phố vẫn cứ long lay như cũ. Chưa biết bao giờ nó rụng. Ấy vậy mà các ông ở Sở Xây Dựng Thành Phố lại mới đưa ra cái kế hoạch làm lại tới 70 cái chung cư từ nay đến năm 2015 thì đáng sợ thật. Các ông làm kế hoạch thật hay đùa với dân đây?

Đến chung cư cao cấp cũng khổ

Nói về chung cư cấp cao và chung cư cấp thấp ở TP Sài Gòn và Hà Nội thì còn khối chuyện để cười ra nước mắt. Ngay chung cư cao cấp cũng khổ, bài báo có hạn, tạm thời tôi chi xin nêu một ý kiến của ông Trần Tiến đang ở chung cư cao cấp thổ lộ trên báo VNNet:

“Tôi ở căn hộ Sky Garden 3 Phú Mỹ Hưng, phải nói là rất tệ, hệ thống cửa từ không hoạt động, người ra vào tự nhiên, ngày nào về cũng phải thu gom các tờ quảng cáo đút qua khe cửa, rất nhiều người nuôi chó từ chó to (berge) đến chó nhỏ, chúng sủa và đi "vệ sinh" vô tư ở công viên, không khác gì trại nuôi chó. Lỡ để quên đồ trên xe khi gởi tầng hầm như nón bảo hiểm, áo mưa...là bị bốc hơi, mỗi block có hai thang máy, nhưng có khi cả hai thang máy đều gặp trục trặc hay mất điện, phải cuốc bộ lên mấy chục tầng, còn một thang máy trục trặc hỏng hóc là chuyện thường xuyên.Thôi chán quá không muốn kể nữa!”.

Ông Trần Tiến đã chán không muốn kể thì chắc độc giả của tôi cũng chán, nên tôi không dám kể thêm dù căn nhà tôi đang ở cũng nằm trong kế hoạch được tháo dỡ, di dời trong năm nay hoặc hai năm nữa, tức là năm 2015, là hạn cuối cùng. Nhưng tôi vẫn cứ tin rằng cho đến khi tôi “hai năm mươi” vẫn còn “ngồi nhìn nải chuối và con gà khỏa thân” ở cái chung cư này./.

Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang