2011/02/25

Độc tài tự hại bản thân

Độc tài tự hại bản thân

Nguyễn Văn Huy
Nhà nghiên cứu dân tộc học ở Paris


Cuộc nổi dậy của người Ả Rập cho đến nay vẫn là một bất ngờ đối với dư luận quốc tế.

Cho đến đầu năm 2011, không ai ngờ sau 24 năm cầm quyền, tổng thống Ben Ali phải bỏ chạy sau một tháng phản đối của dân chúng.
Cũng không ai ngờ, sau 18 ngày nổi dậy của quần chúng, tổng thống Hosni Mubarak đã phải từ bỏ chính quyền sau 34 năm cầm quyền với bàn tay sắt.
Gần đây hơn, dân chúng tại Libya đã vượt lên nỗi sợ xuống đường chống lại Khadafi, độc quyền lãnh đạo Libya từ 1969 đến nay.
Trong những ngày sắp tới, sau những cuộc xuống đường chống đối của dân chúng, không ai dám tiên đoán những gì sẽ xảy ra tại Bahrain, Iran, Yemen, Algeria, Morocco, Sudan, Syria, Jordania, Djibuti…

Một vài quốc gia Ả Rập còn lại như Saudi Arabia, các tiểu vương quốc Ả Rập và Palestine đang sống trong căng thẳng vì quần chúng bất mãn có thể xuống đường chống đối bất cứ lúc nào.

Cuộc sống bình thường

Điều làm nhiều người ngạc nhiên là không một thế lực bên ngoài nhúng tay vào can thiệp, nếu không muốn nói là bị việt vị vì không thể tiên đoán được gì, tất cả những cuộc xuống đường của dân chúng Ả Rập hoàn toàn tự phát và không có lãnh đạo.

Cái gì đã khiến cộng đồng người Ả Rập đồng loạt nổi lên chống lại các chế độ cai trị đương quyền ?

Người ta nói nhiều đến những nguyên nhân trực tiếp như vật giá leo thang, đời sống khó khăn, thất nghiệp gia tăng, tham nhũng chi phối mọi sinh hoạt trong xã hội, v.v.

Nhiều người còn cho biết sự bất mãn chính đến từ giới trẻ có học thức không tìm được việc làm, không một thanh niên nào thấy tương lai xán lạn dưới các chế độ độc tài. Cũng nên biết gần 50% dân số trong các quốc gia Ả Rập dưới 25 tuổi.

Người ta cũng nói đến những nguyên nhân gián tiếp như các giá trị phổ cập của loài người đã ảnh hưởng và khuyến khích người Ả Rập nổi dậy như tự do, dân chủ và nhân quyền.

Điều này đúng, nhưng chỉ đúng với khối thị dân bờ biển, nghĩa là những khu đô thị có quan hệ trao đổi thương mại và dịch vụ với các quốc gia khác.

Đối với phần đông dân chúng sống trong những vùng sâu và vùng xa hay trong sa mạc, những khái niệm này hoàn toàn xa lạ và họ sẽ không hề thấy khó chịu nếu bị giới quan quyền coi thường vì là một thói quen. Ước muốn chung của dân chúng trong các quốc gia Ả Rập là có một cuộc sống bình thường, nghĩa là có đủ cơm ăn áo mặc và con cái được đến trường như mọi dân tộc phát triển khác.

Kính trọng

Nhưng có một nguyên nhân ít ai nhắc tới, đó là ước muốn được kính trọng.

Sự thua kém của người Ả Rập trước các quốc gia phát triển phương Tây dưới các chế độ độc tài đã kéo dài quá lâu và không thể tiếp tục kéo dài thêm nữa. Sống kề cận với các quốc gia phương Tây Châu Âu, mặc cảm thua kém này càng gay gắt.

Các tổ chức khủng bố Hồi giáo cũng đã lợi dụng yếu tố này để khích động người Ả Rập hy sinh thánh chiến chống lại người phương Tây.
Nhưng chiêu bài thánh chiến của các tổ chức khủng bố không còn hấp dẫn được ai, thanh niên Ả Rập không muốn hy sinh cho những tham vọng điên cuồng này và chỉ hướng hy vọng vào các quốc gia phát triển phương Tây để có một mức sống cao.

Chính ước muốn được kính trọng này đã là mẫu số chung kết hợp người Ả Rập với nhau chống lại bạo quyền, họ không chịu im lặng cúi đầu trước sự cai trị hà khắc của các chế độ độc tài, cho dù là "độc tài bình thường".

Nhắc lại, từ sau khi đế quốc Ottoman sụp đổ năm 1922, phần lớn các quốc gia Ả Rập bị đặt dưới sự đô hộ hay bảo hộ của các đế quốc Châu Âu. Sau thế chiến II, mặc dầu được trả lại độc lập, các quốc gia Ả Rập vẫn lệ thuộc vào các quốc gia giàu có phương Tây, đặc biệt là cách tổ chức xã hội và khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Chỉ sau khi thành lập khối OPEC (Organization of Petroleum Exporting Countries) năm 1960, trụ sở đặt tại Vienna (Áo), các quốc gia Ả Rập mới có toàn quyền quyết định giá cả và khối lượng dầu thô sản xuất, nhưng tất cả kỹ thuật và thị trường tiêu thụ vẫn nằm trong tay các tập đoàn đế quốc cũ. Sự thua kém các quốc gia phát triển phương Tây vẫn chưa tìm ra được giải pháp.

Bất mãn

Tại Trung Cận Đông, sau khi lật đổ vua Farouk đệ nhất (1952) và tổng thống Mohammed Naguib (1954), trung tá Gamal Abdel Nasser lên cầm quyền và trở thành vị tổng thống thứ hai của Ai Cập (1956).

Ông là lãnh tụ Ả Rập đầu tiên áp dụng chủ nghĩa xã hội để đối đấu với Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển Tây Âu cùng với các vương quốc Ả Rập trong vịnh Persan.

Trong suốt thời gian cầm quyền, ông liên kết với Liên Xô và Trung Quốc để quốc hữu hóa kinh Suez và tấn công Do Thái. Mặc dù tất cả đều bị thất bại, Nasser đã trở thành lãnh tụ của khối Ả Rập vì dám chống lại các thế lực phương Tây. Năm 1970, ông từ trần.

Trước khoảng trống lãnh đạo trong khối Ả Rập, trong suốt thời gian từ 1960 đến 1970, hàng loạt sĩ quan Ả Rập nổi lên đảo chánh và thành lập các chế độ chuyên chính, một số vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Năm 1968, Saddam Hussein đảo chánh và nắm chính quyền tại Iraq ; năm 1969, đại tá Khadafi tại Libya và trung tá Gaafar el-Nemeyri tại Sudan ; năm 1970, Hafez el-Hassad tại Syria. Vì thiếu tư tưởng chỉ đạo, các chế độ độc tài Ả Rập này đều tự nhận là thành viên của khối xã hội chủ nghĩa để được Liên Xô và Đông Âu giúp đỡ.

Trong suốt thời gian cầm quyền, thay vì lo cho dân giàu nước mạnh, các cấp lãnh đạo đã một mặt sử dụng dầu thô như một phương tiện trao đổi với các quốc gia phát triển phương Tây để được chấp nhận như những chế độ độc tài bình thường; mặt khác nhân danh chủ nghĩa xã hội, hoï quốc hữu hóa của cải xã hội để vơ vét tài nguyên quốc gia vào tay gia đình và đảng phái của mình, có người còn áp dụng chính sách cha truyền con nối, bất chấp sự khổ cực của dân chúng.

Sự thua kém các quốc gia phương Tây vẫn còn nguyên vẹn và bất mãn của dân chúng trước hành vi tham nhũng của các viên chức chính quyền ngày càng lên cao.

Tiêu diệt đối lập

Tại Bắc Phi (Magreb) cũng thế, nhân danh chống các tổ chức khủng bố Hồi giáo, một số sĩ quan quân đội đã lên nắm chính quyền và áp dụng những chế độ độc tài đảng trị như Ben Ali tại Tunisia năm 1984 và Bouteflika Algeria (1999).

Khi nắm chính quyền, những người này cũng chỉ lo làm giàu cho gia đình và phe cánh mình, bất chấp sự nghèo khó chung của đất nước. Sự thua kém các quốc gia phát triển phương Tây không phải là ưu tư chính của các cấp chính quyền. Trí thức trong nước tiếp tục bị coi thường và báo chí bị cấm phát biểu.

Để củng cố quyền lực, các chế độ độc tài Ả Rập đều dựa vào quân đội. Vấn đề là sự trang bị và huấn luyện các lực lượng quân đội đều do các sĩ quan các quân đội Châu Âu, Nga và Hoa Kỳ đảm nhiệm.

Qua sự đào tạo này, những quân nhân Ả Rập không nhiều thì ít chịu ảnh hưởng bởi kỷ luật của người phương Tây mà họ hấp thụ, nghĩa là không dùng bạo lực để đàn áp dân chúng và không tiếp tay với tội ác.

Do đó, quân đội tại các quốc gia Ả Rập rất được lòng dân chúng và chỉ đảm nhiệm vai trò giữ gìn trật tự an ninh.

Khuyết điểm chung của các chế độ độc tài là tiêu diệt đối lập, cho dù là đối lập chính trị hay tôn giáo.

Đây là giải pháp giản dị nhất để bảo vệ quyền lực và quyền lợi ; ít có chế độ độc tài nào nghĩ đến ngày họ bị mất chính quyền. Khi tai họa ập tới, tất cả đều đã muộn màng. Vì không có đối lập, không ai hướng dẫn và ngăn cản được những cuộc trả thù báo oán của đường phố.

Nạn nhân của những cuộc xuống đường là những cấp lãnh đạo cấp thấp, những công nhân viên chức địa phương. Những cấp lãnh đạo cấp đều đã bỏ chạy hay cất giấu tài sản tại những nơi an toàn.

Thông điệp từ những cuộc nổi dậy của người Ả Rập là các chế độ độc tài hãy nhanh chóng cải tổ xã hội, chấp nhận sự thành hình của những tổ chức đối lập và tạo công ăn việc làm cho giới trẻ.

Thực hiện được những mục tiêu này, mức sống của người Ả Rập sẽ được nâng cao, danh dự của họ sẽ được hồi phục và ổn định xã hội sẽ được tái lập.


Nguyễn Văn Huy



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/02/24

CẦN PHẢI GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Quan Điểm

CẦN PHẢI GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN


 

      Theo đúng công pháp quốc tế, tất cả mọi chế độ CS đều là bất hợp pháp, vì không thực sự đại diện cho người dân. Một chế độ thực sự đại diện cho người dân thì phải qua các cuộc bầu cử thực sự tự do, tuyệt đối tôn trọng Quyền Dân Tộc Tự Quyết qua các điều khoản ấn định rõ rệt trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.


      Và vì là một chế độ không đại diện cho người dân, cho nên về đối nội, tập đoàn CS Hànội hiện nguyên hình là một băng đảng Mafia, tham nhũng thúi nát, cướp đoạt tài sản của nhân dân và ăn cắp của công. Còn đối ngoại thì lại hèn hạ cúi đầu thần phục ngoại bang, cam tâm cắt đất dâng biển cho kẻ thù phương Bắc.


      Với tình trạng này, bao lâu chế độ CS còn cai trị đất nước thì mãi mãi người dân sẽ còn sống trong cảnh nô lệ bị đàn áp, bóc lột tận xương tủy. Thậm chí, với việc để cho Tàu cộng được đặc quyền khai thác tài nguyên, cho di dân Tàu vào Việt Nam ồ ạt như hiện nay, chắc chắn một ngày không xa Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Tàu.


      Là những công dân yêu nước thương nòi, ai cũng đau lòng xót dạ. Càng đau lòng xót dạ lại càng căm giận bè lũ cầm quyền gian manh phản bội tổ quốc, phản bội đồng bào. Đã có nhiều công dân yêu nước lên tiếng, trẻ có, già có, các cựu đảng viên lão thành và trí thức đồng loạt lên tiếng báo động nguy cơ mất nước. Nhưng tập đoàn CS cầm quyền vẫn ù lì vô cảm, vẫn tiếp tục đàn áp bắt bớ bỏ tù những người yêu nước không thương tiếc!…


      Nay thời cơ đã đến ! Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi Quốc Dân đồng bào Quốc nội hãy can đảm đứng lên tranh đấu, đòi hỏi bạo quyền Việt cộng hãy trả lại cho người dân cái quyền được tự do định đoạt số phận của chính mình và dân tộc mình để khỏi hổ thẹn với các đấng tiền nhân cũng như tự hào ngẫng mặt nhìn bè bạn khắp năm châu!


      Cuộc Cách mạng ở Tunisia và Ai Cập đã thành công. Ngọn lửa Cách mạng Nhân quyền cũng đang lan toả khắp nơi và hiện đang bùng phát mạnh ngay tại Hoa Lục. Đó là điềm báo trước ngày tàn của các chế độ CS. Những người lãnh đạo CS Hànội hãy nhận rõ tình hình mà sớm thức tỉnh quay trở về với dân tộc để được sống còn.


     Một khi mà Việt Nam đã thực hiện được quyền Dân Tộc Quyết, chúng ta sẽ lấy lại tất cả những phần đất đã mất. Bởi vì : Chế độc CS Hànội là Bất Hợp Pháp. Do đó, tất cả những văn kiện bán nước do tập đoàn CS Hànội ký kết với ngoại bang cũng đều là Bất Hợp Pháp.


Chủ nhiệm Võ Văn Sáu

Góp Gió – 24-2-2011


http://lotus-revolution.blogspot.com/2011/02/can-phai-giai-che-o-cong-san.html




Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/02/23

Một Kiểu Cách Mạng Mới

Một Kiểu Cách Mạng Mới

Nguyễn Hưng Quốc


Cuộc cách mạng lật đổ Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali ở Tunisia và Tổng thống Hosni Mubarak ở Ai Cập trong mấy ngày đầu tháng 2 khiến cả thế giới sửng sốt. Sửng sốt, trước hết, vì sự bất ngờ; sau đó, vì tốc độ nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng; và cuối cùng, vì những đặc điểm mới mẻ và có phần lạ lùng của chúng.

Báo chí Mỹ tiết lộ là từ tháng 8 năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã ra lệnh cho các cố vấn an ninh soạn thảo một bản báo cáo mật về khả năng nổi dậy của dân chúng ở các quốc gia thuộc khối Ả Rập. Điều này có nghĩa là lúc ấy, ông và các quan chức cao cấp trong Tòa Bạch ốc đã nhận thức được sự bất mãn của dân chúng đã lên cao, có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Vậy mà, khi các cuộc biểu tình tại Ai Cập nổ ra, giới tình báo Mỹ vẫn không hề biết trước, và chính phủ Mỹ vẫn thấy ngỡ ngàng và lúng túng, khiến nhiều người, nhất là những người trong đảng Cộng Hòa, cho là Tổng thống thiếu hẳn thông tin và cũng thiếu cả những dự đoán cần thiết để có thể đưa ra những quyết định nhanh nhạy và phù hợp với các diễn biến mới. Riêng chính phủ Pháp, dù có quan hệ lâu đời và mật thiết với Tunisia, cũng thấy bất ngờ trước các chuyển biến ở quốc gia cựu thuộc địa ấy.

Không những bất ngờ, các cuộc xuống đường của dân chúng tại Tunisia và Ai Cập còn diễn ra với một tốc độ rất đáng kinh ngạc. Nhanh. Cực nhanh. Từ lúc khởi sự cho đến lúc kết thúc, cuộc cách mạng ở cả Tunisia lẫn Ai Cập chỉ mất có mấy tuần.

Nhưng điều khiến nhiều người, nhất là giới chính trị gia và trí thức sửng sốt nhất chính là những đặc điểm của các cuộc cách mạng mới vào đầu năm 2011 này.

Trước, trong thế kỷ 20 vừa qua, có vô số cuộc cách mạng ở khắp nơi trên thế giới. Có thế nói thế kỷ 20 là thế kỷ cách mạng, từ cách mạng cộng sản đến các cuộc cách mạng giành độc lập của các quốc gia thuộc địa của phương Tây. Riêng tại Việt Nam đảng Cộng sản thường tự hào là họ tiến hành đến cả ba cuộc cách mạng, có khi cùng lúc: cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng thống nhất đất nước và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là chưa kể các cuộc cách mạng gọi là cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng văn hóa, v.v...
Tất cả các cuộc cách mạng trong thế kỷ 20 đều có một số đặc điểm giống nhau: một, gắn liền với một đảng chính trị; hai, đảng ấy gắn liền với một ý thức hệ nhất định; và ba, đảng ấy có một tổ chức chặt chẽ, được rèn luyện và đã gặp nhiều thử thách, hơn nữa, còn đặt dưới sự lãnh đạo của một cá nhân dược xem là có tài kiệt xuất.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nửa đầu thế kỷ 20 như thế. Các cuộc cách mạng phản- xã hội chủ nghĩa vào hai thập niên cuối của thế kỷ 20 cũng như thế. Cũng gắn liền với các tổ chức chống cộng và tranh đấu cho tự do dân chủ. Cũng được đặt trên nền tảng một ý thức hệ phi-vô sản nào đó. Cũng có những gương mặt lãnh tụ sáng chói từng vào tù ra khám và được đông đảo dân chúng cũng như thế giới ủng hộ. Nếu trước đây, trong các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, có những gương mặt đầy hào quang như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Fidel Castro, Tito, v.v... thì gần đây, trong các cuộc cách mạng giải-vô sản hóa, tức cách mạng đánh dấu sự cáo chung của chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng nổi bật lên những tên tuổi lớn, có sức quyến rũ đặc biệt đối với quần chúng, chẳng hạn, trường hợp của Vaclav Havel, người sau này lên làm Tổng thống của Czechoslovakia; hay trường hợp của Lech Walesa, người đồng sáng lập phong trào Đoàn Kết, giải Nobel hòa bình năm 1983, sau trở thành Tổng thống đầu tiên của Ba Lan thời hậu-cộng sản.

So với các cuộc cách mạng trong quá khứ, các cuộc cách mạng gần đây ở Tunisia cũng như ở Ai Cập và nhiều cuộc cách mạng khác đang manh nha ở một số quốc gia Ả Rập như Yemen, Bahrain, Libya và Iran có những đặc điểm khác hẳn.

Nét khác biệt đầu tiên là: chúng thực sự là cuộc cách mạng của quần chúng. Xưa nay, nói đến cách mạng, bao giờ người ta cũng nhấn mạnh đến yếu tố quần chúng. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, quần chúng bị/được kích động, xúi giục, dẫn dắt, điều khiển, quay cuồng phía trước hoặc phía sau một tổ chức, thường là một đảng chính trị nào đó, vốn đóng vai trò đầu não, lãnh đạo. Còn các cuộc cách mạng vừa diễn ra ở Tunisia và Ai Cập? Trước và sau quần chúng, không có tổ chức chính trị nào cả. Một số người đóng vai trò cổ động chỉ giữ chức năng điều hợp, vậy thôi. Chứ không phải là những nhà lãnh đạo. Đó là những cuộc nổi dậy của dân chúng, hoàn toàn có tính chất tự phát. Mở đầu cuộc cách mạng ở Tunisia không phải là một buổi ra mắt chính trị với những tuyên ngôn, tuyên cáo, thề nguyền, quyết tâm thư ồn ào. Mà chỉ là cái chết của một thanh niên 27 tuổi nghèo khó tên Mohamed Bouazizi. Bán hàng ngoài đường, bị cảnh sát sách nhiễu và nhục mạ, anh tự thiêu để phản đối vào ngày 17 tháng 12 năm 2011. Chính ngọn lửa thiêu cháy anh cũng sẽ thiêu cháy cả chế độ độc tài của Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali, khiến nhà độc tài này phải từ bỏ quyền hành từng nắm giữ trong cả 23 năm và chạy trốn vào ngày 14 tháng 1, đúng 10 ngày sau khi Mohamed Bouazizi chết vì các vết bỏng quá nặng.

Nét khác biệt thứ hai là: cuộc nổi dậy tự phát của quần chúng, các cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập không gắn liền với một ý thức hệ với những cương lĩnh hay guồng máy tổ chức nào cả. Chúng chủ yếu chỉ gắn liền với những mạng truyền thông xã hội, từ facebook đến twitter, điện thoại di động, v.v... Trước hết là facebook. Với nhiều nhà nghiên cứu chính trị, dấu mốc xa xôi khởi đầu cuộc cách mạng ở Ai Cập vừa qua là việc một phụ nữ trẻ mở trang facebook để ủng hộ cuộc đình công của các thợ dệt vào tháng 4 năm 2008. Người phụ nữ ấy bị bắt và chỉ được thả ra sau đó trước áp lực của dư luận quốc tế. Chính việc làm ấy đã giúp người dân Ai Cập, đặc biệt giới trẻ, nhận thức được sức mạnh của kỹ thuật truyền thông hiện đại. Và họ đã sử dụng facebook như một thứ vũ khí hữu hiệu trong việc tập hợp lực lượng trong cuộc nổi dậy vừa qua. Đóng vai trò có khi còn quan trọng hơn facebook là điện thoại di động. Theo các bình luận gia trên thế giới, chính cái máy chụp hình gắn trong các chiếc điện thoại di động được sáng chế từ đầu thập niên 1990 đã trở thành một vũ khí chống độc tài quan trọng. Nó cho phép mọi người, bất cứ là ai, cũng có thể chụp được những bức ảnh ấn tượng nhất rồi đăng tải trên các mạng xã hội như facebook hoặc twitter, hoặc gửi cho bạn bè hoặc giới truyền thông, từ đó, lan rộng khắp thế giới. Trong cuộc biểu tình tại Iran vào tháng 6, 2009, bức ảnh về cái chết của Neda làm chấn động thế giới đã được chụp và truyền bá rộng rãi bằng cách ấy. Trong hai cuộc nổi dậy tại Tunisia và Ai Cập vừa rồi, cũng chính những bức ảnh tương tự đã là những mồi lửa làm thiêu rụi nền chuyên chế kéo dài cả mấy chục năm một cách nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng của mọi người.

Cuối cùng, là một cuộc nổi dậy tự phát của quần chúng chung quanh các phương tiện truyền thông hiện đại, các cuộc cách mạng mới mẻ mở đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21 này không hề có lãnh tụ! Hình ảnh nổi bật nhất trong cuộc nổi dậy ở Tunisia là hình ảnh anh thanh niên tự thiêu Mohamed Bouazizi 27 tuổi; còn ở Ai Cập là anh thanh niên tên Wael Ghonim, 30 tuổi, giám đốc điều hành về tiếp thị của công ty Google ở Dubai.
Những đặc điểm vừa kể - theo nhiều nhà nghiên cứu - sẽ là những đặc điểm chung của các cuộc cách mạng thế kỷ 21. Theo tôi, chúng cũng giúp giải đáp nhiều thắc mắc từng dày vò những người Việt Nam hay ưu tư đến tự do, dân chủ và tiền đồ của đất nước lâu nay liên quan đến một số vấn đề "cổ điển" như lãnh tụ và tổ chức.


Nguyễn Hưng Quốc

http://lotus-revolution.blogspot.com/2011/02/mot-kieu-cach-mang-moi.html



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/02/22

Tiền tệ nước Mỹ: Ai thực sự làm chủ nước Mỹ ? Ai nắm quyền lực nước Mỹ ?

Sng trong thế gii Tư Bn, chúng ta nên biết nhng thông tin hu ích này. Xin chuyn đến quý thân hu mt bài viết đáng đc để suy ngẫm.

Dear all Seniors,

Đầu năm mới dương lịch gửi đến quí Seniors bài viết về Tiền tệ nước Mỹ, trước đây vài năm cũng có một bài của một vị bác sĩ người Việt nói cùng một vấn đề như thế này. Là một chuyên viên địa ốc mà phổ biến bản tin này thì thật là nghịch lý, tuy nhiên mỗi người trong chúng ta cần có cái nhìn chính xác hơn khi chúng ta đang sống ở xứ Mỹ mà Tư Bản Mỹ đầy quyền lực đã dùng đồng Đô La chi phối cả thế giới. Bài nghiên cứu rất công phu, bỏ qua rất uổng.

Thân mến 

 

Tiền tệ nước Mỹ: Ai thực sự làm chủ nước Mỹ ? Ai nắm quyền lực nước Mỹ ?


Câu trả lời là: KHÔNG BAO GIỜ MUA NHÀ HOẶC ĐẦU TƯ VÀO ĐỊA ỐC. 

Vì vấn đề rất phức tạp nên chúng tôi xin được tách ra từng phần để quí vị dễ hiểu.

1. Ai điều khiển (control) và là chủ thật sự của địa ốc.

2. Ai kiểm soát hệ thống tiền tệ của Mỹ.

3. Họ là ai ?

4. Những Tổng Thống Mỹ đã liên quan đến "Họ".

5. Có nên mua nhà hay không ?

 

 1. Ai điều khiển (control) và là chủ thật sự của địa ốc

Họ là những người có quyền qui định lãi suất thật thấp để đánh vào lòng tham con người.  Vì lãi suất thấp nên mọi người đổ xô đi mua nhà.  Gía nhà tăng giả tạo (buble housing), đương nhiên.

Khi giá nhà đã lên tới đỉnh và số người mua nhà đã đủ nhiều theo ý họ, họ bắt đầu tăng lãi suất.  Họ tăng tới khi nào số người mất nhà đã đủ theo ý họ, lãi suất sẽ không tăng.

Bước kế tiếp là họ tịch thu nhà bao gồm cả lấy nhà từ những nhà bank bị phá sản (Countrywide, Washington Mutual…) dưới hình thức mua lại các nợ xấu với giá rẻ mạt một cách hợp pháp. 

Hiện tại, họ đã là chủ hơn 55% đất đai, địa ốc ở Mỹ.

Sau khi đã lấy được tài sản của quí vị, họ lại hạ lãi suất để bán ra trở lại với giá của họ.

Họ đã từng gây ra cuộc khủng hoảng những năm 1930.  Bây giờ, bổn cũ xào lại. 

Quí vị thường hay nghe nói khủng hoảng kinh tế có chu kỳ. 

Thưa đúng vậy.

Chính họ tạo ra chu kỳ đó để kiếm tiền thật nhanh, thật nhiều.  Vì chu kỳ suy thoái không thể tự nhiên mà có.  Nếu nó tự nhiên có, sẽ có qui luật ngăn ngừa.  Vì do người gây ra nên không biết lúc nào xảy ra.

Chính Tổng Thống thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) còn phải thốt lên: " Nếu cứ như thế này, con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được."

Giáo sư Milton Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết: "Nhứt định là "họ" đã gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng vì thu rút lại một phần ba (1/3) số tiền đang lưu hành từ năm 1929 tới năm 1930".
 

Quí vị có thể hỏi tiền ở đâu mà họ có thể khuynh loát toàn thể địa ốc nước Mỹ?

Câu trả lời rất đơn giản: 

Họ có quyền in tiền (giấy xanh dollar) và họ đã in gần 100 năm nay.  Sau khi in tiền, họ mua lại bond của Chính Phủ, họ cho các nhà bank nhỏ mượn.  Tiền lời từ bond trả cho họ là từ tiền thuế của người dân.  Như vậy, họ đã ăn cả chì lẫn chài.  Nghĩa là, họ in tiền ra từ số không (from nothing) và mọi người phải trả lời cho số tiền đó. Họ là ai?  

 

2. Ai kiểm soát hệ thống tiền tệ của Mỹ

Năm 1691, các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ phát hành tiền giấy gọi là "Colonial Scrip" để trả lương cho công chức và để cho dân sử dụng..

Ông Benjamin Franklin, chủ nhà in, chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu.

Chính phủ không cần lấy thuế để có tiền. 

Lạm phát (inflation) hay giảm phát (deflation) không xảy ra.  Nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có thất nghiệp. 

Ngược lại, London của mẫu-quốc có đầy dãy ăn xin.

Năm 1751, các chủ nhà bank Anh lobby triều đình. 

Sau đó, vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền "coins" của mẫu-quốc (do các nhà bank Anh đã hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát hành).

Năm 1752, Vua George III kế vị giữ nguyên lệnh ấy. Các thuộc địa bị ảnh hưởng tai hại. Vì thiếu tiền coins do mẩu quốc siết để tạo sự kém phát (deflation), người chủ không đủ tiền mướn thợ, hàng hóa không được sản xuất.  Mười ba thuộc địa bị nghèo đói, nên họ đứng lên chống đối chính quyền dẫn đến cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774.

Quốc hội Mỹ (Congress) quyết định phát hành tiền giấy được gọi là "the Continental" dưới hình thức IOU ( I owe you.).  Chính Phủ sẽ trả lại bằng tiền coins ( vàng hay bạc) sau này. Khoảng 200 triệu dollars dưới hình thức IOU được phát hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Mẫu quốc (Anh) phản ứng bằng cách in tiền giả đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa.  Một cuộc đại lạm phát xảy ra.  Nghĩa la, mẫu-quốc Anh thua trên chiến trường, nhưng thắng trên mặt trận kinh tế.

Tiền IOU không còn giá trị vì nạn tiền giả. Hiến Pháp Hoa Kỳ đã được viết ra: "Congress có quyền "create coin money" (thay vì "create money").  Khai thác lỗ hở to tát đó, các ngân hàng Anh quốc tư nhân nói rằng chiếu theo Hiến Pháp, chính phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền phát hành tiền giấy. Nhà bank in giấy cam kết sẽ trả lại đúng số coins (bằng vàng hay bạc) ghi trên giấy.  Dân chấp nhận coi những giấy ấy như là tiền.

ARTICLE 1, SECTION 8 OF THE CONSTITUTION STATES THAT CONGRESS SHALL HAVE THE POWER TO COIN (CREATE) MONEY AND REGULATE THE VALUE THEREOF.

Tổng Thống thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) thấy cái nguy hại cho đất nước và gọi liên đoàn các nhà bank (the banking cartel) là "một con quái vật ăn thịt ngưởi có cái đầu của con hydra".

Theo online dictionary, Hydra là một con rắn có chín đầu (trong thần thoại) hễ chặt đầu này thì nó sẽ mọc hai đầu khác. Nó có nhiều cái vòi (tentacles) rất dài để bắt mồi từ xa.

Tổng Thống Thomas Jefferson nói rằng "Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát (inflation) rồi bằng sự giảm phát (deflation) các nhà bank và các công ty sẽ phát triển và tước đoạt hết tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được."

Năm 1811 Congress không chấp nhận tái bản cho đặc quyền (phát hành tiền giấy) cho First U.S.Bank. Thì chiến tranh với Anh quốc (the War of 1812) bùng nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát (inflation) và nợ nần (debt).

Năm 1816, vi lạm phát và nợ nần do chiến tranh , Tổng Thống thứ tư James Madison (1809-1817) vị Tổng Thống này phải ký một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States. 

Năm 1832, Tổng Thống thứ 7 Andrew Jackson (1829-1837) veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States.

Trong bản veto

Ông viết:" Không có cái gì nguy hại cho sự tự do và độc lập của chúng ta hơn là hệ thống nhà bank nằm trong tay của người ngoại quốc.  Họ kiểm soát tiền tệ của chúng ta, lấy tiền của dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, thì còn đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là hải quân (a navy) hay một đạo quân (an army) của địch".

Cho nên đến tháng 4- 1834 Hạ Viện (House of Representatives) với 134 phiếu thuận và 82 phiếu chống, đã hủy bỏ việc tái bản đặc quyền (phát hành tiền giấy) cho Second U.S.Bank.

Đến tháng 1- 1835 thì Tổng Thống Jackson trả được hết các nợ của chánh phủ. Rồi ngày 30-1- 1835, khi Tổng Thống. Jackson đến Capitol để dự tang lễ của Dân-biểu Warren R. Davis của South Carolina thì ông bị mưu sát bởi một tên thợ sơn điên đứng cách Ông có sáu feet bắn hai phát đều trật.

Nhưng sau khi Tổng Thống Jackson đóng cửa nhà bank trung ương (Central Bank) thì tiền giấy được dùng là những banknotes của của các nhà banks tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của quốc gia (national currency).  Mghĩa là  con quái vật chưa chết ...

Tổng Thống thứ 16 Abraham Lincoln (1861-1865), liền sau khi đắc cử thì Nội Chiến Nam-Bắc (The Civil War) bùng nổ (1860) vì vấn đề "Nô-lệ" (Slavery).

Các nhà bank của vùng Đông (tức là thuộc về Union) đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với phân lời rất nặng từ 24 tới 26%. Tổng Thống Lincoln từ chối và quyết định chánh phủ sẽ in tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là "United Note' nhưng dân chúng quen gọi là "Greenback".

Vì tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, nên trong một nhiêm kỳ, ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam, Tổng Thống Lincoln đã biến Hoa-kỳ thành một nước kỹ-nghệ khổng lồ.

Kỹ nghệ thép (steel industry) được thành lập. Hệ thống hỏa-xa xuyên lục-địa được xây dựng. Bộ Canh Nông được thành lập để thúc đẩy việc chế tạo nông cơ rẻ tiền. Hệ thống đại học miễn phí được thành lập. Mức sản xuất lao động (labor productivity) tăng lên từ 50 đến 75 %.

Nhưng đến ngày 14-4-1865, thì một kịch-sĩ tên là John Wilkes Booth ám sát Tổng Thống Lincoln trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin trong rạp hát Ford's Theatre ở Washington.

Thế là con hydra lại có cơ mọc đầu lại. Năm 1913, thì một con hydra mới xuất hiện nhờ luật Federal Reserve Act 1913.

Năm 1907 xẩy ra một cuộc "Khủng Hoảng Tài Chánh" (a Financial Panic).

Năm 1908 Tổng Thống thứ 26 Theodore Roosevelt (1901-1909), lập ra National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài chánh. Chủ tịch  Commission là Nghị Sĩ Nelson Aldrich (bên ngoại của David Rockefeller Sr.).

Aldrich Commission đi sang Âu-châu để nghiên cứu trong vòng hai năm. Khi trở về, Ông lập lên một nhóm bí mật gọi là "The First Name Club" và cấm không ai trong gia đình được nhắc tới Last Name.  Nếu có lộ ra ngoài cũng không ai biết là có những ai trong cái club này.

"First Name Club" được triệu tập đến một hòn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ có tên là đảo Jekyll Island, ở Georgia, họp trong chín ngày liên tiếp, để viết một dự luật cải tổ hệ thống nhà bank và luật pháp tiền tệ (the banking and currency legislation) sẽ trình cho Congress. 

Để mọi người có cảm giác đây là cơ quan chính phủ, danh từ "Federal" và "Reserve" có trong tên gọi của nó. 

Tên của con hydra, ngày nay, được gọi một cách cung kính là FED hay Federal Reserve Bank hay Quỹ Dự Trữ Liên Bang (QDTLB). 

Ngày 18-9-1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận Dự Luật Tiền Tệ của "First Name Club", 287 phiếu thuận và 85 phiếu chống.

Ngày 19-12-1913, Thượng Viện chấp thuận với nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu chống.

Có một việc lạ nhứt chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử của Hoa Kỳ. 

Dự luật ở Hạ Viện có 40 điểm mà Thượng Viên không đồng ý nên đã sửa lại. Sau khi Thượng Viên biểu quyết, hai Viện phải ngồi chung lại để sửa lại sao cho cả hai bên đều đồng ý.

Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một weekend. Ngày Thứ Hai 22-12-1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống rồi cùng ngày, sang Thượng Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống.

Và Tổng Thống Woodrow Wilson (1913-1921), vị Tổng Thống thứ 28 của Mỹ ký thành Luật ngày hôm sau Thứ Ba 23-12-1913.

Một đặc ân lớn nhất Chính Phủ Hoa Kỳ thời đó đã cho không Quỹ Dự Trữ Liên Bang (FED) là:

Quỹ Dự Trữ Liên Bang ĐƯỢC QUYỀN IN TIỀN GIẤY (dollar xanh). 

Còn chính phủ chỉ in tiền coin (one dollar, quarter, dime, nickel, peny). 

Hạ Viện Dân Biểu Charles Lindbergh Sr. nói:" Luật tạo ra FED là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt của mọi thời đại Hệ thống tài chánh đã bị lật lại cho một nhóm ngừơi chỉ có biết lợi dụng Hệ thống là của tư-nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những cái lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác ".

Tổng Thống Woodrow Wilson cuối đời đã hối hận vì ký dự luật trên.

Còn Ông Louis T. McFadden Chủ tịch The House Banking and Currency Commttee, thì nói: "Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một việc được trù liệu rất cẩn thận … Những chủ nhà bank quốc tế tìm cách đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho tất cả chúng ta"


3. Họ là ai

Điều cần nhớ là Quỹ Dự Trữ Liên Bang là nhà bank tư nhân.  Những điều này được giữ rất bí mật, nhưng cuối cùng cũng bị công khai hóa.

Họ là:

Rothschild Bank of London,

Warburg Bank of Hamburg,

Rothschild Bank of Berlin,

Lehman Brothers of New York,

Lazard Brothers of Paris,

Kuhn Loeb Bank of New York,

Israel Moses Seif Banks of Italy Goldman,

Sachs of New York,

Warburg Bank of Amsterdam,

Chase Manhattan Bank of New York

(Reference 14, P. 13, Reference 12, P. 152)

 Những nhà bank này có một sự llên hệ chặt chẽ với nhà bank ở Anh (London Banking Houses) để kiểm soát Quỹ Dự Trữ Liên Bang.


4. Những Tổng Thống Mỹ đã liên quan đến "Họ".

- Tổng Thống thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) phản đối hệ thống nhà bank tư nhân, nhưng đã không làm gì trong suốt những năm tại chức.

- Tổng Thống thứ tư James Madison (1809-1817) phải ký một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States, vì nợ nần và chiến tranh. 
- Tổng Thống thứ 7 Andrew Jackson (1829-1837) veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States.  Sau đó, bị mưu sát.

- Tổng Thống. thứ 16 Abraham Lincoln (1861-1865), quyết định chính phủ sẽ in tiền lấy.  Kết thúc là bị ám sát chết.

- Tổng Thống thứ 26 Theodore Roosevelt (1901-1909), thành lập National Monetary Commission, khai sinh ra con hydra mới.

- Tổng Thống thứ 28 Woodrow Wilson (1913-1921) ký thành Luật ngày Thứ Ba 23-12-1913.  Nghĩa là FED được quyền in tiền giấy.

- Tổng Thống John F. Kennedy thứ 35 (1961-1963) ký một Hành Pháp Lệnh (an Executive Order số 11110) cho phép chính phủ liên bang phát hành tiền mà không phải qua FED ngày 4-6-1963. 

Năm tháng sau, ngày 22-11-1963, Tổng Thống.Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát và tên này hai ngày sau bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas Police Station.  Lệnh hành pháp không được thực hiện.

Nói tóm lại, số phận của những vị Tổng Thống đã có gan dám chặt đầu con hydra tiền tệ: Tổng Thống.Andrew Jackson bị mưu sát, Tổng Thống.Abraham Lincoln và Tổng Thống.John F.Kennedy bị ám sát. 


5. Có nên mua nhà hay không?

Quí vị hãy nhớ lại sau vụ 911 và dot com phá sản, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 6%. 

Hơn một năm sau, dưới thời Tổng Thống Bush đã hạ xuống 5%. 

Không hiểu vì sao ông Greenspan, chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang vội vã hạ tiền lời xuống thật thấp. Thế là mọi người đổ xô mua nhà.

Kịch bản cũ lại tái diễn. 

Khoảng 2 năm sau, ông Ben Bernanke bắt đầu tăng lãi xuất và gây ra cuộc khủng hoảng gia cư như những năm 1929-1930. 

Hàng triệu người mất nhà. 

Nhà bank nhỏ khai phá sản. 

Quỹ Dự Trữ Liên Bang mua lại những nợ xấu với giá rẻ mạt môt cách hợp pháp.

Có một điều người viết cũng không hiểu.

Tại sao lại có vụ 911?

Quí vị sẽ trả lời là để phá hoại kinh tế Hoa Kỳ.  Quí vị đúng vì tỷ lệ thất nghiệp tăng. À, lúc này ông Greenspan có lý do để hạ lãi suất.  Nhờ hạ lãi suất nên có buble housing.  Nhờ có buble housing nên Ben Bernanke có lý do tăng lãi suất, tịch thu nhà, in tiền…  Thật là một chuỗi khó hiểu.

Chương trình kích cầu của Tổng Thống Obama mới có 600 tỷ mà mọi ngưòi đã la í ới.  Tháng 11-2010, Fed tuyên bố đã tung ra 9000 tỷ cho các nhà bank nhỏ vay. 

Số tiền kích cầu chưa bằng số lẻ của FED tung ra.

Mới đây, Ben Bernanke còn tuyên bố sẽ in ra 600 tỷ dollar và mua lại bond từ chính phủ. Thế là tự nhiên, in tiền từ giấy (from nothing) và chính phủ phải trả tiền lời cho FED.  Chúng ta là những người thọ thuế phải trả tiền lời đó.

Cũng như nợ của chính phủ do FED gây ra lớn lên từ số không cho tới năm 2006 là $8.5 tỷ (trillion).  Hiện nay, nợ đã lên trên 13,000 tỷ (trillion).

Nếu quí vị có thừa tiền nhàn rỗi và có thể trả off căn nhà muốn mua, quí vị có thể mua.

Nếu quí vị phải down payment và mượn tiền nhà bank thì đừng mua. 

Quí vỉ chỉ là nạn nhân của con quái vật hydra. 

Quí vị phải nhớ là cách tính tiền lời của nhà bank là lãi mẹ đẻ lãi con, nói theo kiểu bình dân.

Nói theo kiểu toán học là hàm số mũ (exponential equation) và phân lời nằm trên lũy thừa. 

Cho dù lãi suất thấp đến đâu, số tiền quí vị bán căn nhà sau khi trả off vẫn ít hơn số tiền quí vị không mua nhà và để dành.

Điều quan trọng khi mua nhà quí vị cần biết, quí vị đã không hỏi. 

Cho dù quí vị hỏi, loan officer cũng chưa chắc có câu trả lời. 

Quí vị cần phải hỏi: "Tôi sẽ trả cho nhà bank bao nhiêu sau 30 năm?"

Sau đó quí vị thử tính xem có thể bán hơn con số đó hay không cộng với lạm phát 4% hàng năm.

Không phải Tổng Thống Bush gây ra cuộc khủng hoảng. 

Cũng chẳng phải Tổng Thống Obama cứu nước Mỹ. 

Chính con quái vật FED gây ra. 

Nó chính là kẻ thù của nước Mỹ.

Quí vị yên tâm. 

Kinh tế Hoa Kỳ không bao giờ suy tàn. 

Vì Quỹ Dự Trữ Liên Bang in tiền US Dollar.

http://lotus-revolution.blogspot.com/2011/02/tien-te-nuoc-my-ai-thuc-su-lam-chu-nuoc.html



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Hosni Mubarak từ chức & Cái gân gà Ai Cập

Hosni Mubarak từ chức & Cái gân gà Ai Cập
Trần Bình Nam


Theo chân Tunisia, ngày 25/01/2010, dân Ai Cập xuống đưòng tại Cairo, đòi tổng thống Mubarak từ chức. Mục đích của những người đấu tranh dân chủ là tổ chức một cuộc biểu dương để phản đối cảnh sát mặc thường phục giả dân đánh chết ông Khaled Said, một người chủ trương tự do thông tin trên mạng internet trong tháng 06/2010 tại thành phố Alexandria.

Cuộc biểu dương được sự tán trợ của tiến sĩ Mohamed ElBaradei, nguyên Giám đốc Nguyên Tử Lực Cuộc Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc (International Atomic Energy Agency – IAEA). Ông ElBaradei là một công dân Ai Cập có tinh thần độc lập, chủ trương dân chủ. Trong thời gian giữ chức vụ giám đốc Nguyên Tử Lực Cuộc Quốc Tế ông không để cho các khối thế lực trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến các các quyết định của ông.

Ông Hosni Mubarak nhậm chức tổng thống Ai Cập từ năm 1981 sau khi tổng thống Anwar Sadat bị ám sát vì ký Hiệp ước Hoà bình với Do Thái. Ông Mubarak áp dụng một chế độ nửa dân chủ, nửa độc tài, nhưng bản chất là độc tài, với luật "khẩn cấp" (emergency law) và một đội ngũ cảnh sát 150.000 người sẵn sàng mạnh tay với cá nhân và tổ chức chính trị nào công khai cạnh tranh quyền lực với ông. Ông đặt Muslim Brotherhood - một phong trào Hồi giáo đối lập với Mubarak và chống hiệp ước hoà bình với Do Thái - ra ngoài vòng pháp luật.

Ông Mubarak duy trì quyền lực với sự ủng hộ ngầm của Hoa Kỳ. Ông tiếp tục chính sách của người tiền nhiệm, tôn trọng hiệp ước hoà bình với Do Thái và làm trung gian hoà giải trong cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine, đồng thời giúp Hoa Kỳ trong các mối quan hệ thường căng thẳng giữa các nước Trung Đông với Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ rất cần Ai Cập và các nước A Rập tại Trung Đông cũng cần Ai Cập. Hằng năm Hoa Kỳ viện trợ kinh tế và quân sự cho Ai Cập 1.5 tỉ mỹ kim. Một tỉ số lớn tiền viện trợ được tổng thốngMubarak dùng để củng cố bộ máy đàn áp của ông.

Người dân Ai Cập đứng lên

Năm nay 82 tuổi ông Mubarak biết tuổi trời không cho phép ông tiếp tục làm Tổng thống Ai Cập. Nhưng tin tưởng vào thế đứng của ông trong cuộc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và khối Hồi giáo ông đã chuẩn bị "truyền ngôi" cho con trai Gamal Mubarak qua một cuộc bầu cử gian lận khác dự trù vào tháng 9 năm nay.

Phong trào tự phát đòi dân chủ tại Ai Cập làm cho Hoa Kỳ lúng túng, và các ước A Rập trong vùng cũng cảm thấy bất an. Các cuộc xuống đường đòi dân chủ đã diễn ra tại Yemen, Sudan. Rục rịch tại Jordan, Algeria, Lybia và đang làm cho Morocco và Saudi Arabia, hai nước Hồi giáo ổn định nhất cảm thấy lo lắng.

Hoa Kỳ lúng túng vì Hoa Kỳ vốn chủ trương quyền dân tộc tự quyết qua tiến trình dân chủ và bầu cử tự do, Hoa Kỳ không thể làm ngơ trước các cuộc biểu tình tự phát của nhân dân Ai Cập. Nhưng do nhu cầu an ninh của mình (và Do Thái) Hoa Kỳ cũng không muốn các cuộc biểu tình thành công lật đổ chế độ Mubarak. Ai Cập chưa có truyền thống dân chủ, một sự thành công của họ tạo ra một khoảng trống chính trị có thể bị những thành phần Hồi giáo quá khích (thường có tổ chức hơn) lợi dụng để cướp chính quyền. Nhóm Muslim Brotherhood tại Ai Cập rất có khả năng làm việc này. Có dấu hiệu trong số người biểu tình tại công trường Tahrir có ít nhất 30% thuộc phong trào Muslim Brotherhood.

Trong bối cảnh đó Hoa Kỳ không muốn thấy Mubarak đột ngột ra đi. Hiểu thế của mình và nhu cầu của Hoa Kỳ, Tổng thống Mubarak đã áp dụng một phương pháp đàn áp thật tinh vi.

Ngày đầu tiên dân Ai Cập xuống đường ông cho cảnh sát thẳng tay đàn áp. Như lửa đổ vào dầu, hàng chục ngàn dân Cairo đủ mọi thành phần xuống Công Trường Giải Phóng (Tahrir Square) tại trung tâm thành phố bất chấp đàn áp.

Trước tình hình mới, ông Mubarak cắt internet và mọi phương tiện thông tin ra nước ngoài. Ông cắt cả hệ thống điện thoại cầm tay trong nước (cell phone) và ra lệnh cho cảnh sát rút khỏi đường phố, thả tù trong các nhà lao ra, cho một số cảnh sát mặc thường phục và du đãng (do cảnh sát tổ chức) tự xưng là phong trào nhân dân ủng hộ chính quyền dùng ngựa, lạc đà và vũ khi bén nhọn đánh nhau với người biểu tình và dùng vũ lực hành hung phóng viên các hãng làm tin quốc tế. Số khác chia nhau đi cướp bóc tạo hỗn loạn, mục đích thuyết phục thành phần yên phận rằng các cuộc biểu tình chống Tổng thống Mubarak là nguyên nhân của sự mất ổn định trong thành phố.

Trong khi đó mật vụ của Tổng thống Mubarak kín đáo lùng bắt các thành phần tổ chức biểu tình, đặc biệt là các thành viên của nhóm Muslim Brotherhood. Và lấy cớ vãn hồi trật tự, ông huy động quân đội cùng các đơn vị xe tăng ra đường phố để uy hiếp dân biểu tình.

Theo khuyến cáo của Hoa Kỳ ông Mubarak ra lệnh cho quân đội không được nổ súng. Và khi các cuộc biểu tình tăng cường độ với sự xuất hiện của tiến sĩ Mohamed ElBaradei và trên đường phố đã có đổ máu ông Mubarak ban hành những biện pháp có vẻ nhượng bộ.

Ông bổ nhiệm Tướng hồi hưu Omar Suleiman đương kim Giám đốc Tình báo làm Phó Tổng thống và giải tán nội các. Tướng Không quân hồi hưu Ahmed Shafik được mời làm Thủ tướng và thành lập tân nội các. Cả hai ông Suleiman và Sahalik đều là người thân tín của Tổng thống Mubarak và có quan hệ tốt với giới quân nhân và tình báo Hoa Kỳ. Sau đó ông tuyên bố ông sẽ không ra ứng cử tổng thống khi mãn nhiệm kỳ vào tháng 9 năm nay.

Phía đối lập không tin những lời hứa cuội của ông Mubarak. Trước đây ông đã nhiều lần giả nhượng bộ trước áp lực để khi ghế lại vững ông thẳng tay đàn áp.

Trước các cuộc biểu tình càng ngày càng đông đảo lan ra các thành phố lớn trong nước như Alexandria, Suez trên bờ đông bắc của bán đảo Sinai gần Gaza, thế giới Tây Phương nhất là Hoa Kỳ đổi thái độ, bắt đầu áp lực ông Mubarak nên dàn xếp tình hình trước khi quá muộn. Hiểu ý, ông Mubarak tuyên bố sẵn sàng từ chức ngay bây giờ, nhưng – như nhắn với Hoa Kỳ – nếu vậy Ai Cập sẽ rơi vào hỗn loạn.

Có một chút sự thật trong lời tuyên bố này. Nếu vào thập niên 1970 và cuối thập niên 1980 Hoa Kỳ và thế giới phấn khởi trước sự sụp đổ dây chuyền của các chế độ độc tài Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp tại nam Âu châu, một loạt sụp đổ khác của các chế độ quân phiệt ở Nam Mỹ và sau đó là sự sụp đổ của các nước Đông Âu. Thì trái lại lần này sự sụp đổ của Mubarak sẽ kéo theo sự sụp đổ tất nhiên của các nước A Rập, Hoa Kỳ và thế giới có thể đứng trước sự bùng dậy của khối Hồi giáo quá khích đe doạ an ninh của Hoa Kỳ và ổn định của thế giới.

Hân hoan khi nhà độc tài ra đi

Tuy nhiên việc phải đến đã đến. Sau 18 ngày lèo lái, chiều ngày Thứ Sáu 11/02/20100 ông Mubarak và gia đình chạy ra thành phố nghỉ mát Sharm el-Sheikh bên bờ Hồng Hải. Sau đó Phó Tổng thống Omar Suleiman thông báo ông Mubarak rời chức vụ tổng thống giao quyền xử lý công việc quốc gia cho Hội Đồng Tối Cao Quân Lực (Supreme Council of the Armed Forces).

Hoa Kỳ bỗng rơi vào một thế tiến thoái lưỡng nan, một bên là một phong trào dân chủ bộc phát từ quần chúng, một bên là sự ổn định của một nước đồng minh rất cần thiết cho an ninh của Hoa Kỳ.

Đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền là lý tưởng của Hoa Kỳ. Nhưng trong thực tế của thế giới có nhiều cuộc đấu tranh cho dân chủ chưa chắc phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ. Sự lựa chọn thường nghiêng về quyền lợi và từng là nguyên nhân của lời nói và hành động bất nhất của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ từng kêu gọi bầu cử tự do cho Palestine, nhưng khi nhóm Hamas thắng trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 01 năm 2006 trong một cuộc bầu cử được các quan sát viên quốc tế cho là đứng đắn, Hoa Kỳ không công nhận nhóm Hamas đại diện cho nhân dân Palestine và cắt viện trợ, cho rằng nhóm Hamas là một nhóm khủng bố (vì không công nhận sự tồn tại của Do Thái). Kết quả nhóm Hamas dùng vũ lực chiếm chính quyền trong dải đất Gaza. Động thái này đã làm mất uy tín của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc.

Không ai muốn thấy Ai Cập rơi vào hỗn loạn tạo một khoảng trống cho các thành phần quá khích. Nhưng nếu quân đội sắp xếp được một tiến trình dân chủ, có luật chuyển tiếp, có bầu cử tự do trong ổn định, thì sự ổn định chỉ có thể có tại Ai Cập nếu Hoa Kỳ cam kết tôn trọng kết quả cuộc bầu cử dù thành phần nào đắc cử một cách xứng đáng. Các thành phần đối lập tại Ai Cập sẽ không phấn khởi tham gia tiến trình dân chủ qua bầu cử nếu trường hợp đắc cử mà không được Hoa Kỳ công nhận (như trường hợp Hamas) không được cộng đồng thế giới minh bạch điều chỉnh. Trong trường hợp đó khó tránh được một cuộc nội chiến.

Sau khi Tổng thống Mubarak rời chức vụ, cuộc nổi dậy của nhân dân Ai Cập đã chuyển qua một giai đoạn mới. Nhưng sẽ kết thúc như thế nào? Nhận định của tiến sĩ Mohamed ElBaradei trong "Tuyên Ngôn Chuyển Đổi Tại Ai Cập" (Manifesto For Change in Egypt) của ông nhân danh khối đối lập với Tổng thống Mubarak phổ biến ngày 29/01/2011 có thể trả lời câu hỏi.

Ông viết: "Mỗi ngày trôi qua chúng ta càng thấy khó làm việc với chính quyền Mubarak. Giải pháp dàn xếp với Mubarak để thành hình một tiến trình chuyển tiếp trong ổn định cũng không còn là một giải pháp nữa. Người dân Ai Cập nghĩ rằng ông Mubarak năm nay 82 tuổi, cầm quyền đã 30 năm là quá đủ. Hãy đi đi để cho nhân dân Ai Cập bắt đầu một cuộc hành trình mới.

Tôi không biết tình hình dùng dằng này còn kéo dài bao lâu nữa. Tại Tunisia cũng như tại Ai Cập không phải chỉ có chính quyền và nhân dân. Còn có nhiều thế lực khác. Quân đội Ai Cập cho đến giờ này ghìm súng giữ thái độ im lặng. Tôi hy vọng quân đội sẽ giữ thái độ đó. Các sĩ quan và binh sĩ là một thành phần của nhân dân Ai Cập. Họ hiểu sự bực tức của nhân dân và họ chỉ muốn bảo vệ quốc gia .

Lần này nhân dân Ai Cập đã hết sợ. Và khi họ hết sợ thì không có một sức mạnh nào chận được bước chân của họ"
. (1)

Điều cần thêm là dù quân đội Ai Cập xử lý công việc quốc gia như thế nào, khối các nước A Rập cũng sẽ trải qua một quá trình cách mạng làm thay đổi cục diện thế giới và buộc Hoa Kỳ phải điều chỉnh chính sách đối ngoại và đối nội để thích ứng.

Việt Nam học được bài học gì trong cục diện mới này?

Chính quyền cộng sản Việt Nam đang theo gương Trung Quốc chận đứng mọi thông tin về cuộc nổi dậy tại Ai Cập. Sau khi biến động Tunisia lan đến Yemen và Ai Cập, đảng cộng sản Việt Nam đã thay đổi hệ thống chỉ huy quân sự tại thành phố Sài Gòn để đáp ứng với tình hình. Bộ chỉ huy quân sự Sài Gòn được đổi thành Bộ tư lệnh thành phố (2). Trong buổi lễ đổi danh xưng ngày 28/01/2011 một giới chức quốc phòng Việt Nam phát biểu: Quyết định đổi tên lực lượng vũ trang này nhắm "tăng cường sức mạnh quốc phòng, làm thất bại âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn thành phố" .

Và rất có thể đảng cộng sản Việt Nam sẽ học bài học của Mubarak biến công an thành du đãng cướp bóc đánh dân chúng gây hỗn loạn trong trường hợp nhân dân Việt Nam hết sợ theo gương dân Ai Cập xuống đường đòi chấm dứt chế độ độc tài đảng trị.

Nhưng đảng cộng sản Việt Nam không nên học bài học của Đặng Tiểu Bình năm 1989 bắn giết thanh niên sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn. Năm 2011 của thế kỷ 21 không còn là năm 1989 của thế kỷ 20. Nếu các tướng lãnh đảng cộng sản Việt Nam ra lệnh bắn giết dân thì họ sẽ không thoát khỏi toà án của nhân dân. Con đường tốt nhất của quân đội cộng sản là hãy xứng đáng với danh xưng "quân đội nhân dân". Quân đội nhân dân là quân đội đứng về phía nhân dân. Bất cứ đảng nào "đồng hoá" đảng mình với nhân dân để sai khiến quân đội đều là một sự mạo nhận đáng xấu hổ.

Những người Việt Nam trong cũng như ngoài nước đấu tranh cho dân chủ học được bài học gì từ cuộc nổi dậy tại Ai Cập? Thời cơ tới nhưng nếu không có lãnh đạo không thể cướp thời cơ.

Trần Bình Nam
11/02/2011


(1) Nguyên văn Anh ngữ đoạn này của bản Tuyên ngôn:

"Each day it gets harder to work with Mubarak's government, even for a transition, and for many of the people you talk to in Egypt, that is no longer an option. They think he has been there 30 years, he is 82 years old, and it is time for a change. For them, the only option is a new beginning.

How long this can go on, I don't know. In Egypt, as in Tunisia, there are other forces than just the president and the people. The army has been quite neutral so far, and I would expect it to remain that way. The soldiers and officers are part of the Egyptian people. They know the frustrations. They want to protect the nation.

But this week the Egyptian people broke the barrier of fear, and once that is broken, there is no stopping them".

(2) "Bộ tư lệnh TP.HCM ra mắt". Tuổi Trẻ, ngày 29/01/2011.

http://lotus-revolution.blogspot.com/2011/02/hosni-mubarak-tu-chuc-cai-gan-ga-ai-cap.html



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


2011/02/21

Trao đổi với GS Dương Như Nguyện và anh Đặng Văn Âu

Trao đổi với GS Dương Như Nguyện và anh Đặng Văn Âu
 

Xuất phát từ một bài viết về cộng đồng người Việt tại Pháp, đã có một số anh chị góp ý và việc thảo luận đã chuyển sang vấn đề "trí thức" Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là bài viết dài 4 trang của Giáo sư Dương Như Nguyện.
 
Đọc bài ấy, tôi rất tâm đắc và nghĩ nên đóng góp vài ý kiến vì đây là một đề tài ít được nói tới, do sự "dè dặt" cố hữu của giới trì thức trong khi họ vẫn thường trao đổi với nhau ở nơi riêng tư.
 
Qua bài viết, GS Như Nguyện đã chứng tỏ là một người không sợ phải nói thật và đã đưa ra những sự thật bắt mọi người phải suy nghĩ. Đó là lý do tôi viết bài này để góp ý về chuyện "chất keo" để dính những "viên kim cương" trí thức lại với nhau, hơi khác với nhận định của GS Như Nguyện.
 
Trước hết, trí thức chính danh không nên tự cho mình là những "viên kim cương" mà nên coi mình là những "con nợ" của xã hội, của đất nước, vì nhờ xã hội, nhờ đất nước mà mình đã phát huy được tài năng và tâm linh để trở thành những con người ngoài sự minh triết (wisdom), còn có trí, có tâm, và có dũng - những đức tính cần có của một trí thức chính danh. Những trí thức như vậy trở thành "ngọn đèn trí tuệ" của quốc gia, soi đường cho sự tiến hóa (evolution) của xã hội. Khi trí thức làm tròn nhiệm vụ ấy thì xã hội tiến hoá. Khi trí thức lẩn tránh trách nhiệm thì xã hội lâm cảnh lụn bại, thoái hoá – như xã hội Việt Nam trong thời cận đại và hiện nay.
 
Xã hội Việt Nam, tuy dân trí còn thấp, vẫn có truyền thống kính trọng những người có học và có sĩ khí mà ngày xưa gọi là "kẻ sĩ" và đi theo sự dẫn đường của kẻ sĩ. Vì vậy, chính kẻ sĩ phải có lòng khiêm tốn, kết tụ lại cùng nhau để mở đường khai lối, hướng dẫn quần chúng chứ không phải chờ quần chúng tạo ra "chất keo" để gắn họ lại với nhau.
 
Quan điểm này đã được tôi nói tới trong một bài viết 16 năm trước. Bài ấy, "Chim Én và Muà Xuân Dân Tộc", được viết đầu năm 1994 và đã được Đài "Tiếng Nói Tự Do Từ Mạc-tư-khoa" do Ký giả Irina Zisman thành lập phát thanh về Việt Nam, trong đó có đoạn nói về "trí thức" như sau:
 
"Tôi bỗng nẩy ra ý định nói chuyện với những người trí thức trong nước, những người tôi quen biết và những người tôi không quen, vào dịp đầu năm, khi nhận được thư mời tham dự cuộc Hội thảo Truyền Thanh Mùa Xuân của Radio Hy Vọng, tức Đài Tiếng Nói Tự Do Từ Mạc-tư-khoa, với chủ đề 'Để tiến tới một nước Việt Nam Hậu Cộng sản'.
 
"Dĩ nhiên tôi xin được miễn định nghiã ở đây thế nào là trí thức, vì tôi đang nói chuyện với những người trí thức đích thực và chính danh.
 
"Một kẻ đã trốn chạy khỏi quê hương như tôi còn có tư cách bàn chuyện tương lai đất nước với những người ở quê nhà chăng? Tôi nghĩ rằng có. Một người dù sống xa quê hương nhưng không tự cắt rời khỏi dòng sinh mệnh của tổ quốc thì vẫn có quyền và có bổn phận góp phần mình cho quốc gia dân tộc.
 
"Vậy thì điều đầu tiên tôi muốn nói với quý vị là cảm nghĩ hổ thẹn của một người Việt Nam sống ở nước ngoài khi nghĩ về đất nước mình, một đất nước vẫn tự nhận là anh hùng, nhưng đang là một đất nước bị cầm tù bởi một nhóm người nhân danh chủ nghiã phi dân tộc và đã bị bứng nhổ trên khắp thế giới, kể cả tại nơi phát sinh ra nó.
 
"Các dân tộc Đông Âu và Nga đã đứng lên lật đổ chế độ cộng sản, bằng cách này hay cách khác, đổ máu hay không đổ máu, nhưng tất cả đều thật anh hùng, và đang trải qua tiến trình dân chủ hoá với nhiều cam go. Trí thức và thanh niên Trung Quốc cũng đã đứng lên trước tiên. Tuy không thành công ngay, nhưng với máu của hàng ngàn người đã đổ ra và với những hình ảnh chiến đấu dũng cảm của họ được truyền đi khắp thế giới trong thời đại truyền thông vệ tinh đã làm cả nhân loại cảm phục và chính là những chất kích thích tố cho những cuộc nổi dậy thành công ở Đông Âu sau đó.
 
"Việt Nam ở kế cận Trung Công nhưng đã im lìm, không một chuyển động, không một phản xạ. Cho đến nay, chế độ cộng sản vẫn còn đó, dù càng ngày càng ung thối và biến chất…Dĩ nhiên chế độ cộng sản ở Việt Nam đang đi vào những ngày cuối cùng của nó, nhưng nó sẽ không sụp đổ nếu không bị xô ngã. Vậy thì đối lực nào sẽ lãnh đạo cuộc vận động để chấm dứt mối tai họa ấy cho dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới, dân chủ và tiến bộ? Phật giáo với cuộc tranh đấu đang mở rộng dần? Hay chính những thành phần giác ngộ trong đảng? Hay nông dân, với một tỉ lệ hơn 80% dân số Việt Nam và bị buộc tội là – do sự thiếu hiểu biết chính trị và tình cảm lãng mạn bình dân -  đã tiếp tay góp công lớn cho cộng sản trong cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam trước đây? Chính họ phải 'chuộc tội' và tự giải phóng?
 
"Thật ra, trí thức còn bị kết tội nặng nề hơn trong việc làm Việt Nam mất một cơ hội được sống trong tự do. Theo cộng sản, chống cộng sản, hay đứng giữa, người trí thức Việt Nam đã để mất vai trò của người dẫn đường trong xã hội, và trở thành công cụ của những thế lực chính trị do ngoại bang điều khiển. Họ là những khoa bảng đã bán mình vì lợi danh chứ không phải những nhà trí thức chính danh.
 
"Ngày nay, tôi nghĩ rằng gần hai mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, với mọi sự thật được phơi bày, và với tình trạng đất nước bị tàn phá toàn diện, không người Việt Nam yêu nước nào không cảm thấy ô nhục và tự trách mình. Người trí thức với hiểu biết cao sâu và bén nhạy hơn tất nhiên phải cảm thấy ô nhục và tự trách hơn.
 
"… Một điều không tránh khỏi là trong số quý vị sẽ có người đặt câu hỏi: 'Vậy thì trí thức, khoa bảng ở ngoài nước đang làm gì và nghĩ gì?' Có lẽ quý vị đã thất vọng, hay tức giận, khi gặp một số trong những người ấy về Việt Nam với hy vọng nhận được lợi danh ưu đãi mà chế độ hiện nay sẽ ban phát cho họ trong cái chính sách được gọi là 'mở cửa, đổi mới'. Một số người khác đang cổ võ cho một chủ nghiã đầu hàng mà họ gọi là 'hoà hợp, hoà giải' trong tư thế quỳ gối trước một tập đoàn thống trị ngoan cố hiếm hoi còn sót lại của hệ thống cộng sản quốc tế. Một số người khác nữa thì đang ngồi trong tháp ngà cổ quái mà lý luận rằng 'chống cộng bây giờ đã lỗi thời' vì chủ nghiã cộng sản đã chết và chế độ hiện tại ở Việt Nam không còn là cộng sản!
 
"Nhưng sẽ sai lầm và dễ rơi vào tâm trạng bi quan nếu chỉ nhìn giới trí thức hải ngoại qua những người ấy. Ở các nước ngoài, đang có những người trí thức Việt Nam dấn thân làm việc để tiếp sức với đồng bào trong nước trong cuộc đấu tranh cho tự do, và để góp phần xây dựng đất nước sau này, một khi chế độ cộng sản không còn. Những người trí thức yêu nước ấy thuộc mọi lứa tuổi, nhưng đều giống nhau một điểm:họ muốn góp phần chứ không phải muốn giành phần, chia phần. Họ tin tưởng sắt son rằng cuối cùng rồi Chân lý sẽ thắng. Với những người như vậy, tại sao không tin tưởng?"
 
Trên đây chỉ là một phần trong bài đã được phát thanh về Việt Nam đầu năm 1994. Cuối năm ấy, Đài "Tiếng Nói Tự Do Từ Mac-tư-khoa" phải im tiếng vì sự phản đối quyết liệt của Hà Nội với chính phủ Liên Bang Nga. Năm 1995, bài ấy được Học giả Phạm Kim Vinh đưa vào cuốn "Việt Nam Theo Đường Nào Vào Thế Kỷ 21", cuốn sách thứ 32 của ông được xuất bản ở hải ngoại.
 
Ngày nay tôi rất mừng nhận thấy số trí thức góp mặt trong cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ ở trong nước đã tăng lên rất nhiều so với khi tôi viết bài trên đây, 16 năm trước.
 
Trước khi chấm dứt, tôi muốn có vài ý kiến về việc viết chữ Việt ở hải ngoại. Do trở ngại kỹ thuật, và cũng do dễ dãi, chúng ta thường đánh chữ Việt không có dấu trên máy điện toán, khiến khó khăn cho người đọc, chưa kể có thể đọc đoán lầm, còn khiến cho Việt ngữ trở thành bất toàn, vì chữ Việt mà không có dấu thì không còn là chữ Việt.
 
Theo sự hiểu biết của tôi, hình như Sử gia Nguyễn Thế Anh, nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Huế,  nguyên Giáo sư Đại Học Sorbonne ở Paris, là người Việt duy nhất ở hải ngoại đã không bao giờ viết chữ Việt mà không có dấu, kể cả trong những bài tham luận hay sách viết bằng ngoại ngữ (Anh, Pháp). Kể cả tên tác giả trong những cuốn sách ngoại văn cũng là Nguyễn Thế Anh, chứ không bao giờ là Nguyen The Anh.
 
Tôi nghĩ đó là một cách bảo tồn Việt ngữ thật nghiêm túc mà chúng ta nên noi theo.
 
Xin cám ơn GS Dương Như Nguyện và anh Bằng Phong Đặng Văn Âu.
 

Sơn Tùng



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.