2015/08/10

CHỐNG CỘNG, MỘT THÔI THÚC YÊU NƯỚC HAY MÙ QUÁNG HẬN THÙ?

CHỐNG CỘNG,
MỘT THÔI THÚC YÊU NƯỚC
HAY MÙ QUÁNG HẬN THÙ?

ĐỊNH NGUYÊN

Chống cộng là sinh hoạt nổi bật nhất của người Việt tỵ nạn. Tinh thần chống cộng nơi người Việt tỵ nạn, tuy tiềm tàng nhưng còn rất mạnh. Tiếc là không có ai đủ tài để khơi dậy và kết hợp tinh thần ấy nên sự chống cộng tuy ồn ào nhưng không có hiệu quả. Ngoài những hoạt động chống cộng có sách lược của các đảng phái, các tổ chức chính trị, điều người viết muốn lạm bàn cùng đồng hương các giới về sự chống cộng của một số ít hội đoàn, đặc biệt nhất là sự “chống cộng tự do” của những cá nhân trong tập thể người Việt nước ngoài.  Họ chống cộng theo bản năng, không cần có đồng minh, không cần để ý đến thời thế, đến tình hình chính trị trong giai đoạn cực kỳ phức tạp như hiện nay.  “Con người là một con vật chính trị” (Aristote), ai cũng có quyền có lập trường và hành vi chính trị.  Nhưng thể hiện hành vi chính trị mà lại không có ý thức chính trị đi kèm chỉ là sự tự hại.  Không ai phản đối sự chống cộng nhưng cách hô hào và mục đích của họ có thể làm cho người ta nghĩ họ đang bị dẫn dắt bởi sự hận thù, không phải là sự thôi thúc của lòng yêu nước.

Chống cộng như thế có thể bị phản ứng ngược.

Năm ngoái, tôi đã viết bài “Loạn” để nói lên một khía cạnh phức tạp của sự chống cộng: sự chụp mũ bừa bãi và vô tội vạ đến nổi dân Việt tỵ nạn, những ngưới có máu mặt, ít còn ai là người Quốc Gia. Nay, tôi nêu lên vài khía cạnh vô lý khác của sự chống cộng: chống cộng có định hướng, đó là “định hướng Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và Cờ Vàng”.  Theo “định hướng” nầy, ai chống cộng mà không tôn xưng VNCH và vinh danh lá Cờ Vàng là “chống cộng cuội”!  Mời quý vị đọc: “Bao lâu những người cs hay lính vc dù là cảnh tỉnh (phản tỉnh?) hay hồi chánh không có một lời ăn năn thống hối đối với Quân Dân Cán Chính VNCH cũng như chào kính Lá Cờ Vàng thì người Việt Quốc Gia tỵ nạn cs hải ngoại phải tẩy chay bằng mọi giá”!  Dù chỉ là phát biểu của một cá nhân tôi đọc được trên “net” không đáng quan tâm, nhưng ý tưởng như thế xuất hiện khá phổ thông trong sinh hoạt chống cộng hiện nay.  Người Việt hải ngoại có nhiều thành phần hiểu biết cao thấp khác nhau.  Không ai ngạc nhiên khi những phát biểu như thế từ những người cực đoan, kém hiểu biết chính trị.  Điều lạ lùng là có những nhà văn, nhà báo có bề dày về chuyện viết lách; những trí thức có bằng cấp cao ngất ngưỡng; những cựu sỹ quan viên chức cao cấp của VNCH…lại cứ ra rả như thế quanh năm suốt tháng. 

Chống cộng là sự nghiệp chung của dân tộc Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Để sự nghiệp nầy ngày càng phát triển và sinh hoạt lâu dài, có hiệu quả, cần phải có sự kết hợp các thành phần dân tộc và các thế hệ già trẻ. Nếu chỉ có nhóm chống cộng theo “định hướng” nói trên (không phải tất cả cựu quân cán chính VNCH) thì sự chống cộng đó không có sức mạnh tổng thể và sẽ đi vào ngõ cụt. Khi những “người con Cờ Vàng” quân cán chính VNCH như họ khuất bóng, còn ai để chống cộng!?
Những lời đanh thép trên, nếu được phát biểu trước năm 1975, khi VNCH còn tồn tại, sẽ được nhiều người đồng tình vì có tính cảnh giác cao trước một kẻ thù xảo quyệt.  VNCH không còn, quân cán chính chỉ còn lại một lớp người gần đất xa trời làm được gì mà bảo người ta phải “ăn năn thống hối” với mình?!  Còn Lá Cờ Vàng?  Cờ Vàng tự nó không phải thần thánh, xuất hiện ở đâu thì ở đó có chính nghĩa.  Nó cũng theo mệnh nước nổi trôi, cùng quân dân cán chính phiêu bạt bốn phương trời.  Hiện nay, nếu có chút suy tư thì sẽ thấy sinh mệnh của nó gắn liền với số phận của những cựu quân cán chính VNCH, một thành phần đã quá già nua, lại đang chia năm xẻ bảy, đang tố cáo chưởi bới nhau vung vít, đang sống nhờ đất khách thác chôn quê người.  Muốn Cờ Vàng mãi mãi tồn tại với dân tộc, hãy làm cho nó có ý nghĩa cao hơn, được nhiều thành phần dân tộc chấp nhận hơn.  Cứ buộc mọi người tuyên dương Cờ Vàng trong khi “những người con Cờ Vàng” thì bôi bẩn nó bằng những cuộc biểu tình “ruồi bu” không khác gì sơn đông mãi võ (ngoại trừ những cuộc biểu tình chính đáng, có quy mô lớn chống các phái đoàn và lãnh đạo cộng sản…).  Tôi nhớ cách đây khá lâu, tại nam California, một tốp mười mấy người trương Cờ Vàng biểu tình chống một ca sỹ (TN?) mang giây nịt có hình ngôi sao.  Rồi những lần chống ca sỹ quốc nội trình diễn tại hải ngoại, cha me ông bà thì trương Cờ Vàng biểu tình chống đối bên ngoài trong khi con cháu lại mua vé vào xem bên trong.  Những sự việc như thế xẩy ra hoài, chẳng ra thể thống gì cả.  Nó có thể tạo ra một khoảng cách giữa hai thế hệ trong các gia đình/cộng đồng Việt Nam. Đã có một số giới trẻ khi nghe “chống cộng” và thấy Cờ Vàng họ nhún vai, tuy không dám ra mặt chống đối nhưng đối với họ đó là “old fashion” của những “old men”!  Càng tung hô và buộc người khác tôn trọng Cờ Vàng trong tình trạng phản chính trị đó, kẻ thù càng vổ tay vui mừng.  VC là kẻ muốn người Việt Nam có ác cảm với Cờ Vàng, muốn biến sự nghiệp chống cộng của chúng ta trở thành phi chính nghĩa.  Những ai, bất luận thành phần nào, vô tình hay cố ý, làm cho tinh thần chống cộng trở nên một mớ hổn tạp bầy nhầy như thế đã tiếp tay đắc lực cho VC.  Đây không phải là một sự võ đoán hoặc chụp mũ mà là một sự thật, một sự thật mà chỉ có những kẻ cuồng tín hoặc kém hiểu biết, hoặc cả hai mới không thấy.  

Chống cộng là sự nghiệp chung của dân tộc Việt Nam, trong cũng như ngoài nước.  Để sự nghiệp nầy ngày càng phát triển và sinh hoạt lâu dài, có hiệu quả, cần phải có sự kết hợp các thành phần dân tộc và các thế hệ già trẻ.  Nếu chỉ có nhóm chống cộng theo “định hướng” nói trên (không phải tất cả cựu quân cán chính VNCH) thì sự chống cộng đó không có sức mạnh tổng thể và sẽ đi vào ngõ cụt.  Khi những “người con Cờ Vàng” quân cán chính VNCH như họ khuất bóng, còn ai để chống cộng!?

Trong nước, có khá nhiều đoàn thể và cá nhân chống chế độ CSVN.  Thế mà ở hải ngoại nhóm người đó cho rằng họ “chống cộng cuội”!  Đơn giản vì họ không “ăn ăn thống hối đối với Quân Dân Cán Chính VNCH cũng như không chào kính lá Cờ Vàng”!  Những người chống cộng theo “định hướng” nầy không biết rằng người Việt Nam trong nước chống chế độ cộng sản hiện nay là muốn thay thế một thể chế khác tốt đẹp hơn, họ đâu chống cộng để tái dựng VNCH?  Có thể họ không hoặc chưa biết lá Cờ Vàng thì làm sao buộc họ “chào kính”?!  Vả lại, đấu tranh ở trong nước trước nanh vuốt của cộng sản sắt máu và tàn bạo, nếu muốn sống và tiếp tục đấu tranh, họ đâu dám “chào kính lá Cờ Vàng”, dù khi họ ra hải ngoại.  Thật là những ý nghĩ điền rồ của những con người thất chí và hoang tưởng.

Mới đây, chuyện nhà báo Điếu Cày lại được hâm nóng khi ông ta xuất hiện ở San Jose, California. Cũng như lần trước tại Washington DC. (20/11/2014), lần nầy ông ta cũng bị buộc phải trả lời câu hỏi “Hồ Chí Minh là người yêu nước, là tội đồ dân tộc, hay yêu nước nhưng lầm đường”?  Ông ta không trả lời trực tiếp theo mong muốn của nhóm cực đoan Cờ Vàng nên lại bị lên án và chống đối gay gắt.  Cái trò tố cáo “Điếu Cày ra hải ngoại để nội tuyến” lại xuất hiện.  [Vừa qua, tin tức báo chí cho rằng xác Hồ Chí Minh tại Ba Đình không phải là người Việt Nam mà là người Tàu (Hồ Tập Chương?).  Vậy thì Hồ Chí Minh người Việt ở đâu?  Biểu Điếu Cày nhận xét về Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nào?].  Điếu Cày không muốn bình luận về cá nhân ông Hồ là quyền của ông ta.  Khác với người miền Nam, người miền Bắc (như Điếu Cày) chịu ảnh hưởng nặng nề nhân vật Hồ Chí Minh nầy, không thể một sớm một chiều mà từ “ông” sang “thằng”, từ “bác Hồ vô vàn kính yêu” sang “tên tội đồ dân tộc” được!  Buộc những người sinh ra, lớn lên, hấp thụ giáo dục dưới chế độ cộng sản suy nghĩ và phát biểu như mình sao được.  Ép những người đã từng phục vụ chế độ cộng sản phải chưởi bới hạ nhục lãnh đạo khai sinh chế độ đó mà một thời họ đã tôn xưng chỉ là một sự truy bức chính trị, vừa không cần thiết cho đại nghiệp chống cộng chung, vừa chứng tỏ kẻ ép buộc có nhân cách kém, có sự hiểu biết thấp, và đặc biệt có bản chất quân phiệt độc tài không thích hợp cho sự đấu tranh đòi tự do dân chủ.  Qua thời gian làm việc, Điều Cày đã thấy được chân tướng xấu xa của kẻ cầm quyền.  Ông ta trở lại chống đảng CSVN, chống đường lối và chủ trương của chế độ nầy, đó là những gì người Việt Nam chúng ta đang cần.  Cùng nhau, tìm cách để giải thể chế độ CSVN quan trọng và cấp bách hơn những lời chưởi bới và hạ nhục nhân vật Hồ Chí Minh của bất cứ ai, kể cả nhân vật Điếu Cày.  (Bạn sẽ phản biện rằng Hồ Chí Minh là linh hồn, là thần tượng của chế độ CSVN, đánh sập thần tượng đó thì chế độ CSVN sẽ tiêu vong?  Hồ Chí Minh đã bị lên án, chưởi bới, hạ nhục…đã mấy chục năm rồi thế mà CSVN vẫn còn đó, bạn không thấy sao?  Cứ tiếp tục nghiên cứu và viết về tội ác của ông ta một cách nghiêm túc và lịch sự nhưng đừng nghĩ rằng đó là điều quan trọng nhất để giải thể cộng sản.  Đặc biệt, không nên dùng những lời lẽ nặng nề hạ cấp để chưởi bới ông ta vì làm như thế tuy có thể “tự sướng” nhưng sẽ phản tác dụng).

Không ai tin chính sách ve vãn CSVN của Mỹ là quan tâm đến số phận của dân tộc Việt Nam, lại càng không phải “thương” tập đoàn lãnh đạo cộng sản. Họ muốn có đồng minh để chống Tàu, kẻ đang thách thức vị thế của họ tại Đông Nam Á và cả trên thế giới. Hy vọng, qua việc nầy, dân tộc Việt Nam sẽ được “hưởng lộc”, thoát được nạn Bắc thuộc. Nếu Mỹ không can thiệp và thoả hiệp, CSVN vẫn còn đó và nguy cơ mất nước rất lớn. Nếu Mỹ can thiệp và thoả hiệp mà không cần thay đổi thể chế chính trị liền thì CSVN vẫn còn đó nhưng nguy cơ mất nước không còn. Cả hai trường hợp đều xấu, nghĩa là CSVN vẫn còn đó, nhưng trường hợp thứ hai ít xấu hơn nhiều. Tôi tin hầu hết dân Việt trong cũng như ngoài nước đều mong điều nầy xẩy ra. Riêng nhóm chống cộng có “định hướng” thì không, họ đòi lật đổ CSVN với bất cứ giá nào! Với sức mạnh quân sự vô song, Mỹ vẫn không nghĩ đến việc lật đổ CSVN. Họ, một số người chống cộng “có định hướng” ở hải ngoại không có tấc sắt trong tay, không có mảnh đất cắm dùi, lại “đương kiêm tỵ nạn” xa cả nửa vòng trái đất thế mà cứ lớn tiếng đòi “tiêu diệt cộng sản”, tái dựng VNCH cho bằng được!
Ngoài sự chống đối và chụp mũ tứ tung những người quốc gia, những nhà đấu tranh trong nước, họ chống đối và chụp mũ luôn cả Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam.  Vừa qua, song song với việc Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN thăm viếng Hoa Kỳ; Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius đã đến nói chuyện với cư dân Việt tại Nam California và San Jose.  Tại những nơi nầy ông ta từ chối đứng dưới lá Cờ Vàng nên bị chống đối.   Bài báo “Ông Đại Sứ Hai Chiều” của Duyên Lãng Hà Tiến Nhất và bài “Hãy Tống Cổ Tên Đại Sứ Mỹ Chối Bỏ Cờ Vàng Ted Osius Ra Khỏi Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam” ký tên Người lính già Oregon, với các danh vị và khẩu hiệu kèm theo: cựu sĩ quan VNCH, đương kiêm tỵ nạn tại Mỹ (đương kim tỵ nạn tại Mỹ?), quyết bảo vệ Cờ Vàng chống VC cho đến hơi thở cuối cùng… là nổi bật nhất cho sự chống đối nầy.  Theo Duyên Lãng HTN, ông Ted Osius vừa là Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam vừa là Đại Sứ Việt Nam tại Mỹ, một “người Mỹ gốc VC”, ý nói Đại Sứ Mỹ làm tay sai của VC!  Duyên Lãng HTN nghĩ rằng, Mỹ cũng như Đại Sứ Mỹ cũng phải chống cộng theo “định hướng VNCH và Cờ Vàng” như ông ta và “đồng chí” của ông ta chăng? Sau khi rút khỏi Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975, Mỹ trở lại bang giao với Việt Nam là để khôi phục chế độ VNCH và Cờ Vàng chăng? Đúng là chuyện “mơ giữa ban ngày”. Không hiểu gì về Mỹ, không thấy được tình hình hết sức phức tạp và nguy hiểm cho đất nước Việt Nam trước âm mưu thôn tính của kẻ thù phương Bắc mà cứ phóng tay chụp mũ, chụp mũ cả ông Đại Sứ Mỹ mới kinh.  Người lính già Oregon càng khiếp hơn, đòi tống cổ Đại Sứ Mỹ ra khỏi cộng đồng Việt Nam tại Mỹ”!  Cộng đồng Việt Nam là cái gì?  Là một “private property” hay một địa phương nào đó có người Việt sinh sống?  Nếu “private property” thì được, nhưng có dám “tống cổ” một viên chức cao cấp của Mỹ không?  Nếu là một địa phương có đông người Việt ở, những kẻ “đương kiêm tỵ nạn” ấy đang ăn nhờ ở đậu trong nhà người ta lấy tư cách gì mà đòi “tống cổ” ông chủ ra khỏi nhà? Người Việt Nam tại Mỹ có lãnh thổ và chủ quyền riêng chăng? Nếu không thì đúng là loạn ngôn, đúng là “Ếch nằm đáy giếng coi trời bằng vung”! 

Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau
(Kiều, Nguyễn Du)

Chống cộng và yêu Cờ Vàng kiểu mê sảng và vĩ cuồng như thế là bôi bẩn tinh thần chống cộng và Cờ Vàng rồi, làm sao thuyết phục được ai?!

Chống Đại Sứ Mỹ tức là chống chính sách Mỹ đối với Việt Nam và biển Đông.  Trước sự hung hăng độc chiếm biển Đông, khống chế toàn vùng Đông Nam Á của Trung cộng, ai cũng thấy Mỹ đang lôi kéo Việt Nam để cùng đối phó.  Người Việt trong cũng như ngoài nước đều mong muốn CSVN đi với Mỹ để thoát hoạ Hán hoá.  “Theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất đảng”.  Không phải đơn thuần vì xã giao mà Tổng Thống Mỹ phá lệ, tiếp Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN, một đảng độc tài toàn trị, tại phòng Bầu Dục, Toà Bạch Ốc.  Có thể đó là một sự tương nhượng về phía Mỹ, chấp nhận sự tiếp tục cầm quyền của Đảng CSVN để đổi lấy những thứ khác quan trọng hơn.  Ngoài việc đó, có thể Mỹ phải thoả mãn những đòi hỏi khác của CSVN trong đó có sự chống cộng và lá Cờ Vàng của người Việt tại Hoa Kỳ.  Ông đại sứ từ chối “chào kính” lá Cờ Vàng không phải ông ta ghét lá cờ đó mà như ông ta nói: “làm như thế tôi sẽ mất job”!  Đại sứ không thể đi ngược lại chính sách của chính phủ.

Không ai tin chính sách ve vãn CSVN của Mỹ là quan tâm đến số phận của dân tộc Việt Nam, lại càng không phải “thương” tập đoàn lãnh đạo cộng sản. Họ muốn có đồng minh để chống Tàu, kẻ đang thách thức vị thế của họ tại Đông Nam Á và cả trên thế giới. Hy vọng, qua việc nầy, dân tộc Việt Nam sẽ được “hưởng lộc”, thoát được nạn Bắc thuộc. Nếu Mỹ không can thiệp và thoả hiệp, CSVN vẫn còn đó và nguy cơ mất nước rất lớn. Nếu Mỹ can thiệp và thoả hiệp mà không cần thay đổi thể chế chính trị liền thì CSVN vẫn còn đó nhưng nguy cơ mất nước không còn. Cả hai trường hợp đều xấu, nghĩa là CSVN vẫn còn đó, nhưng trường hợp thứ hai ít xấu hơn nhiều. Tôi tin hầu hết dân Việt trong cũng như ngoài nước đều mong điều nầy xẩy ra. Riêng nhóm chống cộng có “định hướng” thì không, họ đòi lật đổ CSVN với bất cứ giá nào! Với sức mạnh quân sự vô song, Mỹ vẫn không nghĩ đến việc lật đổ CSVN. Họ, một số người chống cộng “có định hướng” ở hải ngoại không có tấc sắt trong tay, không có mảnh đất cắm dùi, lại “đương kiêm tỵ nạn” xa cả nửa vòng trái đất thế mà cứ lớn tiếng đòi “tiêu diệt cộng sản”, tái dựng VNCH cho bằng được!

Trong bài “Vai Trò Của Việt Nam Cộng Hoà Trong Sự Nghiệp Chống Cộng” tôi viết cách nay đúng hai năm (tháng 7 năm 2013) có đoạn: “…Liệu VNCH có còn đóng vai trò nào trong sự nghiệp chống cộng không?  Theo tôi, có!  Đó là tinh thần chống cộng triệt để; đó là giá trị tương đối của tự do dân chủ; đó là tinh thần yêu nước chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; đó là những giá trị thiêng liêng về văn hoá, thuần phong mỹ tục…của dân tộc mà VNCH tôn xưng và bảo vệ trong khi chế độ cộng sản miền Bắc (cũng như hiện nay) không có được.  Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là chống cộng không phải để khôi phục VNCH.  VNCH đã đi vào lịch sử.  VNCH là chế độ dân chủ do dân bầu lên, không phải là chế độ vương quyền, vua bị cướp ngai vàng phải bôn tẩu chờ ngày lấy lại ngôi báu.  Sau cộng sản, VN phải có một chế độ dân chủ tự do khác do dân bầu, bao gồm những giá trị của VNCH hay hơn thế nữa, tuyệt đối không thể có một VNCH tái sinh với các cấp lãnh đạo và quan chức cũ.  Các lãnh đạo cao cấp của VNCH phần lớn đã qua đời, số ít còn lại đã già nua bệnh tật, ngay cả hàng ngũ nòng cốt là các sỹ quan cấp Tá, cấp Uý cũng đã trên dưới bảy, tám mươi rồi thì làm được cơm cháo gì nữa?  Chống cộng để khôi phục VNCH là điều không tưởng…”

Cũng như phần đông con dân của VNCH, tôi chưa bao giờ có ý tưởng VNCH sẽ được tái dựng, tôi sẽ trở về cố quốc lấy lại những gì đã mất.  Lịch sử đã sang trang.

Cũng như mọi người, tôi hy vọng chế độ CSVN sớm cáo chung hay biến thể để nước Việt được độc lập và có chủ quyền, để dân Việt có tự do và dân chủ.

Trước âm mưu bành trướng lộ liễu và ngang ngược của Trung cộng, tôi nghĩ Mỹ sẽ có biện pháp ngăn chận, nhân đó Việt Nam sẽ thay đổi.

Không phải vô cớ mà Đại Sứ Mỹ Ted Osius viếng các cộng đồng Việt Nam và tuyên bố: “Tình hình sẽ thay đổi.  Việt Nam sẽ có tự do dân chủ”.  Nếu được như ông nói, tương lai của dân tộc Việt Nam sẽ tươi sáng hơn bây giờ.  Tôi không cổ võ mọi hình thức hoà hợp hoà giải trá hình đầu hàng cộng sản, nhưng trong khi người Việt chưa có cách nào để loại bỏ chế độ CSVN, mọi sự tác động (của bất cứ ai) làm giảm được sự độc tài toàn trị của chế độ đó, đem ít nhiều tự do và dân chủ đến cho người dân đều được hoan nghênh.  Ai chống lại mà không có kế sách thay thế đều là những kẻ hoang tưởng, những kẻ mù quáng thù quá hoá…mất khôn.  Họ không thể là người yêu nước mà chỉ là những kẻ phá hoại đi ngược lại với ước vọng của toàn dân.

ĐỊNH NGUYÊN
Sacramento, CA thượng tuần tháng 8 năm 2015

Khai Dân TríĐịnh Nguyên

2015/08/07

Chuốc cái danh hão

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 07.08.2015

Chuốc cái danh hão

Cứ mỗi khi có đợt phong tặng danh hiệu “nghệ sĩ nhân dân” (NSND), “nghệ sĩ ưu tú” (NSUT) lại có màn đấu đá tưng bừng trên khắp các mặt báo, các trang mạng.

Năm nay cuộc đấu đá còn rầm rộ hơn, có lẽ bởi cái tật hám danh đã ăn sâu vào mạch máu của các ông bà được đời coi là “nghệ sĩ” ở VN.

Còn một lý do khác nữa không kém phần quan trọng là khi được cái danh hiệu “cao quý” đó thường đi đến đâu cũng được ngồi chiếu trên và thường được các quan chức coi trọng hơn mấy anh chị chẳng có tí danh hiệu còm nào.

Thí dụ nhỏ như khi lái xe trái luật, đưa cái danh nghệ NSND ra cũng được các cậu cảnh sát giao thông nể nang có khi tha bổng luôn.

Hoặc khi làm ăn, muốn mở hang, mở quán đều được “chiếu cố” đặc biệt hơn mấy anh dân đen.

Cần chạy chọt cái gì cũng dễ dàng lọt qua khe cửa hẹp, các anh quản lý thị trường cũng chịu khó làm ngơ. Thế nên rất nhiều nhà nghệ sĩ VN mở hết quán này đến quán khác, làm ăn rất khấm khá, có khi giàu sụ.
Ánh Tuyết
Cẩm Vân

Tuy nhiên tôi nói “hầu hết” không phải là tất cả, vẫn còn đó một số nghệ sĩ không bao giờ mơ màng đến cái danh này. Cụ thể như Ca sĩ Ánh Tuyết, Cẩm Vân, Văn Thành, Thành Lộc, Út Bạch Lan... họ là những người tự trọng, thẳng thừng tuyên bố không bao giờ chịu hạ thấp mình, làm đơn tự kể lể thành tích của mình đi xin cái danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú” hay “nghệ sĩ nhân dân. Nhưng con số này có vẻ như quá ít so với những ông bà nghệ sĩ đang cãi cọ quyết liệt về cái vụ danh hiệu này.
Út Bạch Lan
Sao không có nhà văn nhà báo ưu tú?
Có điều tôi không hiểu là tại sao có đủ danh hiệu nghệ sĩ nhân dân cho các ngành, các giới như nhà giáo ưu tú, đạo diễn nhân dân, ca sĩ ưu tú lại không có nhà văn, nhà thơ và nhà báo ưu tú hay nhân dân? Vì chẳng có lời giải thích nào nên bà con có vài cách suy luận:

Một là những ông là nhà văn, nhà thơ, nhà báo ở VN ô-tô-ma-tích được là nghệ sĩ nhân dân tuốt luốt rồi, khỏi cần phong tặng?

Hai là ở VN các ông này không được coi là nghệ sĩ mà chỉ là thợ viết, thợ thơ, thợ làm báo.

Ba là các ông trong ban tuyn chọn cho rằng mấy anh nhà văn, nhà báo “lắm mồm”, cho anh này không cho anh kia, nó chửi cho tan nát. Chi bằng “quên” mấy anh ấy đi cho tiện việc quan.

Tôi hỏi mấy ông nhà văn, nhà báo kỳ cựu ở VN, chẳng ông nào biết rõ lý do. Các ông ấy xúi tôi “đi mà hỏi mấy ông đt ra những cái danh hiệu ấy”. Vậy xin chuyển câu hỏi này cho mấy quan trên văn hóa đã “sáng tạo” ra mấy cái danh hiệu này trả lời cho bà con “thông suốt”.

Những lý do xẩy ra đấu đá
Trở lại với chuyện năm nay. Kể từ năm 1981 đến nay đã thực hiện 8 đợt xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (NSND), nghệ sĩ ưu tú (NSƯT). Năm nay, gần đến ngày “đại lễ 2-9” cũng là ngày trao tặng danh hiệu đợt thứ 8, nên vào tuần này đầu tháng 8 này những tranh cãi “nổ” ra gay gắt hơn bao giờ hết.

Có thể thấy rõ lý do xảy ra tranh cãi, đấu đá vì 3 lý do chính do các ông bà này nêu ra:

- Nhiều nghệ sĩ có nhiều cống hiến không được vinh danh, nhiều nghệ sĩ có thành tích nổi bật bị “đánh trượt” vì vi phạm… đạo đức,

- Nhiều nghệ sĩ “tố” Hội đồng xét duyệt cảm tính, bị mua chuộc, trù dập cá nhân…

- Nhiều nghệ sĩ khác lại cho rằng quy định xét tặng cứng nhắc, cổ hủ, khiến nghệ sĩ bị thiệt thòi.

Cả hội đồng cấp nhà nước bị lừa
Trên báo Kiến Thức số ra ngày 29-7-2015 vừa qua đăng bài viết về việc xét duyệt danh hiệu NSND, NSƯT cũng có nhiều chuyện mang tính thâm cung bí sử mà người ngoài cuộc khó hình dung ra. 
Ông Bùi Đắc Sừ tiết lộ chuyện cả hội đồng bị lừa trong việc xét tặng danh hiệu.
Ông NSND Bùi Đắc Sừ - nhân viên trong hội đồng cấp Bộ và cấp Nhà nước vừa tiết lộ một “bí mật” khiển cả hội đồng bị mắc lừa một anh “chạy” cái danh hiệu NSND. Ông kể trường hợp của một họa sĩ sân khấu.

Theo đánh giá của ông Bùi Đắc Sừ người này chỉ xứng NSƯT, dù có tên trong danh sách xét tặng NSND. Các thành viên trong hội đồng cũng đồng ý như vậy. Nhưng sau đó, nghệ sĩ này đến từng nhà của các thành viên để “nói khó” rằng "em biết mình kém, nhưng em chỉ xin anh một phiếu để khi công bố kết quả cho đỡ ngượng". Ai dè, khi hội đồng công bố kết quả, ông này có tất cả phiếu thuận của hội đồng.

Lúc này, những người “cầm cân nẩy mực” mới té ngửa là hóa ra, ai cũng được nghệ sĩ này đến nhà “nói khó” câu đó. Cuối cùng thì người này vẫn được phong NSND. Cả hội đồng cấp nhà nước đều bị “hố to” nhưng đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nín thinh. Anh họa sĩ sân khấu cười thầm với cái danh hiệu vừa vớ được.

“Chạy chọt” danh hiệu như thế nào?
Trên báo mạng VNnet một nghệ sĩ và một số nghệ sĩ khác cũng tiết lộ với Báo Gia đình & Xã hội rằng, chuyện “chạy” huy chương, “chạy” danh hiệu là hoàn toàn có thật.

Một nghệ sĩ giấu tên cho biết, nhìn vào danh sách những người được phong NSND đợt này, không chỉ chị mà phần lớn nghệ sĩ đều “ngã ngửa” khi thấy tên hai nghệ sĩ L.N và T.H thuộc quân số ở nhà hát kịch.

Theo nghệ sĩ này, T.H là người không có tài năng, chưa từng để lại dấu ấn gì với người trong nghề. Còn L.N là người không đủ huy chương theo tiêu chí mà Bộ VH,TT&DL đề ra. Ngay từ hồi xét danh hiệu NSƯT thì L.N đã không đủ tiêu chuẩn rồi, nhưng vì có… lý do riêng nên cũng dễ được thông cảm hơn.

Điều đáng nói là kể từ sau khi được phong NSƯT, người này không có thêm huy chương vàng nào. Vậy mà các ông hội đồng cũng “hồn nhiên” bỏ phiếu để nữ nghệ sĩ này được phong “nhân dân”. Khi danh sách này được công bố rộng rãi, một số NSND khác đã mỉa mai nói rằng, nếu cô này mà được phong thì có khi phải làm đơn xin từ bỏ danh hiệu của mình cho đỡ bị “cá mè một lứa”.

“Chạy chọt” và “bôi trơn”
Với riêng trường hợp của diễn viên L.N, nghệ sĩ giấu tên này cho rằng, rất có thể là do có “chọt” – tiếng lóng nói về chuyện “bôi trơn”.

Người tố cáo kể thêm: “Bởi ngay từ khi phong NSƯT, chính tôi đã được xem tin nhắn của nữ nghệ sĩ này gửi đến cho một thành viên trong hội đồng xét giải đề cập chuyện giúp đỡ để được phong danh hiệu.

Còn chuyện chi phí, nói là ngã giá mua giải thì nghe hơi “phô”, nhưng khi xong việc thì phải cảm ơn. Ít cũng phải 10 triệu, nhiều thì 20 triệu. Đó là với NSƯT. Còn với NSND thì... để mọi người tự phán đoán”. NSƯT còn “có giá” như thế thì NSND chắc là phải hàng trăm triệu hoặc… thân ái tặng nhau một chiếc xe hơi.

Một nguồn tin khác cho hay, cứ đến mùa hội diễn là các giám khảo lại không tránh được tình trạng nhờ vả, nhắn tin nhờ “giúp đỡ”. Đến nỗi, dù không còn ngồi trong hội đồng nhưng có đạo diễn vẫn được nhờ vả “bắc cầu” qua các giám khảo “đương nhiệm” để tác động xem “từ bạc có lên vàng được không”, “tiêu chuẩn có thiếu thì nhờ anh chị ra hội đồng hết sức bảo vệ”...

Một bạn đọc từng công tác ở đơn vị nghệ thuật Hà Nội (nay đã chuyển sang làm công việc khác) tiết lộ: "Khi còn làm ở đoàn nghệ thuật này, cứ đến mùa xét huy chương là nhà hát lại "đánh nhau" sứt đầu mẻ trán. Ai cũng muốn được đưa vào danh sách. Đấu đá, kèn cựa, rồi chạy chọt đủ cả. Nghĩ mà ngán ngẩm cho cái danh hiệu và danh xưng của những người được gọi là “nghệ sĩ”.

Chuyện nghe kể mà cứ ngỡ đùa rằng, có nghệ sĩ đi diễn ở tỉnh lẻ, một khán giả thắc mắc, danh hiệu NSƯT và NSND chắc là được thưởng nhiều tiền thưởng lắm, cho nên các nghệ sĩ mới "cố" để được như thế? Nghệ sĩ này đã trả lời: “Vâng, nhiều lắm. Đó là được thêm cái “danh hão” ở trước cái tên ấy”.

Thực ra thì khi trao danh hiệu, nghe chừng cũng được thưởng dăm ba triệu. Số tiền ấy nếu “chạy chọt” thì phải gấp mấy lần. Nếu mà được tặng cả cái nhà thì không hiểu người ta còn bất chấp danh dự, liêm sỉ đến đâu.

Chuyện xin danh hiệu cho người đã chết, chuối oản để ai xơi?
Bạn Hưng Bình (hungbinh68@...) kể trên báo Khám Phá VN: Một chuyện hy hữu khác là sau lễ viếng và truy điệu Nghệ sĩ hài Văn Hiệp, đạo diễn, NSND Khải Hưng đã vận động hơn 150 nghệ sĩ ngoài Bắc cùng ký đơn xin Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú cho danh hài Văn Hiệp. 
Ông Khải Hưng vận động các nghệ sĩ cùng ký vào đơn xin danh hiệu NSƯT cho danh hài Văn Hiệp đã mất, được coi là làm chuyện “bốc đồng” và “bao đồng.
Nhiều nghệ sĩ không có mặt tại đám tang cũng bày tỏ nguyện vọng được cùng tham gia ký đơn. Nhưng gặp ngay một số phản ứng gay gắt từ các nghệ sĩ khác và dư luận của người dân.

Một năm ở đất nước này có bao nhiêu nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ và rất nhiều “nhà” khác cứ lẳng lặng mà mất. Trong đám đông viết đơn xin phong “Ưu tú và Nhân dân” cho nghệ sĩ Văn Hiệp, công chúng nhận ra không ít "cây đa, cây đề" của làng điện ảnh.

Họ bảo vì cụ Hiệp chuyên đóng vai phụ, nên chiếu quy chế phong tặng Nhân dân – Ưu tú, cụ không lọt đề cử. Người ta có lý để cho rằng, hành động ký tên tập thể vào đơn xin danh hiệu cho Văn Hiệp là bốc đồng và bao đồng?

Lúc Văn Hiệp còn tại thế, chả thấy “cây đa, cây đề” nào đứng ra tập hợp ý kiến đòi quyền lợi cho ông “trưởng thôn”. Nay có đến cả 150 con người đùng đùng ký đơn xin, mà đã xin – đã cho ít nhiều cũng làm hạ thấp người đã khuất. Thậm chí sẽ là tổn thương nếu điều đó đi ngược với di nguyện của nghệ sĩ Văn Hiệp.

Thưa các vị, "xét một cách toàn diện" danh hiệu cho người đã chết chỉ như chuối và oản trang trí trên bàn thờ. Nói cho cùng, đó là thứ để dành cho người đang sống. Còn người chết, họ cần gì? Chuối oản để ai xơi?

Cái bệnh háo danh còn lan sang các lãnh vực khác
Thực ra, không chỉ lĩnh vực nghệ thuật sân khấu mà nhiều lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học, kỹ thuật cũng rơi vào tình trạng tương tự! 

Bạn Diệp Văn Sơn viết trên báo Người Lao động: “Giáo sư (GS),  phó giáo sư (PGS) là chức danh của nhà giáo ở cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu. Vì thế, không nên để những quan chức cả đời không dạy học, không hề gắn bó với cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu nào “chạy” chức danh GS, PGS.

Quan chức đeo cái chức danh của nhà giáo cũng chẳng giải quyết được việc gì, có chăng chỉ giải quyết “khâu oai”.

Những năm gần đây, nhiều quan chức không bằng lòng với chức vị hành chính vốn đã cao của mình nên thích gắn thêm trước chức vụ học hàm, học vị GS, PGS hoặc Tiến sĩ để cho… thêm phần trí tuệ!

Đến nay, hầu như không nước nào trên thế giới lạm phát học hàm, học vị như ở VN.

Căn bệnh chạy danh hiệu của giới nghệ sĩ và chạy học hàm, học vị của giới thầy giáo, nhà khoa học, nhà quản lý… chung quy lại cũng là hệ quả của bệnh háo danh mà thôi”.

Đúng là cái bệnh háo danh ngày càng được dịp “trăm hoa đua nở” ở cái thời đại quá quen với oai quyền giả mạo và dối trá này.

Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

2015/08/03

Thời đại huy hoàng hay thời đại ăn cắp?

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 03.08.2015

Thời đại huy hoàng hay thời đại ăn cắp?

Dư luận ở VN mấy tuần này rất sôi nổi về chuyện nhiều phụ nữ Việt Nam bị Singapore từ chối nhập cảnh. Thêm vào đó vụ hai du khách người Việt Nam vừa bị cảnh sát Thụy Sỹ bắt vì trộm cắp 3 cặp kính mắt càng làm dậy sóng trên khắp các phương tiện truyền thông từ trong nước đến nước ngoài.

Là người VN dù ở đâu cũng thấy quá xấu hổ. Hầu như tất cả những vụ bê bối tương tự như thế cũng được dịp “kiểm điểm” lại, vụ nọ nối vụ kia như những người Việt từng ăn cắp ở Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản…

Dư luận cũng phản ứng bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều người giận dữ vì cảm thấy quốc thể bị sỉ nhục, muốn có hành động trả đũa, thậm chí kêu gọi tẩy chay du lịch Singapore. Nhưng bình tâm suy nghĩ lại và đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ nước khác còn nghèo khó hơn VN vẫn được đón tiếp nồng hậu mà phụ nữ VN bị săm xoi, bị nhòm ngó, bị đuổi thẳng về nước như thế? Nhiều bạn đọc đã trả lời câu hỏi này.

Bạn Nguyễn Văn Mỹ trên thanhnien.com.vn kể lại:
“Tôi đã giận tím mặt khi cả đoàn doanh nghiệp Việt Nam, từng du lịch khắp thế giới nhưng vẫn bị hải quan cửa khẩu Aranyaprathet (Thái Lan, giáp với Poipet, Campuchia) buộc từng người phải cầm 700 USD lên để chụp hình trước bàn dân thiên hạ.

“Bảng phong thần” danh sách các nước bị hạn chế nhập cảnh vào Thái Lan có tên Việt Nam to tướng được dựng ngay cửa khẩu. Vậy mà lâu nay lãnh đạo không nghe, không biết.

Về nước, anh em phản ứng dữ dội, báo chí nhập cuộc, Tổng cục Du lịch và Bộ Ngoại giao Việt Nam có công hàm.

Người Thái thừa nhận sai sót, bỏ thủ tục chụp ảnh, dẹp bảng phong thần nhưng không chịu xin lỗi và Việt Nam vẫn nằm trong “Black list” (tạm dịch là Danh sách đen) của họ.

Chỉ khác là để trong bàn làm việc của cửa khẩu chứ không trương ra ngoài. Tìm hiểu mới hay là họ làm vậy để đối phó việc hàng ngàn người Việt qua Thái lao động bất hợp pháp, mang theo nhiều tệ nạn xã hội.

Cách hành xử của Singapore là vơ đũa cả nắm nhưng đừng vội trách họ. Dù không cho phép mại dâm công khai như Thái Lan nhưng Singapore có khu Geylang biệt lập và sầm uất không thua phố đèn đỏ ở Amsterdam (Hà Lan). Rất nhiều “Bướm đen” (vì toàn mặc đầm đen) người Việt lượn lờ ngã giá, bằng tiếng Việt và cả tiếng Anh ba rọi”.

So sánh giữa du lịch ở trong nước và nước ngoài
Qua Singapore, chỉ một số phụ nữ bị làm khó dễ ở cửa khẩu, còn vào rồi thì được đón tiếp niềm nở trân trọng. Còn du lịch trong nước, bị chặt chém tơi tả, bị đối xử ghẻ lạnh, dù không phải tất cả. Hơn thế, chất lượng dịch vụ, an ninh xã hội, giao thông, vệ sinh thực phẩm và môi trường đều kém xa nên rất nhiều người Việt, dù yêu nước nồng nàn cũng “bỏ của chạy lấy người”.
Nhiều cô gái Việt Nam sang Singapore để bán dâm chui là nguyên nhân khiến hải quan Singapore làm khó dễ phụ nữ Việt khi nhập cảnh nước này.
Nói thẳng ra chỉ những người bị nghi ngờ là sang Singapore làm điếm hoặc ở lì không chịu về mới bị đối xử như vậy.

Trước hết là cách ăn mặc nhiều khi quá “thiếu vải” đầu tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ, lối giao tiếp thiếu lịch sự… đã buộc nhân viên hải quan của họ phải nghi ngờ và cấm nhập cảnh là quyền của họ bảo vệ thuần phong mỹ tục của quốc gia mình.

Mặt khác, nếu bạn nói tiếng Anh trôi chảy, ăn mặc đứng đắn…chẳng ai thừa hơi đuổi bạn về nước làm gì. Họ sẽ trân trọng mới bạn bước vào nước họ.

Ngày 25/7, báo chí dẫn lời Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore Nguyễn Minh Hằng sau buổi làm việc giữa phía Việt Nam và ICA cho biết Cơ quan Quản lý Cửa khẩu và Nhập cư Singapore (ICA) khẳng định hoàn toàn không áp dụng bất kỳ hình thức hay biện pháp phân biệt đối xử nào với công dân Việt Nam.

ICA cũng cho biết nhiều trường hợp công dân nữ Việt Nam sử dụng các hộ chiếu khác nhau để nhập cảnh Singapore, có trường hợp dùng ba hộ chiếu với nhân thân khác nhau. Đối với những trường hợp vi phạm nêu trên, ICA sẽ không cho phép nhập cảnh.

ICA cũng giải thích việc họ mời một số công dân nữ Việt Nam vào phòng để hỏi về giấy tờ liên quan, lấy dấu vân tay… là thực hiện giống như với công dân nhiều nước. Việc này để phục vụ việc quản lý xuất nhập cảnh trong dài hạn. Chúng ta thừa biết đó chỉ là những lời lẽ ngoại giao cho “vui vẻ cả làng”, thật ra nguyên nhân chính nằm ở phía sau. Hãy nhìn hình ảnh những cô gái VN đứng đường trên hè phố Singapore thì chẳng còn gì để bàn luận thêm.

Đến chuyện thời đại ăn cắp
Tôi dẫn chứng những sự thật đau lòng này qua lời kể của 2 hướng dẫn viên (HDV) du lịch VN qua nước ngoài. HDV kể lại trên VietnamNet, xin tóm tắt những điểm chính:
Trung tâm mua sắm nhộn nhịp ở Zurich, Thụy Sĩ.
Đoàn du lịch của tôi gồm 30 người, khởi hành từ ngày 9/7 đi du lịch Pháp và Thụy Sĩ. Đến ngày 15/7, ngày cuối cùng trước khi lên đường trở về nước thì xảy ra vụ việc đáng xấu hổ là hai du khách bị cảnh sát Thụy Sĩ bắt giữ vì trộm cắp.
Sự việc xảy ra ở khu mua sắm ở Zurich, Thụy Sĩ. Qua máy quay giám sát, nhân viên đã phát hiện hai du khách bóc nhãn, thẻ giá của 3 chiếc kính có trị giá 300 euro/chiếc và đem ra khỏi cửa hàng. Cảnh sát nhận được thông báo từ cửa hàng đã nhanh chóng bắt 2 vị khách này.

Nhâm Tiến Dũng - Nhâm Thị Hồng Phương, ăn cắp tại Thụy Sĩ.
Cả hai đã phải nộp phạt 2.000 franc (khoảng 46 triệu đồng) để được thả và đoàn có thể lên chuyến bay về Việt Nam vào sáng hôm sau. Không ai không phải che mặt vì quá xấu hổ với người nước bạn.
Giấy phạt tiền của cảnh sát Thụy Sĩ ghi rõ họ tên hai du khách Việt ăn cắp.
Còn phạm cả tội gian lận khai thuế
Hướng dẫn viên của đoàn cho biết ngay từ khi nhận đoàn, anh đã thấy một sự “không tử tế” ở hai du khách này. Trước khi xảy ra sự việc đáng xấu hổ này thì nam du khách này cũng vừa khiến anh mất mặt với nhân viên an ninh sân bay ở Zurich.

Du khách này đã khai gian để được hoàn thuế, khi nhân viên sân bay đưa tiền, anh này “sáng mắt” đã cầm vội và chạy đi. Nhân viên sân bay thấy lạ, họ kiểm tra lại giấy tờ, và đề nghị người dẫn đoàn phải gọi anh này trả lại tiền nếu không sẽ giữ cả đoàn ở lại.

Hướng dẫn viên kỳ cựu này cũng chia sẻ rằng, bao nhiêu năm dẫn đoàn, anh đã gặp không biết bao nhiêu kiểu người, nhưng có nhiều người Việt hay nói dối, lươn lẹo.

Chuyện nhỏ đáng xấu hổ hơn nữa
Một hướng dẫn viên khác kể lại những câu chuyện nhỏ còn đáng xấu hổ hơn. Anh nói:
“Tôi làm trong ngành du lịch lại chuyên về thị trường Outbound nên “được” nghe không biết bao nhiêu là những điều về du khách Việt. Có những khách phải thốt lên “nhục nhã quá”. Chuyện ăn, chuyện uống là “chuyện thường ở phố huyện”. Chẳng ở đâu lại buồn cười như khách Việt. Mỗi lần đoàn khách Việt bước vào là nhà hàng cứ “rôm rả” hẳn lên. Nào là nói to, nào là chọn người ngồi cùng bàn, lấy thức ăn thừa mứa đến nỗi nhà hàng phải để hẳn dòng chữ bằng tiếng Việt “Lấy đủ ăn, nếu thừa sẽ bị phạt!”.
Bảng cấm lấy đồ ăn thừa trong các bữa buffet ở Thái Lan.
Nhiều khách ra nước ngoài cũng “tranh thủ” thưởng thức mọi “đặc sản” địa phương. Họ đề nghị hướng dẫn viên cho địa chỉ đến "nhà thổ" mua dâm. Họ đi một mình thì chẳng sao, có người đòi hướng dẫn viên đưa đến tận nơi. Hướng dẫn viên ngồi ôm đồ cho khách chờ ngoài sảnh đến nửa đêm chưa được về nghỉ, ngày mai vẫn phải lên đường như bình thường.

Có khách khiếm nhã, còn "đề nghị" với nữ hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn đi chơi gái liền bị mắng té tát, làm chúng tôi bị một phen khốn đốn xin xỏ, còn khách đó bị bẽ mặt trước cả đoàn.

Trốn ở lại lao động trái phép lại còn là vấn nạn đối với rất nhiều nước, làm hướng dẫn viên và công ty tổ chức bị một phen “tá hỏa”. Đừng hỏi vì sao các nước lại làm chặt visa đối với công dân một số nước trong đó có Việt Nam”.

Lao động VN cũng làm xấu mặt dân Việt
Trên báo Dân Trí ngày 28-7-2015 vừa đưa ra một thông tin mới nhất về những người được đưa đi xuất khẩu lao động bị trả về vì ý thức chấp hành pháp luật của người lao động kém; thường trộm cắp, đánh nhau, bỏ trốn...

Cụ thể gần 4.000 lao động Việt Nam làm việc ở lĩnh vực bảo vệ, vệ sĩ tại Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) hoang mang trước việc đột ngột bị chấm dứt hợp đồng trước hạn. Trong khi cơ quan chức năng đang tìm cách bảo vệ quyền lợi của họ thì một số lao động kích động quậy phá.

Bản ghi nhớ có thời hạn 3 năm, được ký gia hạn vào tháng 8-2012. Đến nay, có trên 5.000 lao động được đưa sang làm vệ sĩ tại UAE, trong đó gần 4.000 người đang làm việc theo hợp đồng, thu nhập trung bình 600 USD/người/tháng.

Tập đoàn IGG (ủy thác thực hiện chương trình) chấm dứt hợp đồng trước hạn đối với hàng ngàn lao động Việt Nam là thỏa thuận nói trên hết hạn vào tháng 8-2015 và chưa có kế hoạch gia hạn. EGSS đang làm thủ tục về nước cho toàn bộ vệ sĩ của Việt Nam. Trong số gần 4.000 lao động bị trả về, có 1.286 lao động chưa kết thúc hợp đồng 3 năm tính đến tháng 8-2015 và một số có thời hạn kéo dài đến năm 2016.

Giám đốc một doanh nghiệp tham gia chương trình cho rằng nguyên nhân chính là do ý thức chấp hành pháp luật của lao động Việt Nam quá kém. Vị giám đốc này nói: “Họ hay tụ tập nhậu nhẹt rồi đánh nhau, gây mất trật tự công cộng. Làm công tác bảo vệ cho các cơ sở của hoàng gia mà “quậy” như vậy thì ai dám sử dụng”.

Cũng xin nói thêm, đây không phải lần đầu Việt Nam bị UAE dừng chương trình vệ sĩ. Trong phạm vi bản ghi nhớ đầu tiên thực hiện từ năm 2009, khoảng 600 vệ sĩ Việt Nam vừa mới sang được vài tháng cũng bị trả về nước. Lý do là một số lao động sau khi nhậu nhẹt rồi phát sinh mâu thuẫn, đánh nhau, gây mất trật tự an ninh.

Còn ở Qatar có khoảng 50 Doanh nghiệp xuất khẩu lao động (DN XKLĐ) của Việt Nam bắt đầu khai thác Qatar từ năm 2005 và đến năm 2007 cung ứng được khoảng 10.000 lao động. Tuy nhiên, từ năm 2008, xuất phát từ tình hình lao động trộm cắp (chủ yếu trộm cắp dây đồng của công trình xây dựng), nấu rượu lậu, nhậu nhẹt, gây rối trật tự…, chính phủ Qatar quyết định dừng tiếp nhận vô thời hạn lao động Việt Nam.

Hai thị trường XKLĐ lớn nhất của Việt Nam hiện nay là Đài Loan và Hàn Quốc cũng kẹt cứng ở đoạn tuyển dụng mà nguyên nhân chính vẫn xuất phát từ người lao động.

Hiện có khoảng 24.000 lao động Việt Nam bỏ trốn ở Đài Loan, dẫn đầu các nước XKLĐ vào thị trường này. Hơn 26.000 lao động đang cư trú bất hợp pháp ở Hàn Quốc không chịu về nước dù chính phủ nước này đang mở chiến dịch truy bắt trên toàn quốc.

Ăn cắp từ trong nước đến ngoài nước
Trong nhà còn nhiễu nhương, hỗn loạn, ăn cắp chia làm nhiều loại, có cả loại ăn cắp đúng pháp luật và vô pháp luật, ăn cắp riêng lẻ và ăn cắp theo nhóm gọi là “nhóm lợi ích” thì khó tránh khỏi thiên hạ khinh khi.

Lãnh đạo thiếu gương mẫu, pháp luật chưa nghiêm minh nên người dân mất niềm tin, là điều kiện cho tệ nạn sinh sôi. Quản lý lỏng lẻo, không có bất kỳ hành động nào chặn đứng việc xuất khẩu tệ nạn thì hậu quả khôn lường. Nếu không có cách khắc phục hiệu quả, e rằng sắp tới, người Việt ra nước ngoài không chỉ bị Thái lan, Singapore làm khó dễ khi nhập cảnh mà sẽ lây lan sang những nước khác.

Những sự việc trên hẳn là làm cho người nói câu “thời đại ngày nay là thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử” phải cảm thấy xấu hổ. Có thật là “thời đại huy hoàng nhất lịch sử” hay “thời đại của những kẻ lừa lọc, ăn cắp nhiều nhất trong lịch sử”?

Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

2015/08/02

Giáo lý của người cách mạng cộng sản trên thế giới từ 1917 – 2015

Giáo lý của người cách mạng cộng sản trên thế giới từ 1917 – 2015

NGUYỄN VĂN TRẦN

26 điều răn dạy
« Giáo lý của người cách mạng » gồm 26 điều mà người làm cách mạng chí thành phải nằm lòng, được chia làm 4 tiết và được sơ lược giới thiệu dưới đây, những phần quan trọng được giử nguyên.

1 - Thái độ của người cách mạng đối với chính mình
Người cách mạng là người « bị qui phạt », hay đúng hơn « bị vác thánh giá » (condamné), tức không thể nghĩ hay làm bất kỳ việc gì khác được. Hắn không có quyền lợi riêng tư, không có quan hệ, không có những tình cảm, không có những ràng buộc, không có tài sản và, ngay cả cái tên của hắn, hắn cũng không được có nữa. Ở con người của hắn, tất cả đều bị thu hút vào một quyền lợi duy nhứt, một tư tưởng duy nhứt, một đam mê duy nhứt, đó là cách mạng.

Từ chìu sâu thẳm của con người hắn, không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động, hắn dứt khoát cắt đứt mọi liên hệ với trật tự đã có và thế giới học thức trong toàn bộ, với luật pháp, tư hữu, qui ưóc xã hội và cả những nguyên tắc đạo lý. Hắn phải là kẻ thù không khoang nhượng của thế giới này, và nếu hắn tiếp tục sống ở đó, chính là để tiêu diệt cái thế giới đó như ý muốn.

Người cách mạng không đội trời chung với xã hội hiện tại, vì « hể có tao thì không thể có mày nữa ».

Giữa xã hội chưa được giải phóng và hắn là một cuộc chiến thường trực không hề có hòa giải, hòa hợp, diển ra có thể công khai hay bí mật, nhưng luôn luôn sanh tử. Hắn phải sẵn sàng chết và sẳn sàng chịu đựng mọi đòn tra tấn.

Người cách mạng nghiêm khắc với chính mình và cả với những kẻ khác.

Mọi thứ tình cảm đều ủy mị, phải thủ tiêu, chỉ giử và nuôi dưởng niềm đam mê duy nhất, lạnh lùng, vô cảm là cách mạng.

Trong thâm tâm hắn, hắn chỉ có một niềm hân hoan duy nhất, một an ủi duy nhất, một phần thưởng duy nhất, một thỏa mãn duy nhất, đó là sự thành công của cách mạng.
Người cách mạng khinh bỉ các giáo lý thuần túy, từ bỏ các ngành khoa học thường thức, ... Chỉ công nhận một ngành khoa học duy nhất, đó là khoa học hủy diệt .  Hắn sẽ nghiên cứu ngày đêm không ngừng nghỉ khoa học sống động về xã hội dân sự, với các đặc điểm, cơ năng, chức năng, và toàn bộ trật tự xã hội ở mọi mặt để nhằm phá hủy ngay lập tức cái trật tự xã hội xấu xa đó. Người cách mạng miệt thị và thù ghét đạo đức xã hội hiện hữu. Theo hắn, chỉ có bất cứ thứ gì đem đến thắng lợi cho cách mạng đều là đạo đức, bất cứ thứ gì cản trở cách mạng đều là vô đạo đức, và tội ác (Sau 30/04/1975, dân Miền nam  học tập chánh trị, được nghe cán bộ vc nói lại trọn vẹn câu này).

Người cách mạng không đội trời chung với xã hội hiện tại, vì « hể có tao thì không thể có mày nữa ».

Giữa xã hội chưa được giải phóng và hắn là một cuộc chiến thường trực không hề có hòa giải, hòa hợp, diển ra có thể  công khai hay bí mật, nhưng luôn luôn sanh tử. Hắn phải sẵn sàng chết và sẳn sàng chịu đựng mọi đòn tra tấn .

Người cách mạng nghiêm khắc với chính mình và cả với những kẻ khác.
Mọi thứ tình cảm đều ủy mị, phải thủ tiêu, chỉ giử và nuôi dưởng niềm đam mê duy nhất, lạnh lùng, vô cảm  là cách mạng.

Trong thâm tâm hắn, hắn chỉ có một niềm hân hoan duy nhất, một an ủi duy nhất, một phần thưởng duy nhất, một thỏa mãn duy nhất, đó là sự thành công của cách mạng.

Suốt ngày suốt đêm, hắn chỉ có một suy tư, một mục đích, đó là sự hủy diệt tối ưu nhứt.

Vì đặt lợi ích cách mạng lên trên mọi lợi ích khác, hắn sẵn sàng giết mọi người cản trở công tác của hắn, bằng chính hai tay của hắn.

2 - Thái độ của người cách mạng với các đồng chí
Người cách mạng chỉ yêu quý và kết bạn với những kẻ cùng làm cách mạng như hắn. Mức độ tình đồng chí, sự tận tâm và các bổn phận khác đối với đồng chí, chỉ được xác định bởi mức độ ích lợi của đồng chí này đóng góp cho cách mạng hủy diệt.

Khi một đồng chí gặp khó khăn, người cách mạng phải quyết định có nên trợ giúp hay là không. Trợ giúp không xét theo tình cảm cá nhân của mình, mà chỉ căn cứ trên lợi ích của sự nghiệp cách mạng . Hắn phải cân nhắc sự hữu ích của đồng chí đang gặp khó khăn đối với cách mạng để lấy quyết định có đáng trợ giúp không ?

3 - Thái độ của người cách mạng với xã hội
Người cách mạng sống trong xã hội của một Nhà nước (mục tiêu phải tiêu diệt) chỉ vì hắn tin tưởng sẽ hủy diệt toàn bộ và nhanh chóng xã hội đó . Hắn không thể là người cách mạng nếu hắn cảm thấy thương xót bất cứ điều gì của xã hội ấy . Nếu hắn có khả năng, hắn phải tính đến hủy diệt mọi quan hệ hay mỗi người của xã hội đó . Đối với hắn, mọi thứ và mọi người của xã hội đó đều xấu xa, ghê tởm cần phải được thanh toán sạch.

Với lòng không đội trời chung với xã hội hiện hữu, người cách mạng phải thâm nhập khắp nơi, trong các giai cấp hạ lưu và trung lưu, trong các tiệm buôn, các nhà thờ, các giới trưởng giả, giới công chức, quân đội, văn học, công an mật vụ, và ngay cả trong những cung điện (thời Quân chủ, Tổng thống phủ, Thủ tướng phủ thời Cộng hòa).

Toàn bộ thành phần xã hội dơ bẩn ấy phải được chia làm 6 loại:

Loại 1 phải bị tuyên án tử hình ngay tức khắc. Phải lập danh sách thứ tự những tên tội phạm này theo sự tác hại của chúng đối với sự nghiệp cách mạng, để xử tử theo thứ tự ưu tiên.

Khi lập danh sách, chúng ta không nên chú trọng đến những hành vi phản động và các thứ căm thù phát sinh vì những kẻ thù này có thể kích động dân chúng phản ứng bất lợi cho cách mạng. Phải chú ý đến mức độ ích lợi của cái chết của mỗi tên phản động đối với sự nghiệp cách mạng . Vậy phải trừ khử trước hết những kẻ rất có hại cho tổ chức cách mạng, sự ám sát hàng loạt dữ dội sẽ gây kinh hoàng cho chánh quyền hiện hữu. Loại ra khỏi chánh quyền những viên chức cương quyết và có thật tài sẽ làm suy yếu quyền lực của chánh quyền đó .

Loại 2 gồm những kẻ mà ta tạm tha mạng để chúng kích động sự nổi loạn của quần chúng có lợi cho cách mạng .

Loại 3 gồm những nhân vật cao cấp, và những người, tuy không có tài năng và thực lực đặc biệt, nhưng giàu sang, có địa vị xã hội cao, có ảnh hưởng, có quyền lực, và có nhiều quen biết. Khi chúng ta dùng bạo lực vạch mặt họ, chỉ cho họ thấy họ là những kẻ có tội ác với nhơn dân để họ sẽ trở thành tay sai của chúng ta.

Tài sản của họ, ảnh hưởng của họ, quyền lực của họ, và những quen biết của họ là một kho tàng vô tận của chúng ta, hỗ trợ hiệu quả cho sự nghiệp của chúng ta.

Loại 4 gồm những người có tham vọng chính trị, và những đảng viên các đảng tự do . Chúng ta cùng mưu tính với họ, giả vờ tuân thủ các kế hoạch của họ . Đến khi chúng ta nắm quyền kiểm soát họ, thì chúng ta vạch mặt họ và dùng họ để gây rối loạn trong nước.

Loại 5 gồm những lý thuyết gia, những tên mưu đồ, những người cách mạng, và những kẻ chuyên nói và viết dông dài về chính trị. Chúng ta nên cổ xúy họ, để họ sáng tác những tuyên bố nảy lửa, kêu gọi bạo loạn, sau cùng, làm sao cho phần lớn bọn họ biến mất không để lại tung tích, và những người cách mạng thực sự nhờ đó hưởng lợi.

Loại 6 khá quan trọng chỉ gồm các phụ nữ, có thể chia làm 3 loại nhỏ:

Loại phụ nữ 1 gồm những người nhẹ dạ, ngu xuẩn, không trí óc, mà chúng ta xử dụng như đàn ông loại 3 và loại 4.

Loại phụ nữ 2 gồm những phụ nữ hăng say, tài năng, tận tâm, nhưng chưa đi với chúng ta, vì họ chưa giác ngộ cách mạng, chưa có kinh nghiệm thực tế, và thiếu lòng say mê cách mạng. Họ phải được xử dụng như đàn ông loại 5  .

Loại phụ nữ 3 gồm những phụ nữ đi hoàn toàn với chúng ta, được chúng ta kết nạp, và chấp nhận toàn bộ chương trình của chúng ta. Chúng ta phải xem họ như một kho tàng quý giá nhứt, đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

4 - Thái độ của Đảng cách mạng đối với nhơn dân
Đàng không có một mục đích nào khác hơn là giải phóng trọn vẹn nhơn dân và đem lại hạnh phúc cho nhơn dân, nghĩa là của công nhân lao động.

Nhưng vì Đàng tin chắc rằng sự giải phóng và hạnh phúc của nhơn dân chỉ có thể giành được bằng một cuộc cách mạng nhân dân quét sạch tất cả các chướng ngại vật trên tiến trình cách mạng nên Đảng đóng góp tất cả sức mạnh và tài nguyên làm khủng bố và phá hoại để vừa làm cho dân chúng sợ mà dễ chấp hành chỉ thị của cách mạng, vừa gia tăng những đau khổ làm cho nhơn dân kiệt lực để thúc đẩy họ phải tổng nổi dậy.

Đàng không chấp nhận một cuộc «& cách mạng nhơn dân » là một phong trào quần chúng tổ chức theo tư tưởng Tây phương và kết thúc một cách trân trọng với những sở hữu và các truyền thống của trật tự xã hội, và trước điều mà người ta gọi là văn minh, đạo đức . Loại Phong trào quần chúng này cho đến nay chỉ nhằm lật đổ một hình thức chánh quyền và thay thế bằng một thứ khác, và xây dựng một Nhà nước mệnh danh là cách mạng.

Nhơn dân chỉ có thể được giải phóng bởi một cuộc cách mạng hủy diệt tận gốc rễ Nhà nước, và hủy bỏ tất cả các truyền thống, các giai cấp, và trật tự xã hội hiện tại (lúc đó là nước Nga).

Vã lại Đàng không có ý định áp đặt lên nhơn dân một tổ chức từ trên mà  hình thành, bỡi đó là công việc của các thế hệ mai sau. Sự nghiệp của chúng ta là làm một cuộc hủy diệt khủng khiếp, rốt ráo, toàn bộ, và không khoang nhượng.

Để tìm cách tiếp cận với nhân dân, trước hết Đàng liên minh với những nhân vật không ngừng chống đối chánh quyền, một cách trực tiếp hay gián tiếp, bằng lời và bằng hành động, ... Đàng cũng liên minh với những kẻ cướp táo bạo, đó là những người cách mạng thực sự và duy nhứt.

Dưới ánh sáng của « Giáo lý của người cách mạng », đảng cộng sản Hà nội quả thật là một đảng cướp: cướp chánh quyền vì chưa bao giờ biết thỏa hiệp với nhơn dân, cướp tài sản nhơn dân, cả mạng sống nhơn dân... khi nắm đưọc chánh quyền.

Riêng về chủ thuyết lãnh đạo, sau khi cộng sản sụp đổ toàn bộ do không khả năng mở ra tương lai, Việt nam ngày nay đã thay đổi rỏ, đảng cộng sản chỉ « Giử độc tài chánh trị với độc đảng. Tư tưởng duy nhứt, đam mê duy nhứt, mục đích duy nhứt của đảng cách mạng chỉ là tiền ! ».
Bìến đổi các bang hội lục lâm, ăn cướp, du đảng thành một lực lượng vô địch, có khả năng hủy diệt tất cả các cản trở trên đường đi của mình, đó là sự nghiệp của đảng, mưu đồ của đảng, và mục đích của đảng.

Vì thế khi tiếp cận với nhơn dân, chúng ta trước hết phải tìm cách kết hợp với những thành phần nhơn dân vô sản, họ không ngừng chống đối những thành phần liên hệ xa gần với chánh quyền như công chức, tư sản, doanh thương, …Chúng ta làm cách mạng là phải liên kết với những kẻ cướp bạo dạng bởi họ mới là những người cách mạng thật sự (lúc bấy giờ chống lại nhà nước Nga).

Giải táng những băng đảng cướp để biến chúng thành một sức mạnh cách mạng vô địch để tiêu diệt tất cả trên tiến trình cách mạng, đó sẽ là sự nghìệp của tổ chức cách mạng của chúng ta, của kế hoặch của chúng ta, đó sẽ là mục đích thật của người cách mạng cộng sản chúng ta.

Nhận xét
Kiểm điểm lại thành tích của đảng cộng sản ở Việt nam, chúng ta có thể quả quyết Hồ Chí Minh và đảng cộng sản do ông dựng lên đúng là sản phẩm trí tuệ tinh ròng của Serge Netchaïev. Nói cách khác, theo quan hệ tông chi, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản việt nam là con đẻ của Lê-nin và Staline, gọi Mao bằng bác, cháu đích tôn của Serge Netchaïev.

Hồ Chí Minh và đại bộ phận đảng viên lãnh đạo đều không giử tên thiệt của mình . Riêng Hồ Chí Minh có hằng trăm tên khác nhau .

Hồ Chí Minh đúng là một người cộng sản gưong mẫu bực nhứt. Những ngày đầu xuống tàu thủy của Tây rửa chén, rửa chảo, quét đọn nhà bếp, Hồ Chí Minh lảnh lương còn biết gởi tiền về nuôi cha ở Việt nam . Nhưng từ sau khi trở thành người cộng sản, ông bỏ hẳn tình cha con anh chị em vì cho đó chỉ là thứ tình cảm ủy mỵ tiểu tư sản . Trong thập niên 50, về Hà nội, Bà Nguyễn thị Thanh tới thăm, ông chỉ tiếp chị không quá 30 phút vì bận việc nước ?

Vâng lời Staline, chấp hành chỉ đạo của Mao Trạch-đông, ông ban hành lệnh cải cách ruộng đất để thanh toán giới nông dân có ăn và trung lưu, cả quân nhơn, cán bộ đảng viên gốc tiểu tư sản và có học, theo kháng chiến ví lòng yêu nước thật sự, để sau đó đảng cộng sản chỉ còn đảng viên gốc du đảng, tội phạm hình sự, bần cố nông, những người vốn dễ vâng lời không cần suy nghĩ. Thanh lọc xã hội để phục vụ cách mạng.

Trong vụ Bà Năm Cát Hanh Long, Hồ Chí Minh hiện rỏ, nổi cợm đúng là một người cộng sản chuyên chính. Khóc tỏ lòng thương tiếc người phụ nữ nạn nhơn để tránh gây súc động trong quần chúng bất lợi cho cách mạng lúc đó, ông vẫn để cho Đội Cải cách giết nạn nhơn đúng theo đạo đức cách mạng.

Để tự bênh vực việc làm gian ác của mình, Hồ Chí Minh viết trên báo Nhân Dân tố cáo Bà Năm là « Địa chủ ác ghê » với những tội do chính ông bịa đặc hoàn toàn.

Xin kể một giai thoại về Hồ Chí Minh để thấy tại sao ông chủ trương hủy diệt triệt để xã hội khi cách mạng cướp được chánh quyền. Tháng 6/1946, Tướng Salan của Pháp cùng Hồ Chí Minh trên đường qua Pháp, máy bay dừng lại ở Ấn độ . Nghe Tướng Salan ca ngợi vẻ đẹp của Đền Taj Mahal trong lúc thăm viếng, Hồ Chí Minh trả lời: Tôi bị hấp dẩn bởi vẻ đẹp kiến trúc, nhưng tôi muốn đừng ai mời tôi chiêm ngưởng những đề tài loại này . Chúng tôi sẽ phải khởi đầu từ mảnh đất trống trơn . Chính từ đó, chúng tôi sẽ rút tỉa tinh hoa cách mạng của chúng tôi sau khi đã thanh toán sạch quá khứ » (Salan, Memoires, t. I , trg 386, Jacques de Folin trích dẩn trong Indochine, 1940-1955, Perrin, Paris, 1993).

Vì lợi ích cách mạng, Hồ Chí Minh không ngần ngại nói dối để gạt cả thế giới khi trả lời Hảng Reuter, ông quả quyết : « Việt Minh không phải là một đảng toàn trị, Việt Minh không phải cộng sản » (Jacques de Folin, sđd, trg 189)

Sau khi Lê-nin chết, Hồ Chí Minh hội nhập vào bộ máy của Kominterne . Và sợ bị nghi ngờ thân Boris  Savourine, ông còn tự đặt mình trọn vẹn dưới trướng của Zinoviev và Staline. Từ đây, Hồ đã tích cực hoạt động khủng bố dưới sự lãnh đạo của bộ máy bí mật Kominterne. Nhắc lại những chi tiết này để giúp những người còn ảo tưởng Hồ Chí Minh là người dân chủ, yêu nước, muốn vận động vai trò lịch sử Hồ Chí Minh để dựa vào đó chuyển hoá chế độ hiện tại ở Việt nam theo dân chủ, xin hảy rủ bỏ đi ảo tưởng nguy hiểm này.

Tướng Giáp khẳng định Hồ Chí Minh là một người cộng sản cuồng tín nhưng theo ý tốt của Giáp nhằm đề cao lãnh tụ : « Bác Hồ đến với chủ nghĩa lê-nin (léninisme). Với Bác, chủ nghĩa lê-nin chính là mặt trời mang lại niềm vui và hạnh phúc. Ngọn cờ chủ nghịa lê-nin chính là biểu tượng của đức tin, là ngọn đuốc của hi vọng, con đường cứu nước duy nhứt » (Jacques de Folin, sđd, trg 80).

Di sản của Marx và Netchaïev với « Giáo lý của người cách mạng » vốn là cha đẻ các phong trào cách mạng cộng sản trong thế kỳ XX (Alnert Camus, L’homme révolté, Gallimard, Paris, 1951, trg 210) vẫn còn được người cộng sản hà nội ngày nay áp dụng vào thực tế cai trị Vìệt nam ở nhiều mặt, như khủng bố những người yêu nước trong sáng, lương thiện, phần lớn là phụ nữ và tuổi trẻ bằng lực lượng công an du đảng, thẳng tay sát hại đồng chí tranh giành quyền lực, cướp tài sản nhơn dân, ... Dưới ánh sáng của « Giáo lý của người cách mạng », đảng cộng sản Hà nội quả thật là một đảng cướp : cướp chánh quyền vì chưa bao giờ biết thỏa hiệp với nhơn dân, cướp tài sản nhơn dân, cả mạng sống nhơn dân …khi nắm đưọc chánh quyền .

Riêng về chủ thuyết lãnh đạo, sau khi cộng sản sụp đổ toàn bộ do không khả năng mở ra tương lai, Việt nam ngày nay đã thay đổi rỏ, đảng cộng sản chỉ Giử độc tài chánh trị với độc đảng. Tư tưởng duy nhứt, đam mê duy nhứt, mục đích duy nhứt của đảng cách mạng chỉ là tiền ! ».

NGUYỄN VĂN TRẦN

(*) Trong bài « Chung quanh những luận điểm mới về Hồ Chí Minh – Dĩ bất biến, ứng vạn biến và giải pháp Dân chủ Việt nam », tác giả, tôi, có ghi xuất xứ « Giáo lý của người cách mạng, Serge Netchaïev » khi nói vể Hồ Chí Minh phải cướp chánh quyền ở Chánh phủ Trần Trọng Kim.

Khai Dân TríNguyễn Văn Trần

2015/08/01

MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Hơn 100 năm trước, chí sĩ Phan Chu Trinh, người đã từng sang Nhật, Pháp có dịp nhìn lại xã hội VN, ông đã viết ra những lời tâm huyết này.

100 năm sau, VN đã thay đổi được những gì? Mời các bạn cùng suy ngẫm.

MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

  1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

  2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

  3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

  4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

  5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

  6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

  7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

  8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

  9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

  10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v...


Khai Dân TríPhan Chu Trinh