2017/01/23

Cả họ đều làm quan, thằng dân sống dưới gầm cầu

Cả họ đều làm quan, thằng dân sống dưới gầm cầu

Tệ nạn đưa anh em thân thích họ hàng nội ngoại vào làm quan ở VN đã có rất nhiều năm nhà nước hứa rất hăng “kiên quyết loại bỏ tệ nạn này…” Nhưng, lại “nhưng,” đến nay vẫn xảy ra, đúng là “chuyện ở huyện.”

Cụ thể như bộ máy chính quyền tại huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội có 13 phòng, ban thì hơn 10 người là anh em, họ hàng với lãnh đạo huyện

- Ông Đào Đức Toàn, trưởng Ban tổ chức Thành ủy Hà Nội, cho biết dư luận về việc "cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện xảy ra tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội là có thật.”

Mỹ Đức là huyện thuần nông ở Hà Nội với nhiều danh lam thắng cảnh có tiềm năng để phát triển du lịch, như khu danh lam thắng cảnh Hương Sơn, hồ Quan Sơn. Tại đây có nhiều cán bộ UBND huyện là người nhà của bí thư huyện ủy và lãnh đạo UBND huyện.

Theo báo chí VN, nhiều cán bộ công tác tại các vị trí quan trọng của UBND huyện có liên quan trực tiếp tới Bí thư Huyện ủy Mỹ Đức Lê Văn Sang (tái đắc cử nhiệm kỳ 2015-2020).

- Bà Lê Thị Vĩnh, Trưởng Phòng Tài chính - Kế hoạch, là cô ông Sang;
- Bà Đỗ Thị Lê Hương, Phó chánh Văn phòng Huyện ủy, là con thông gia với ông Sang;
- Ông Lê Văn Nhiệm, phó ban quản lý dự án, là em họ ông Sang;
- Bà Lê Hải Hồng, Phó Phòng Kinh tế, là chị họ ông Sang;
- Ông Lê Văn Sức, Trưởng Phòng Dân tộc học, gọi ông Sang bằng chú;
- Bà Nguyễn Thị Hòa, Phó Ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, là em bên họ vợ ông Sang;
- Bà Nguyễn Thị Duyên, kế toán Phòng Quản lý đô thị, con dâu ông Sang...

- Ông Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch huyện Mỹ Đức, có 2 con trai là Nguyễn Văn Hùng, Phòng Tài chính - Kế hoạch và Nguyễn Văn Hưng, Phòng Nội vụ của huyện.

Ông Lê Văn Sơn, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy (chú ông Sang), đã xác nhận các mối quan hệ nói trên là đúng.

Ôi! Sao nhiều họ hàng nội ngoại ra làm quan thế, bao nhiêu việc công, việc tư của nước của dân, gia đình ông này cai trị tuốt. Muốn cho ai cái gì thì cho, chỉ nháy nhau một phát là êm. Kiểu “gia đình trị” đến nay còn lộng hành trắng trợn hơn xưa. Quốc Hội ở đâu, Tỉnh ở chỗ nào chẳng thấy ông nào nói gì hết. Dân xôn xao cũng mặc kệ.

Chia sẻ băn khoăn này, độc giả Trần Văn Hoàng viết trên báo VietnamNet , “Không biết trong dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc có đề cập đến chuyện này không? Nếu không loại bỏ được “chế độ hậu duệ" này thì đừng hy vọng sự công bằng, dân chủ....”
Ông Đực bị cụt chân trái do chiến tranh.
Bi thảm thay cho cái dân chủ ở thời đại này! Phải đổi lại thành “gia đình ông làm chủ” mới đúng với thực tế.
“Nhất thân thế, nhì hậu duệ” thì công bằng với dân chủ đi chỗ khác chơi .

Trong khi đó có những gia đình sống sát nách Sài Gòn mà sống quá khổ cực, chẳng ai thèm đoái hoài tới, tôi chỉ tường thuật hai cảnh đời trái ngược này trong hàng trăm hàng ngàn cảnh đời khốn khổ của người dân hiện nay.

1- Gia đình hơn 10 năm sống trên ghe cạnh cao ốc Sài Gòn
Dưới chân cầu Rạch Bàn 2 (quận 7) là chiếc ghe neo đậu của vợ chồng ông Lê Văn Đực (60 tuổi, quê gốc Bến Tre) và cô con gái 9 tuổi. Hơn 10 năm nay, họ đã sống ở đây, coi ghe như nhà.

Ông Đực bị cụt chân trái do chiến tranh. Sau năm 1975, ông lập gia đình nhưng vợ mất sớm. Mình ông nuôi 5 đứa con với nghề chài lưới ở Bến Tre. Hơn 20 năm trước, ông gặp bà Nguyễn Thị Vĩnh (53 tuổi, quê Trà Vinh). Bà Vĩnh khi ấy cũng vừa ly dị chồng, có hai con trai riêng. Sau những lần qua lại, ông bà dọn về chung một ghe thuyền.
Buổi tối, cả nhà quây quần trong chiếc ghe nhỏ.
Năm 2005, khi những người con riêng của ông bà lớn khôn thì cả hai xuôi dòng nước lên Sài Gòn mưu sinh. Ngày ấy cá tôm nhiều, hai vợ chồng cứ mang lên bờ bán sống qua ngày. Giờ nước ô nhiễm nên ông Đực bỏ nghề đi bán vé số, còn bà Vĩnh bán nước, đổ xăng lẻ.
Hơn 10 năm nay, họ đã sống ở đây, coi ghe như nhà.
Sau 12 năm bên nhau, hạnh phúc lớn lao của đôi vợ chồng già khi con gái Diễm Mi ra đời. Cô con gái như món quà vô giá, giúp cuộc sống họ thêm tiếng cười trẻ thơ.

Hầu hết sinh hoạt của gia đình đều diễn ra trên ghe cũ kỹ tuổi đời 40 năm. Cả gia đình thường chỉ nấu một lần để ăn cho cả ngày. Trước kia, ông bà phải đi xin bình nước về sinh hoạt. Từ ngày họ được một công ty hỗ trợ nước sạch, cuộc sống cũng bớt phần cơ cực. Ông Đực kể tiếp, "Tôi không dám nghĩ đến thuê nhà. Sống trên ghe thiếu thốn nhưng đến tháng hết tiền mình vẫn có chỗ ở. Số tiền lẽ ra để trả trọ thì dành cho Mi đi học."

Bé Mi đang học lớp 3 tại một trường tình thương ở quận 7. Bé Mi nói, “Trường cách nhà hơn một cây số, ngày nào cha cũng đưa đón con đi học. Hôm nào cha bán vé số về trễ thì con tự đi bộ về.”

Sau giờ học, cô bé chỉ tha thẩn quanh ghe. Người bầu bạn thân thiết nhất của bé Mi chính là cha. Ông Đực không chỉ như người cha mà còn như người bạn, luôn sẵn sàng vui đùa với mọi trò đùa nghịch của một đứa con nít.

Mỗi tối, ông Đực đều đạp xe chở con gái đi dạo phố phường, cao ốc quanh đó, đi xem ké tivi hoặc nghe ca nhạc. Ông Đực bùi ngùi kể, “Mi thích đi siêu thị lắm nhưng tôi không dám dẫn vào vì không đủ tiền mua đồ cho bé.”
Không có đèn điện, họ chỉ thắp nến để lấy chút ánh sáng le lói.
Người cha nói, “Mi hay bị ốm vặt, ông Đực thường chữa cho con bằng những bài thuốc dân dã. "Có đợt rồi cháu sốt cao nên phải nằm ở bệnh viện Nhiệt Đới mấy ngày, tốn kém cả triệu bạc.”

Buổi tối, cả nhà quây quần trong chiếc ghe nhỏ. Trong ánh đèn leo lét, ông Đực dạy con gái học bài. Những người ở gần đấy ai cũng biết gia đình này sống khổ cực như thế nào.

Chỉ có mấy ông chính quyền không biết thôi. Dân sống thế nào cũng mặc kệ, chẳng liên quan gì tới ông!

2- Vợ chồng sống dưới gầm cầu ở Sài Gòn
Để có thêm tiền gửi về quê nuôi ba đứa con, thay vì ở trọ thì vợ chồng ông Ta (quê Đồng Tháp) lại sống gầm cầu hơn một năm nay, làm phụ hồ mưu sinh.
Ông Nguyễn Văn Ta (48 tuổi, quê Đồng Tháp) cùng vợ và em ruột dựng chòi sống dưới gầm cầu đang xây dở ở công trình Thủ Thiêm.
Suốt hơn một năm nay, ông Nguyễn Văn Ta (48 tuổi, quê Đồng Tháp) cùng vợ và em ruột dựng chòi sống dưới gầm cầu đang xây dở ở công trình Thủ Thiêm (quận 2). Họ đều làm công nhân xây dựng ở công trường này.

Ông Ta giải thích và cho biết, họ cũng không dám thuê nhà trọ vì sợ tốn kém. Ông nói:
"Lẽ ra chúng tôi cũng ở lán trại với những công nhân khác. Nhưng vợ chồng mà sống chung với nhiều người vậy bất tiện nên ở bên ngoài cho thoải mái,”

Ông Ta là người Việt gốc Campuchia, về nước định cư khoảng 14 năm nay. Lúc về lại quê, ông không có môt miếng đất cắm dùi nên hai vợ chồng kéo nhau lên Sài Gòn làm phụ hồ ở các công trình xây dựng, cuộc đời sống nay đây mai đó.

Hai vợ chồng có 3 người con, lớn nhất 19 tuổi. Cô con gái lớn chỉ học hết lớp 5, từng lên thành phố bán nước. Hiện cả ba đứa con đều ở nhà bà ngoại tại Đồng Tháp.

Hai vợ chồng làm phụ hồ ở công trình ngay gần gầm cầu từ sáng đến tối. Ông kể, “Mỗi tháng, chúng tôi kiếm được hơn 10 triệu đồng và gửi phần lớn số tiền về quê lo cho con ăn học,” Mỗi ngày, bà Nguyễn Thị Thúy (49 tuổi, vợ ông Ta) đều đảm nhận việc cơm nước, giặt giũ. Để có nước sinh hoạt, bà phải đến lán trại xách từng can về xài.

Những khi ít công việc, anh Nguyễn Út Cường (30 tuổi, em ruột ông Ta) không nghỉ, đi quăng lưới ở các vũng nước dưới gầm cầu kiếm mấy con cá cho bữa cơm.

Bữa ăn trưa, ba người thường ngồi ở gò đất bên hông cầu ăn cho mát mẻ. Bà Thúy kể lại:"Hầu như cả nhà chỉ ăn cá, nếu muốn thay đổi món ăn thì phải ra chợ Bình Khánh, cách đó hơn 2 km, nhưng bữa nào làm về sớm mới đi chợ được. Việc tắm rửa, chúng tôi phải chạy lại mấy lán trại gần đó.”

Khi màn đêm buông xuống, gầm cầu càng trở nên tối om. Không có đèn điện, họ chỉ thắp nến để lấy chút ánh sáng le lói.

Sau giờ làm, cuộc sống của họ diễn ra tẻ nhạt, chỉ quanh quẩn dưới gầm cầu. Ông tâm sự. "Tôi tủi lắm khi phải sống nhọc nhằn dưới gầm cầu nhưng biết làm sao giờ. Khi nào công trình hoàn tất thì gia đình mới phải chuyển đi. Giờ tôi chỉ mơ có miếng đất ở quê để trồng trọt rồi đi bán vé số kiếm thêm cũng được.”

Ông Ta thường "giết thời gian" buổi tối bằng ấm trà, điếu thuốc lá, khi nào chán quá thì họ ra cầu Thủ Thiêm hóng gió hoặc uống cà phê. "Ở gầm cầu không sợ nắng mưa nhưng rất nhiều muỗi. Lúc nào tôi cũng phải để sẵn chai dầu xoa vết muỗi đốt. Không có gì làm nên cả nhà đi ngủ sớm lắm.”

Những công nhân khác ở công trường thỉnh thoảng cũng đến trò chuyện với hai vợ chồng. Ông Ta nói, “Giờ tôi chỉ mơ có miếng đất ở quê để trồng trọt rồi đi bán vé số kiếm thêm cũng được. “Cả khu Thủ Thiêm này chỉ có duy nhất gia đình ông sống ở gầm cầu nên ai cũng biết.” Chỉ có các quan không biết thôi.

Hai cảnh đời ngang trái ấy sống ngay bên những tòa nhà cao ngất và những biệt thự hàng tỉ đô của các quan và các nàng chân dài. Cái khoảng cách giữa quan và dân, giữa giàu và nghèo ở VN là rất xa. Các quan cứ ngồi trên cùng các mỹ nhân chân dài không thèm nhìn xuống thằng dân khổ cực như thế nào. Nói thì rất hăng nào là “chia sẻ ngọt bùi, nào là “hết lòng hết sức lo cho dân…” Toàn những mỹ từ giả dối như trong một bài diễn văn trước Quốc Hội và đủ thứ hội nghị. Đọc bài học thuộc lòng xong lại ra về, kệ thằng dân, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

Văn Quang
Sài Gòn cuối tháng 1, 2017

Khai Dân TríVăn Quang

2017/01/21

TỔ QUỐC TRÊN HẾT: NÓI CHUYỆN TÂM TÌNH (01)

TỔ QUỐC TRÊN HẾT
Bài số 1

NÓI CHUYỆN TÂM TÌNH

HỒ TẤN VINH

A - BẠN BÈ NÓI

"Còn những ai yêu quý cờ Vàng cũng đừng nên ép buộc người khác phải yêu màu cờ của mình, hãy tìm cách giải thích, đưa dẫn chứng, tài liệu, lập luận chứng minh cho người ta hiểu, nếu người ta vẫn không hiều thì thôi, hồn ai nấy giữ vậy. Hãy tập trung đấu tranh vì một tương lai tốt đẹp hơn cho VN, tập trung đấu tranh giành lại đất nước từ tay đảng cộng sản bán nước đã, trước khi VN mất hẳn vào tay Trung Cộng. Khi đã giành lại được đất nước, chúng ta sẽ nói chuyện màu cờ sau." -- Blog RFA Song Chi

Đại cuộc giải thể chế độ CS độc tài, khát máu và phản tiến bộ là trọng tâm và ưu tiên số một cho mọi người con dân VN, bất kể họ là ai, tỵ nạn hay không tỵ nạn, sống dưới xã hội miền Nam hay dưới xã hội miền Bắc, sanh trước hay sau 1975; tất cả chúng ta đều có chung máu đỏ da vàng, chung một Tổ Quốc, một dân tộc, chia sẻ cùng một số phận, một tương lai, có cùng một tấm lòng, một ưu tư muốn “giải thể chế độ CS độc tài, bất nhân” hiện tại, để xây dựng lại một VN thật sự Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc, trong đó mọi người dân có quyền tự do quyết định chọn lựa ai sẽ đại diện và lãnh đạo họ. Chuyện lá cờ nào, không phải là yếu tố quan trọng trong lúc này ...

Cái chúng ta cần là sự đoàn kết, hiệp tác của mọi thành phần dân tộc trong một Sứ Mệnh chung. “Mèo nào cũng là mèo miễn là bắt được chuột”. Khi nào CS không còn, nhân dân sẽ là người quyết định lá cờ cho VN mới ...

Mọi người đồng ý chứ với ý kiến của Song Chi, blog RFA chứ???

Lap Phan lapphanbaohiem@yahoo.com [tudo-ngonluan] <tudo-ngonluan@yahoogroups.com>

B - TÔI NÓI

Trong sự việc của ca sĩ MAI KHÔI mới xảy ra, mỗi người có những suy nghĩ riêng và nhiều người cũng có bày tỏ quan điễm của mình công khai trên các phương tiện truyền thông. Tôi cũng có bày tỏ quan điểm của tôi công khai. Sau đó, mọi người đều có thể đọc qua, và thích hay không thích. Họ có thể công khai khen hay chê là quyền của người đọc.

Sau bài phát biểu của tôi, tôi có nhận được vài câu hỏi. Vì người hỏi có tên tuổi rõ ràng và lời lẽ không khiếm nhã nên tôi ưng thuận trả lời.

Câu hỏi của ông Phạm Lễ
Không biết ông Hồ Tấn Vinh này có học câu nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc hay không thế nhỉ?

Ông thích ca ngợi mấy con ca sĩ Vẹm từ trong nước ra không chào cờ vàng ba sọc đỏ tức là chúng nó không thích VNCH. Nhưng chúng nó thích bọn việt gian tay say vừa dâng tiền cho chúng vừa thay chúng tự triệt hạ cờ vàng là ô nhục cho anh em cựu quân cán chính VNCH rồi ông Hồ Tấn Vinh đứng vào phe nào? Posted by: Lloyd Pham <phamlewriter@sbcglobal.net>

Trả lời
Chưa đến lúc lấy lá cờ ra bàn liền. Để tôi lấy một thí dụ không có dính dáng gì đến lá cờ để không làm kích động.

Tôi xin đặt một trường hợp giả tưởng rằng tôi là người theo đạo Hồi. Một người bạn tôi mời về nhà ăn đám giỗ. Tôi nói với anh ấy rằng đạo tôi không cho ăn thịt heo, hơn nữa tôi dị ứng với mùi thịt heo, tôi chịu không nỗi cái mùi đó. Anh bạn tôi trả lời rằng anh biết rồi và sẽ không có thịt heo trong bữa ăn.

Ngày đám giỗ tôi đến nhà anh bạn có đầy đủ khách khứa, thì thịt heo được dọn ra.

Nếu bị kẹt trong trường hợp đó thì ông Phạm Lễ làm sao?

Xin ông trả lời công khai trên mạng. Tùy theo câu trả lời của ông mà tôi sẽ đáng giá mức độ lương thiện của ông. Sau đó tôi sẽ trả lời câu hỏi ở trên của ông.

Câu hỏi của ông Lê Duy San
KHÔNG HIỂU ÔNG HỒ TẤN VINH CÓ HIỂU HAI CHỮ "BẤT KHUẤT" CÓ NGHĨA LÀ GÌ KHÔNG ? RIÊNG TÔI THÌ TÔI THẤY CÔ TA HÈN QÚA, CÔ CHỈ DÁM ĐỨNG DƯỚI CỜ HỒNG THÔI, CÔ KHÔNG DÁM ĐỨNG DƯỚI CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ VÌ SỢ KHI VỀ VIỆT NAM SẼ BỊ ĐẢNG HỎI THĂM.
LDS

Trả lời
Tôi biết ông không thể hiểu hai chữ ‘bất khuất’ một cách tường tận nên tôi giải thích cho ông đây.

Trong chế độ CS ngày nay, người dân Việt có thể chia ra ba thành phần.

1/ Những người ca ngợi chế độ.

2/ Những người an phận, không dám hé môi.

3/ Những người phản đối chế độ. Có người đòi giải tán đảng CSVN, có người bỏ điều 4 trong Hiến Pháp, có người đòi tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn ... Phương cách phản đối có mức độ khác nhau, nhưng tựu chung là đòi hỏi có thay đổi. Những người này là những người bất khuất, vì họ biết rằng khi đòi hỏi như vậy là họ sẽ bị đàn áp, họ bất khuất vì họ không sợ bị đàn áp, họ chấp nhận những hệ lụy của sự chống đối chánh quyền.

‘Xin ông ... cho chúng tôi được dối lừa theo ông để ông cho chúng tôi được ngu ngốc như ông.’

Trên đây là lời ca mà Mai Khôi đã viết và hát tại Việt Nam. Ông Lê Duy San cho mọi người biết đi, rằng đây là một lời nịnh bợ Việt Cộng hay là lời chế nhạo VC? Trong ba loại mà tôi đã phân ra ở trên cô Mai Khôi thuộc về loại nào? Cứ trả lời đi để tôi còn đánh giá mức độ can đảm của ông tới đâu.

Nhưng chữ ‘bất khuất’ của cô Mai Khôi không dừng ở đó.

Cô Mai Khôi đã nói rõ ràng rằng cô không thích cờ đỏ, cờ vàng gì hết. Hơn cả chục lần hát khắp nơi trên thế giới, ở Đức, ở Paris, ở Mỹ, cô đến là để thân thiện với mọi người, như trong một gia đình, không bao giờ có cờ quạt gì cả.

Lần này cô đã được mời đi hát ở Virginia và đã có thoả thuận giữa hai người (người mời là cô Nguyễn Thị Thanh Bình và người nhận lời mời và đặt điều kiện là cô Mai Khôi) không có trưng bày cờ nào hết. Nhưng khi đến nơi hẹn thì lá cờ và nghi lể hát quốc ca đã sẳn sàng. Đứng ngoài nhìn vào vị trí của cô Mai Khôi lúc đó, ai cũng thấy liền cô đã bị lừa rồi. Khoảng 40 người đã có sẳn ở hội trường, người tổ chức là bạn chớ không phải thù. Áp lực tâm lý (áp lực của số đông nhứt là áp lực của tuổi tác, người tham dự đều là người lớn tuổi, vai vế cô bác cả) thật là nặng nề. Cô phải làm sao? Nếu mềm yếu, cô có thể lấy cớ đau bụng hay tè mẹ trong quần cho nước nhễu xuống chân mà xin hẹn lại lần khác và rút kinh nghiệm từ biệt luôn.

Nhưng cô Mai Khôi đã dám đứng lại đối đầu với tình thế và cương quyết không hát dưới lá cờ vàng. Cô không có tìm đến lá cờ vàng để làm chuyện bất kính. Những người đã lạm dụng cờ vàng để đi gạt, nghĩa là đi làm việc bất chính mới là những người bất kính với lá cờ. Lấy lá cờ ra làm trò đùa.

Từ chối hát trong trường hợp này rõ ràng là cô Mai Khôi ‘bất khuất’.

Và cũng trong trường hợp này, tôi kính nể, ca ngợi cô đã không hát với lá cờ vàng.

Trường hợp ‘bất khuất’ thứ hai này hơi khó hiểu. Nếu ông Lê Duy San còn thấy lấn cấn thì xin cho tôi biết, tôi sẽ giải thích thêm.

Còn chữ ‘hèn’ thì xin hẹn lại ở các bài tiếp theo.

Câu hỏi của bà Nguyễn thị Bé Bây
Tôi cũng xin chuyển đến ông Hồ Tấn Vinh một clip của Mai Khôi và xin ông Vinh cho biết sau khi xem xong, thì sự cảm phục của ông đối với tinh thần bất khuất của Mai Khôi to lớn đến mức nào!

Nguyễn Thị Bé Bảy



Trả lời
Khi chuyển cái video "Hóa Kiếp Cô Đơn, Mừng Ngày Giải Phóng Miền Nam" của Mai Khôi để tôi cho ý kiến thì đương nhiên bà Nguyễn Thị Bé Bảy đã có xem và nghe qua rồi.

Tôi có thử nghe, nhưng dường như có người giở trò, âm thanh đã bị phá. Bà có nghe rồi thì xin chuyển lời của bài hát cho tôi thì tôi mới có thể hầu chuyện với bà.

Còn cái tựa của bài hát rất là ranh mảnh, có khi thấy vậy mà không phải vậy, phải không nào?


HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 21 tháng 1 năm 2017
(còn tiếp)

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

2017/01/20

Câu Chuyện Châm Cứu

Câu Chuyện Châm Cứu

Bài viết vào năm 2008. Bạn đọc chuyển tới KDT và nhờ đăng lại để tham khảo.

Thưa anh, anh là một nhạc sĩ, thi sĩ. Vậy nguyên nhân nào đưa đẩy anh vào nghề châm cứu?

Đời sống lắm chuyện tình cờ, và một trong những tình cờ ấy, đã đưa tôi đến với khoa Châm cứu, một ngành Y khoa Đông phương mà trước đó, nhiều lần tôi cũng “tình cờ” nghe nhắc đến, nhưng rồi cũng để ngoài tai.

Đó là thời kỳ 1975-1985, một thập niên của Việt Nam đói nghèo, khổ đau và kiệt quệ đến tận cùng. Một chén cơm chia nhau, giá trị hơn ngàn lời hứa hẹn, môt viên thuốc cho nhau, nặng gấp trăm ân sủng mơ hồ. Người ta sống từng ngày để thấy mỗi ngày, đời mình một tan tác hơn. Cái đói lấn át cái bệnh. Và Bệnh, vô hình chung trở thành một sự xa hoa trên thân phận của mình.

Trong thời kỳ đó, ác nghiệt thay, vào giữa năm 1977, tôi bị đau răng, và viêm cả nướu răng. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được cơn đau trong những ngày đó đã hành hạ mình “tàn nhẫn” như thế nào! Thoạt đầu, tôi dửng dưng, ăn nhằm gì, nhà mình còn trụ sinh mà, Ampicycline chứ chẳng chơi đâu, chỉ cần 3 ngày thôi là mọi sự sẽ bình thường. Nhưng rồi 3 ngày trôi qua, mỗi ngày 1500 mg trụ sinh mà vẫn chưa thấy gì lay chuyển, lại thêm 3 ngày nữa. Lạ thật! Cái đau vẫn y nguyên, không những thế, mặt tôi đã bắt đầu sưng tấy, và tệ hại hơn, tôi không còn ăn uống gì được nữa. Ngay cả nói chuyện, cũng không, tôi phải dùng bút mực để “đối thoại” với người nhà. Rồi suốt một tuần lễ sau, tôi chỉ còn có thể hé mệng để uống chút sữa thay cơm mà thôi. Tiếp tục uống trụ sinh đến hết tuần lễ thứ hai, vẫn không kết quả, tôi bắt đầu hoảng hốt. Không hoảng hốt sao được, thời kỳ đó, người dân Sài gòn đã biết nếm mùi “Giấy giới thiệu”. “Hành trình” khám bệnh bắt đầu từ Trạm Y tế Phường, nếu chữa không xong, Phường mới cho giấy giới thiệu lên Y tế Quận. Nếu vẫn không xong, mới tới phiên nhà thương. Nhưng tại nhà thương, bạn sẽ được phát cho một đợt thuốc trụ sinh của Nga hay Tiệp Khắc… là những loại trụ sinh trói vi trùng không chặt. Được vậy cũng là may mắn, còn không thì sẽ là Xuyên Tâm Liên, một loại thuốc Đông y thường chỉ được dùng để trị các chứng nhiệt độc ở Phổi, đường tiểu, và Da khá hiệu quả, không hiểu vì sao, lại được Bộ Y tế nâng lên hàng thần dược có khả năng trị bá bệnh, cho bá nhân bá tánh! Tôi đành chịu trận nằm nhà, ôm lấy cơn đau, không biết sẽ tới bao giờ. Sau 14 ngày dùng trụ sinh liều lượng cao, cơ thể tôi nóng ran lên, cộng với cái đói vì không ăn được, tôi đành ngưng tất cả. Cho đến một buổi sáng đẹp trời, một người bạn, NCT, đã là một ca sĩ nổi tiếng từ trước 1975 đến thăm, thấy tình cảnh tôi, bèn nói:

-“Thôi, ông đi châm cứu đi!”
Tôi hỏi:(bằng giấy viết)
-“Châm cứu là cái gì?
-“Là người ta dùng kim châm vào huyệt trên người mình để trị bệnh”, T. trả lời.
– “Sao người ta biết trong người mình có huyệt mà châm?”

– “Trong người mình thiếu gì huyệt, người ta học thì phải biết chứ. Hồi xưa tôi học võ, cũng biết mà! Ông cứ thử đi, hay lắm đó, tôi bị bệnh viêm xoang mũi, cứ bị nghẹt hoài. Mấy năm nay rồi, ngày nào tôi cũng phải nhỏ thuốc Rhinex, không có là không xong. Nhưng từ ngày đi châm cứu đến giờ, tôi không còn phải lệ thuộc vào ba cái thuốc nhỏ mũi nữa, mà đâu có phải châm nhiều đâu, có 7, 8 lần à.”

-“Thôi đi ông, hai tuần nay tôi uống Ampicicline, loại của Pháp đàng hoàng, mà vẫn chưa thấy kết quả, huống chi là ba cái kim. Tôi định sẽ ngậm nước muối vài ngày, chờ hết sưng, đến Nha sĩ nhổ quách đi là xong”, tôi loay hoay viết trả lời vào tờ giấy. T. đọc xong, ra về một nước, nhưng trước khi ra khỏi cửa, còn nói với một câu:

-“Tùy ông, nhưng mà khi nào muốn, cứ tới đó thử xem sao.”

Nói xong, T. còn cho tôi địa chỉ rồi mới ra về.

Sáng hôm sau, tôi quyết định đến “thử xem sao”.

Đó là một căn nhà tư nhân trong một đường hẻm, bên cạnh chùa Giác Minh, trên đường Phan Thanh Giản. Tiếp tôi là một chị tên Sánh, tuổi độ 25. Chung quanh chị, rất nhiều bệnh nhân chen nhau ngồi chật từ trong nhà ra đến ngoài vườn. Bác Năm, sư phụ của chị, chủ nhà, cũng là một cư sĩ Phật giáo cao niên, khoảng 70, nhưng trông rất khỏe mạnh, đôi mắt sáng quắc, từ ánh nhìn của Ông, người ta thấy toát ra thần uy của một vị La Hán. Đến nơi, tôi mới biết, đây là một điểm châm cứu chữa bệnh phước thiện, mà Bác Năm đã tự nguyện mở ra từ sau năm 1975 để giúp dân nghèo, không lấy một đồng xu thù lao nào cả. Sau này, tôi từng chứng kiến, rất nhiều người khỏi bệnh, đem quà cáp đến đền ơn, Bác nhất định trả về.

Chị Sánh hỏi tôi: “Anh đau làm sao?”
Tôi cố gắng nói:
-“Tôi đau răng quá, đến độ không thể ăn uống gì được suốt hai tuần nay!”
Chị xem xét vùng đau rồi bắt đầu châm. Tôi còn nhớ, chị đã châm cho tôi 3 huyệt, 1 ở góc hàm, và 2 huyệt khác ở vùng lưng trên (1). Thao tác của chị khá nhẹ nhàng, tôi chỉ có cảm giác thoáng qua như bị kiến cắn rồi thôi. Chị lưu kim 20 phút, sau đó lấy ra và bảo tôi trở lại vào ngày mốt.

Ngay chiều hôm đó, sau một giấc ngủ, tôi mừng quá, vì cảm giác đau đã vơi đi một nửa, nhưng điều làm tôi mừng nhất, là đã có thể ăn được một chút gì! Rồi mỗi giờ đồng hồ sau, cơn đau mỗi nhẹ dần đi, cho đến trước khi tôi gặp chị lần thứ hai, cơn đau đã giảm đến 70 %.

Lần này, ngay sau khi châm xong, Chị nói:

-“Chắc anh không cần trở lại đây nữa đâu.”

Quả nhiên, sau lần châm cứu thứ hai đó, tôi đã hết đau hoàn toàn. Chuyện quá khó tin, nhưng có thật. Nhưng cũng bởi vì quá khó tin, nên sau đó, tôi đã tìm cách lý giải một mình: “Có thể lúc mình tìm đến châm cứu, cũng là lúc thuốc trụ sinh đã bắt đầu tác dụng, chứ lẽ nào chỉ có vài mũi kim thôi mà lại khỏi nhanh đến thế.” Và tôi đã rất “yên chí” với lập luận của mình, cho dù ơn chữa bệnh của chị S., tôi không thể nào quên.

Đời sống cứ thế vẫn chầm chậm, mỏi mòn trên đôi chân uể oải của cả dân tộc. Những bất hạnh dẫy đầy chung quanh tôi, từ khi vận nước suy tàn, cũng đẩy câu chuyện đau răng chìm vào quên lãng thật nhanh. Cho đến vài tháng sau, cuối năm 1977, tôi bị cảm nặng. Thời tiết năm đó lạ lắm, chưa bao giờ lạnh đến thế. Có những ngày, người dân Sài gòn phải mặc áo len. Họ kháo nhau: “Bộ đội đem cái lạnh từ Bắc vô Nam!”.

Nhà tôi lại không còn một viên thuốc cảm nào. Từ sau cuộc đổi đời 1975, tôi thường chia thuốc cho hàng xóm, hay bạn bè những khi cần, và trước đó hai tuần, tôi đã chia đến viên Aspirin cuối cùng.

Không biết phải làm sao, tôi tìm đến Đặng Công Minh, một người bạn cùng trường Mạc Đĩnh Chi ngày nào. Sau 1975, anh cũng trở thành học trò của Bác Năm về khoa Châm cứu.

Đường đến nhà Minh gió nhiều và lạnh, lần đầu tiên, tôi phải mặc áo len giữa đường phố Sài gòn. Tôi đến Minh chỉ với ý định nhờ cạo gió. Nhưng trái với điều tôi chờ đợi, Minh muốn châm cứu cho tôi. Lần này khác với lần trước, anh châm và cứu (hơ ấm huyệt) cho tôi 4 huyệt ở vùng lưng trên (2). Để cứu, anh dùng một cây thuốc Ngải cứu to bằng điếu xì gà (Ngải cứu là một loại Đông dược, không liên quan gì đến loại cây ngải, thường dùng để luyện bùa ngải mà ta thường nghe nói đến).

Chừng 20 phút sau, Minh hỏi:

-“Xong! Ông thấy đỡ chưa?”
-“Có vẻ bớt sốt, và bớt nhức đầu, còn cái lạnh thì phải bước ra khỏi nhà mới biết được”, tôi trả lời.

Sau đó, chúng tôi rủ nhau ra một quán cà phê vỉa hè gần đó. Bên ngoài, gió vẫn từng cơn, mang theo chút hơi ẩm của một trận mưa sắp về. Chuyện phiếm chừng 30 phút, Minh lại hỏi:

-“Bây giờ đỡ chưa?”

Tôi đáp:
-“Ừ nhỉ, Ông hỏi tôi mới để ý, bây giờ hết lạnh rồi”, vừa trả lời, tôi vừa xoa vai, và chợt biết, mình đã quên mặc lại chiếc áo len dầy cộm như khi đến.

Sáng hôm sau, cơ thể tôi trở lại bình thường.

Đó là lần thứ hai tôi được chữa trị bằng khoa Châm cứu, kết quả nhanh hơn uống thuốc rất nhiều. Nhưng lần này, tôi cũng có một lý do khác: “Mình còn trẻ, sức đề kháng còn mạnh, nếu không uống thuốc hay châm cứu, sớm muộn gì cũng hết thôi”. Thế là một lần nữa, tôi nhìn kết quả trị liệu đến từ Châm cứu như một may mắn tình cờ.

Nhưng cũng từ hôm đó, trong tiềm thức tôi, dường như một điều gì đang thức dậy – vừa là một cảm xúc mỗi lúc một sâu đậm trước những dấn thân không điều kiện của những con người thật bình thường trong thoáng nhìn đầu tiên, nhưng “phía trong” là cả một cõi lòng dạt dào thương tưởng đến tha nhân, một tâm hướng vì đời không mệt mỏi – vừa là một phân vân về thân phận của chính mình, sẽ đi đâu, về đâu, khi mà chung quanh tôi, âm thanh của cái Ác ngày một lớn dần trong một xã hội từ sáng sớm đến nửa khuya luôn ồn ào khẩu hiệu, những giá trị nhân bản đích thực lui dần vào quá khứ, nhường lại hiện tại cho một cuộc sống còn quyết liệt. Người ta khinh ghét những lời tuyên truyền huênh hoang dối trá, chế diễu những luận điệu ngớ ngẩn vụng về, nhưng cùng lúc, trong tận đáy lòng một số người, nỗi sợ bị “xã hội mới” loại trừ mỗi ngày một lớn! Tôi hiểu, dân tộc Việt Nam đang đi vào một chặng đường mịt mùng nhất của lịch sử. Hư và Thực chồng chéo lên nhau trong tâm trạng từng người, và toàn cảnh cuộc đời trở thành một bức tranh bi hài rộng lớn!

May thay! Trong cảnh ngộ “Thiên Hạ mang mang ai người tri kỷ” (3) ấy, cái Thiện dù ẩn mình, nhưng vẫn còn đang tồn tại. Bác Năm, chị Sánh, anh bạn Minh, và nhiều người khác nữa, trong cách nhìn của tôi, là những viên ngọc lấp lánh hiện ra một cách bất ngờ trong những ngày tăm tối ấy.

Ba tháng sau, tôi lại gặp một vấn đề sức khỏe khác. Đôi chân bỗng nhiên bị mỏi nhừ và nóng âm ỉ một cách lạ thường, lúc đầu tôi không để ý, vì nghĩ là mình đi xe đạp nhiều, nghỉ ngơi ở nhà vài ngày sẽ hết. Nhưng không, cảm giác mỏi nhừ và nóng vẫn mỗi ngày một tăng, xoa bóp cũng không xong. Tôi vốn khó ngủ, nhưng khi ngủ được chừng một giờ đồng hồ, lại bị thức giậy. Cảm giác mỏi nhừ và nóng không ở bắp thịt, mà hình như ở tận trong xương tủy (4).
Tự xoa bóp cho mình thêm một tháng trời nữa, vẫn vậy, tôi hoang mang tự hỏi: “Hay là mình bị chuyện gì về Xương?”. Sau cùng, vào một buổi sáng, tôi quyết định đến nhà Minh một lần nữa để thử xem anh có thể giúp được gì không. Tôi vừa bước vào vừa nói:

-“Này, tôi đang có chuyện, nếu bạn giúp được, tôi sẽ xin làm học trò bạn luôn”

Minh ngạc nhiên:

-“Ông cần chuyện gì, mà học cái gì mới được chứ?”
-“Thì học Châm Cứu, nhưng mà ông phải chữa cho tôi khỏi cái vụ này mới được”. Tôi nhấn mạnh hai lần, có phần thách thức, vì không tin rằng chuyện “thần kỳ” sẽ xảy ra lần nữa.

Sau khi nghe tôi mô tả tình trạng của mình, Minh chẩn mạch, suy nghĩ vài phút, lẳng lặng sắp xếp bộ kim rồi bảo tôi nằm xuống. Sau lần châm thứ nhất, tôi chưa thấy gì thay đổi. Nhưng đến sáng hôm sau, khi thức dậy, cảm giác mỏi đã bớt đi một nửa. Tiếp tục châm cứu thêm hai lần, đôi chân tôi đã trở lại bình thường.

Lần này thì tâm tư tôi đã bị lay chuyển thật sự. Giữ đúng lời hứa, hai tuần sau, tôi chính thức trở thành học trò của Minh. Anh dậy tôi những bài học căn bản gồm các học thuyết Đông y quan trọng, những bài học về hệ thống Kinh Mạch và Huyệt đạo trong cơ thể, phương pháp chẩn đoán và quan trọng nhất, cách thiết lập một phương huyệt hữu hiệu (effective point’s prescription) để việc trị liệu đạt được kết quả nhanh chóng.

Câu chuyện từ ngày đó đến nay đã hơn 30 năm, trong quãng thời gian này, sau khi học với Minh, tôi đã trải qua nhiều giáo trình Đông y khác tại Việt Nam cũng như tại Hoa Kỳ, nhưng phải thành thật mà nói, những bài học đầu tiên từ Minh đã giúp ích cho tôi nhiều nhất. Lúc đó, tuy còn khá trẻ, anh đã là một Đông Y sĩ vững vàng từ học thuyết cho đến thực tế lâm sàng. Ngoài ra, tôi cũng học được từ anh một thủ pháp khá điêu luyện, đưa kim vào huyệt mà bệnh nhân không hề cảm thấy đau, hoặc đôi khi nếu có, chỉ là một thoáng chốc rất nhanh. Thủ pháp độc đáo này, về sau, đã giúp cho bệnh nhân của tôi an tâm, không chút căng thẳng vì sợ kim trong lúc trị liệu.

Tôi vốn sinh ra trong một gia đình Tây học, trong họ hàng lại có vài người là Bác sĩ nổi tiếng. Vì thế, nếu tôi đã từng mang nặng thành kiến xem nhẹ Đông y, cũng là chuyện bình thường. Nhưng bây giờ hồi tưởng lại, việc tôi trở thành một thầy thuốc Đông Y lại không bình thường một chút nào. Nói đúng ra là Đông Y đã chọn tôi, một kẻ từng chủ quan trong nhận thức về một nền Y Học cổ truyền quá sâu xa, lại có phần nào trừu tượng trong hệ thống lý luận, khiến những ai chưa thấu triệt, sẽ dễ dàng “nhún vai”, hay “bĩu môi” rồi kết luận rằng Đông Y chỉ là sản phẩm của một hệ thống học thuyết mơ hồ, không chứng minh được (như Tây Y) trong phòng thí nghiệm.

Đúng, Đông Y không thể chứng minh được sở trường của mình trong phòng thí nghiệm, nhưng trải qua nhiều ngàn năm trong lịch sử nhân loại, những Đông Y sĩ, đã chứng minh sở trường của mình bằng việc gặt hái rất nhiều thành quả tốt đẹp trong thực tế trị liệu. Những khẩu quyết trong học thuyết Đông Y cổ truyền, chỉ rõ mối tương quan chặt chẽ giữa Tâm lý (cảm xúc) và Sinh lý (phản ứng của hệ thống thần kinh giao cảm và đối giao cảm, cũng như của các cơ quan nội tạng trước cảm xúc), không khác gì những phát hiện của khoa Tâm Sinh Lý học sau này. Ngoài ra, Âm Dương, Ngũ Hành không chỉ là những học thuyết Y học thuần túy, mà còn là những nguyên lý, khai mở một nhãn-quan-đồng-nhất-thể giữa con người và vũ trụ bao la, đồng thời đem đến cho con người một nhận thức đúng đắn về mối tương quan giữa cá nhân với gia đình và xã hội.

Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã qua, tôi vẫn thầm cảm ơn tất cà những người tốt bụng và thiện duyên đã đẩy đưa tôi đến với Đông Y, một kho tàng Y học mà không biết đến bao giờ tôi mới thấu triệt được hoàn toàn. Và tận đáy lòng, tôi ước mơ một ngày nào đó, Tây Y, với những tiến bộ và thành tích vượt bực của mình, sẽ thật sự song hành với Đông Y trong việc phục vụ sức khỏe cho con người. Ngày ấy, mối “lương duyên” giữa hai sở trường này, dù khá muộn màng, nhưng chắc chắn sẽ đem đến cho nhân loại một phương pháp an toàn và hoàn hảo hơn trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh tật, vốn không bao giờ kết thúc. Mong thay!

Chú thích:
1/ Sau này, tôi mới biết đó là huyệt Giáp xa, nằm ở góc hàm dưới. Hai huyệt kia đều mang tên Tâm du, vùng lưng trên.
2/ Hai cặp huyệt Phong môn và Phế du, vùng lưng trên.
3/ Một câu trong bài thơ “Hồ Trường” của Nguyễn Bá Trạc.
4/ Đông y gọi triệu chứng này là “steaming bone disorder”, bệnh nhân cảm thấy dường như Nhiệt âm ỉ phát sinh từ xương.

Sơ lược về khoa Châm Cứu

Khoa Châm Cứu
Nói một cách tổng quát, khoa Châm Cứu là một ngành của Ðông Y, dựa trên học thuyết Âm Dương (Yin-Yang Theory), Ngũ Hành (Five-Elements Theory) và Kinh Mạch (Channel and Vessel Theory). Có tất cả 12 Chính Kinh (6 Kinh Dương, 6 Kinh Âm) và 8 Mạch (4 Dương Mạch, 4 Âm Mạch) được phân bố khắp cơ thể con người. Các Kinh Mạch này dẫn truyền giòng năng lượng (Energy – còn được gọi là Khí hay Sinh khí), liên hệ với các Nội Tạng. Bên cạnh đó, trong mỗi chúng ta, Âm-Dương là hai nguồn năng lực vừa đối nghịch, vừa hỗ tương nhau, cần phải được quân bình, để bảo đảm cho giòng Khí lưu thông tốt đẹp. Ngược lại, sự bất quân bình Âm-Dương sẽ khiến giòng Khí bị đình trệ hay tắc nghẽn, đưa đến rối loạn và bệnh tật.
Có trên 2000 huyệt (point) nằm trên và ngoài các Kinh Mạch, mỗi huyệt mang một nhiệm vụ riêng. Khoa Châm Cứu tin rằng, qua huyệt, người ta có thể tái lập được sự quân bình Âm-Dương, đưa giòng Khí trở lại bình thường, để phục hồi sức khỏe từ Tinh thần cho đến Thể chất.

Châm Cứu được thực hiện như thế nào?
Châm Cứu được thực hiện bằng các kỹ thuật Châm (Acupuncture), và Cứu (Moxibustion – hơ ấm), hay Điện châm (Electronic-Acupuncture) trong thời cận đại, nhằm kích thích và khai thông các huyệt hầu tái lập sự quân bình trong cơ thể. Ðó là một loại kim rất mảnh, đặc và nhuyễn, làm bằng kim loại không rỉ sét (steel metal alloy), nhỏ như sợi tóc, thậm chí nhỏ hơn. Khi châm kim, một chuyên gia kinh nghiệm sẽ khiến bệnh nhân hoàn toàn không đau, ngoại trừ thỉnh thoảng bệnh nhân có cảm giác thoáng qua như kiến cắn. Trong khi được trị liệu, đa số bệnh nhân cảm thấy thư giãn và dễ buồn ngủ. Mỗi khi huyệt được kích thích, bệnh nhân sẽ có cảm giác tê, nóng ấm, hơi nhức quanh vùng huyệt, hoặc cảm giác rần rần chạy dọc theo đường kinh mạch tương ứng. Ðó cũng là lúc huyệt được “đánh thức”, được khai thông. Vì thế, những cảm giác trên chính là những dấu hiệu tốt, cho biết huyệt đã đáp ứng một cách trọn vẹn sự kích thích của kim.

Phản ứng phụ do châm cứu gây ra thường rất nhẹ và tạm thời, gồm có: hơi chóng mặt, cảm giác đầu trống rỗng. Tuy nhiên, các phản ứng phụ này có thể tránh được nếu bệnh nhân không quá đói hay quá no trước mỗi lần trị liệu. Cạnh đó, một cách hiếm hoi, khi mũi kim chạm vào những mạch máu nhỏ li ti (capillary – vi mạch), một hạt máu thật nhỏ có thể sẽ theo ra ngoài sau khi rút kim.

Khi được dựa trên sự chẩn đoán chính xác, và xử dụng một phương huyệt tương ứng, khoa Châm Cứu sẽ đem đến cho bệnh nhân kết quả trị liệu tốt đẹp.

Tuy nhiên, có vài điều bệnh nhân cần ghi nhớ, khi tìm đến khoa Châm Cứu như sau:

* Hãy lưu ý Y sĩ nếu bạn đang có thai. Điện châm, và một số huyệt tuyệt đối không được xử dụng trong trường hợp này.

* Nếu bạn đang mang trong người một thiết bị điều hòa nhịp tim (pacemaker), bạn cũng không thể được Điện châm. Hoạt động của máy điện châm sẽ làm rối loạn hoạt động của máy điều hòa nhịp tim.

* Nếu bạn dễ bị xuất huyết hoặc xuất huyết bên trong (bầm), hoặc bị bệnh hoại huyết, một phương pháp trị liệu khác sẽ thích hợp với bạn hơn là Châm Cứu.

Châm Cứu có thể làm gì cho bạn?
Việc lượng giá tình trạng bất quân bình khí lực của bạn dựa trên những phương pháp chẩn đoán riêng biệt của Ðông y như bắt mạch, nghe giọng nói, quan sát sắc diện, cùng những phương pháp chẩn đoán khác, cũng như Y sử cá nhân (medical history), và gia đình bạn (family medical history). Từ kết quả lượng giá này, người thầy thuốc sẽ đề ra một nguyên tắc trị liệu, và một phương huyệt thích hợp.

Sau thập niên 1970, Tổ chức Y tế Thế giới đã xác nhận khả năng trị liệu của khoa Châm Cứu như sau:

1/ Những bệnh thuộc về thần kinh, cơ bắp, xương và khớp như viêm khớp, đau thần kinh, khó ngủ, chóng mặt, và đau nhức.

2/ Rối loạn tâm lý và cảm xúc như suy sụp tinh thần, buồn chán (Depression), lo âu (Anxiety).

3/ Rối loạn tuần hoàn như huyết áp cao, nghẽn mạch máu cơ tim, thiếu máu…

4/ Nghiện rượu và thuốc lá, bệnh béo phì (Obesity).

5/ Rối loạn đường hô hấp như viêm xoang, dị ứng, khó thở, suyễn…

6/ Rối loạn đường ruột như dị ứng thức ăn, tiêu chẩy mãn tính, táo bón, khó tiêu, kém ăn, viêm loét bao tử…

7/ Giúp các sản phụ sinh nở dễ dàng và nhanh chóng.

Ðến năm 1997, một bản nhận định được công bố bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ xác nhận khoa Châm Cứu rất hiệu quả khi được áp dụng một cách riêng biệt, hoặc kết hợp với các phương pháp khác để trị bệnh nghiện ngập, nhức đầu, hành kinh đau, đau cơ bắp, viêm khớp, đau lưng, hội chứng đường hầm bàn tay (carpal tunnel syndrome), và suyễn.

Ngoài ra, những nghiên cứu khác cho thấy Châm Cứu còn đóng một vai trò tích cực trong việc phục hồi chức năng trong các trường hợp tai biến mạch máu não (Stroke), thoái hóa thần kinh (Multiple Sclerosis), chống nôn ói sau khi mổ xẻ (do phản ứng phụ của thuốc mê), chế ngự những triệu chứng trước hoặc sau thời kỳ mãn kinh, chống tăng hoặc giảm trọng lượng cơ thể, tăng cường hệ thống miễn nhiễm.

Kết luận:
Bắt nguồn từ Đông phương, với một lịch sử trên 2.500 năm, Châm Cứu đã khởi đi từ những bước sơ khai, vượt qua nhiều thời đại để kiện toàn cho đến hôm nay. Từ tiền bán thế kỷ 20, Châm Cứu đã có mặt trong các tài liệu Y học tại Pháp, lan dần đến các quốc gia Tây phương khác. Ở những quốc gia này, khoa Châm Cứu đã mở ra những hứa hẹn như là một trong những phương pháp trị liệu hữu hiệu và tích cực. Mặc dù không thể nói rằng Châm Cứu có thể trị được bá bệnh, ta vẫn có những bằng chứng hiển nhiên là, nếu được áp dụng một cách thích hợp, khoa Châm Cứu đã và sẽ đem đến trên thực tiễn lâm sàng nhiều kết quả khá lạc quan.

Christopher Cuong Nguyen L.Ac., NCCAOM., Ph.D.

Nguyễn Đức Cường,
Sinh năm 1952 tại Sài Gòn
Cựu Học sinh Trung Học Mạc Đỉnh Chi, SG
Cựu Sinh viên Đại học Chính Trị Kinh Doanh, Đàlạt
Cựu Sĩ quan QLVNCH
Hiện đang hành nghề Đông Y tại Hoa Kỳ
Trú quán: Miền Nam California, USA

Khai Dân TríNguyễn Đức Cường

Tại Sao Tôi Từ Bỏ Cờ Đỏ Để Đi Với Cờ Vàng

Tại Sao Tôi Từ Bỏ Cờ Đỏ Để Đi Với Cờ Vàng

Quan sát những tranh luận xung quanh vụ Ca sĩ Mai Khôi, tôi muốn viết đôi chút về quá trình nhận thức của một người từ bên cờ đỏ nay ủng hộ cờ vàng. Tôi muốn chia sẻ với cả hai bên, cả bên cộng đồng hải ngoại và cả bên nhen nhúm đấu tranh, tức bắt đầu từ chối cờ đỏ. Sao cho cả hai bên đều có cách tiếp cận bao dung hơn và thấu hiểu nhau hơn. Tôi cho rằng vụ Mai Khôi không phải là đầu tiên mà cũng không phải là cuối cùng, sẽ tiếp tục có những vụ tương tự. Tranh luận qua lại là cần thiết, nhưng làm sao sau mỗi lần tranh luận, hai bên càng thông hiểu và gần lại với nhau hơn, tránh được sự trục lợi của cộng sản.

Lời tâm sự mà tôi muốn chia sẻ cùng với đồng bào hải ngoại phía cờ vàng là cách tiếp cận theo dạng, nếu anh không chấp nhận cờ vàng tức anh vẫn còn ở phía cờ đỏ cộng sản, có lẽ không còn phù hợp trong lúc này nữa. Tôi không tin những chỉ trích gay gắt theo dạng này, đến từ đồng bào hải ngoại mà phần lớn đến từ sự chọc ngoáy của dư luận viên cộng sản. Làm như thế không những họ vừa làm mờ đi hình ảnh thân thiện của cờ vàng, mà còn nhân cơ hội đó, lôi kéo ngược trở lại số người mới chập chững bước vào cuộc đấu tranh. Tôi không dám trách, nhưng cũng thấy cần phải nói rõ tâm trạng của mình khi cũng từng bị coi là « cộng sản nằm vùng ». Những lúc đó đau lắm lắm, đồng bào ơi. Nó như một lưỡi dao cắt ngang lòng nhiệt huyết. Lúc đó, phải cố kìm lòng để tự nhủ, thời gian sẽ là thước đo, chứng giám cho mình.
Cách đây khoảng mười lăm – hai mươi năm trở về trước, người Việt trong và ngoài nước chúng ta rõ ràng bị chia rẽ bởi một làn ranh rạch ròi: cờ đỏ – cờ vàng. Hoặc anh đứng bên này, hoặc anh đứng bên kia. Hiện nay tình trạng này đã khác đi rất nhiều. Đã có rất nhiều người dân trong nước công khai chối bỏ cờ đỏ. Nhiều người đã bước hẳn sang với cờ vàng, nhưng cũng còn không ít người, tuy họ đã bước ra khỏi cờ đỏ nhưng cũng chưa muốn bước vào với cờ vàng. Hoặc là do họ chưa dám, còn sợ phiền nhiễu của cộng sản, hoặc do họ chưa thực sự sẵn sàng. Cho nên số này thường có khuynh hướng chờ đợi một lá cờ mới. Số người này rất dễ gây ra câu chuyện cờ đỏ – cờ vàng, khi họ bước vào những sinh hoạt chung cùng với những người bên cờ vàng. Nếu họ khéo ứng xử thì có thể chỉ dừng ở mức tranh luận. Nhưng cũng có người vụng về hoặc thiếu mềm dẻo, thì rất dễ gây ra những cuộc tranh cãi lớn.

Nhưng có một thực tế đáng mừng là người dân trong nước khước từ thẳng thừng cờ đỏ ngày càng nhiều và số người dân nằm trong lòng cờ đỏ, hiểu ra vấn đề, bắt đầu yêu mến và ủng hộ cờ vàng, ngày càng đông. Chưa bao giờ đồng bào hải ngoại và đồng bào trong nước chia sẻ thương yêu và đùm bọc nhau hơn như lúc này. Đồng bào trong nước đã công khai tri ân chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa, đây đó cờ vàng đã xuất hiện ở trong nước. Đồng bào hải ngoại ngày càng ghi công và biết ơn người dân trong nước, nhất là những người đã đứng lên đấu tranh, phải chịu đè nén và tù đầy của cộng sản.

Lời tâm sự mà tôi muốn chia sẻ cùng với đồng bào hải ngoại phía cờ vàng là cách tiếp cận theo dạng, nếu anh không chấp nhận cờ vàng tức anh vẫn còn ở phía cờ đỏ cộng sản, có lẽ không còn phù hợp trong lúc này nữa. Tôi không tin những chỉ trích gay gắt theo dạng này, đến từ đồng bào hải ngoại mà phần lớn đến từ sự chọc ngoáy của dư luận viên cộng sản. Làm như thế không những họ vừa làm mờ đi hình ảnh thân thiện của cờ vàng, mà còn nhân cơ hội đó, lôi kéo ngược trở lại số người mới chập chững bước vào cuộc đấu tranh. Tôi không dám trách, nhưng cũng thấy cần phải nói rõ tâm trạng của mình khi cũng từng bị coi là « cộng sản nằm vùng ». Những lúc đó đau lắm lắm, đồng bào ơi. Nó như một lưỡi dao cắt ngang lòng nhiệt huyết. Lúc đó, phải cố kìm lòng để tự nhủ, thời gian sẽ là thước đo, chứng giám cho mình.

Những con người vừa mới dấn thân vào đấu tranh, cần lắm một sự bao dung và thân thiện. Với tấm lòng bao dung và những cử chỉ thân thiện con người sẽ sáng suốt hơn để dễ phân định giữa cảnh giác và nghi ngờ. Bao dung và thân thiện có thể làm biến đổi người khác. Kinh nghiệm của tôi là khi tôi đã tin và yêu những con người bên cờ vàng, thì mới là lúc tôi chọn cờ vàng.

Đối với đồng bào còn trong lòng cờ đỏ và những người bắt đầu ghét cờ đỏ, tâm sự của tôi là cần luôn luôn tự tìm hiểu để thay đổi nếp nghĩ. Cộng sản mong muốn xóa bỏ cờ vàng trong lòng người dân. Cả bằng đe dọa, cả bằng tuyên truyền cộng sản đã cố tạo ra nếp nghĩ của người dân: cờ vàng là xấu, phải xa lánh.

Với nhận thức cộng sản toàn làm những điều trái khoáy, nên tôi thấy cần có thói quen lật ngược lại vấn đề, tự đi tìm hiểu, đặt câu hỏi « tại sao ? », nhất là với những gì mà cộng sản muốn tuyên truyền.

Có tìm hiểu chúng ta sẽ dễ nhận ra rằng cuộc chiến đẫm máu tại Việt Nam là do tham vọng của cộng sản gây ra. Việt Nam Cộng Hòa cũng chỉ mong muốn sống trong hòa bình, để phát triển như Hàn Quốc hiện nay.

Có tìm hiểu chúng ta mới vỡ lẽ ra nhiều điều. Cờ đỏ là cờ của tỉnh Phúc Kiến bên Trung Quốc, đã bị Hồ Chí Minh rước về Việt Nam. Cờ vàng đã có từ thời Vua Thành Thái. Cờ vàng đã được Nhà nước Quốc Gia Việt Nam của ông Trần Trọng Kim, treo tại Hà Nội trước năm 1954. Thậm chí trong cái ngày 19/8/1945, người dân đã mang cờ vàng để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng đã bị Việt Minh giật xuống để cướp chính quyền.
Có tìm hiểu chúng ta sẽ nhận ra rằng cái ác đã thắng cái thiện, bên tiểu nhân đã thắng bên quân tử, bên chính nghĩa đã bị thua bên hoang dã, phi nghĩa. Xóa Việt Nam Cộng Hòa là xóa đi một chế độ dân chủ còn non trẻ để rồi cộng sản đã áp đặt một chế độ độc tài, những kẻ mu muội, bất tài lên lãnh đạo đất nước, đưa đất nước tụt hậu quá nhiều so với thế giới văn minh.

Có tìm hiểu chúng ta mới trả lời được câu hỏi tại sao đồng bào tị nạn hải ngoại lại trân trọng lá cờ vàng. Để rồi thấu hiểu, thông cảm hơn với những đòi hỏi, đôi khi đến mức hơi khắt khe về thái độ với cờ vàng.

Trước đây, tôi vẫn cứ nghĩ những câu chuyện về những đầy đọa của cộng sản với công chức, quân nhân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa; những thảm họa thuyền nhân vượt biển trốn chạy cộng sản tìm tự do, có phần hơi nói quá lên. Nhưng sau này, khi được trực tiếp nói chuyện, tôi mới thấu hiểu những mất mát mà người dân miền Nam phải hứng chịu khi họ bị cộng sản « giải phóng ». Mỗi cá nhân, mỗi gia đình là một câu chuyện bi thương. Họ đã mất quá nhiều, để có thể dễ dàng dị ứng với những gì liên quan đến cờ đỏ, đến từ cờ đỏ.

Có tìm hiểu chúng ta mới thấy, chỉ có lá cờ vàng mới thực sự chống Trung Quốc để bảo vệ giang sơn. Trái lại, cờ đỏ đang làm chư hầu cho kẻ thù phương Bắc. Chính vì thế mà cách đây không lâu, những nhóm như No U, Con đường Việt Nam … khi đi biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa, vẫn trương cờ đỏ. Nay họ đã nhận thức ra, không mang cờ đỏ nữa.

Có tìm hiểu chúng ta mới vỡ lẽ ra nhiều điều. Cờ đỏ là cờ của tỉnh Phúc Kiến bên Trung Quốc, đã bị Hồ Chí Minh rước về Việt Nam. Cờ vàng đã có từ thời Vua Thành Thái. Cờ vàng đã được Nhà nước Quốc Gia Việt Nam của ông Trần Trọng Kim, treo tại Hà Nội trước năm 1954. Thậm chí trong cái ngày 19/8/1945, người dân đã mang cờ vàng để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng đã bị Việt Minh giật xuống để cướp chính quyền.

Một trong những yếu tố làm cho các nước phương Tây phát triển, văn minh đó là tính kế thừa, bảo quản và gìn giữ truyền thống. Cộng sản đã quá ngu muội, tưởng rằng xây dựng được một chế độ mới bằng cách phủ nhận hoàn toàn các chế độ trước. Đó chính là nhân tố tạo ra sự thất bại của các chế độ cộng sản. Điều trân quý của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và của cờ vàng là biết kế tục những lựa chọn của các chế độ phong kiến Việt Nam.

Nhận thức là một quá trình, tôi tin rằng, cùng với thời gian người dân trong lòng cờ đỏ sẽ khắc phục được nếp nghĩ mà họ đã bị cộng sản cài đặt, đối với cờ vàng. Và rồi họ sẽ dần dần nhận ra rằng cờ vàng là biểu tượng của dân chủ, nhân quyền và tự do.

Nước Nga, sau khi cộng sản bị sụp đổ, cũng đã lựa chọn cờ Sa Hoàng. Vậy nên, xin cho tôi chia sẻ một niềm tin rằng, sau này khi cờ đỏ bị phế bỏ, một chế độ dân chủ tại Việt Nam cũng sẽ lựa chọn tiếp nối cờ vàng, thông qua một cuộc bỏ phiếu của toàn dân.

Đặng Xương Hùng

Khai Dân TríĐặng Xương Hùng

2017/01/16

MỘT TINH THẦN BẤT KHUẤT

MỘT TINH THẦN BẤT KHUẤT

Trước tình hình bị đàn áp, khủng bố về mọi mặt, người dân Việt trong nước, mỗi người mỗi phương tiện tìm cách phá xiềng.

"Tôi là nghệ sỹ độc lập và hát tiếng hát đòi quyền tự do biễu đạt, tự do nghệ thuật, tự do sáng tạo, tự do đi lại, tự do tụ tập v.v..." ca sĩ MAI KHÔI đang sống tại VN, nghĩa là đang sống trong chỗ hiểm nguy, có nói như vậy và thực sự đã làm như vậy. Với cái dấn thân dũng cảm đó, MAI KHÔI đã và đang thật sự đứng ngay tiền tuyến của một cuộc vận động lịch sử để Dân Tộc sống còn.

Cô còn rất trẻ, nhưng tấm lòng đối với Đất Nước rất lớn. Với sự cảm phục tinh thần bất khuất của cô, tôi xin chuyển đến quý bạn một clip của MAI KHÔI.

HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 16 tháng 1 năm 2017


Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

Chuyện công an đánh dân

Chuyện công an đánh dân

Chuyện công an đánh dân tôi đã tường thuật vài lần, các cơ quan hứa “sẽ giải quyết triệt để và nghiêm túc” nhưng sự thật hàng ngày vẫn xảy ra. Nhân dịp cuối năm Âm Lịch điểm lại đôi nét về những sự việc đau lòng này. Mong rằng từ năm sau sẽ không còn cảnh này xảy ra nữa. Nếu không kể đến vụ công an (CA) không bắt được người bán số đề, lực lượng công an đã cãi lộn với dân, rồi huy động gần cả chục người mặc quân phục “vây bắt” và đánh 5 người, làm 2 người phải nhập viện cấp cứu vào ngày đầu năm 2017, may mà nạn nhân nhân chỉ bị đưa vào bệnh viện cấp cứu. Tôi chỉ kể vài chuyện CA đánh dân đến chết vào dịp cuối năm thôi.

Hai công an đánh dân tử vong
Chuyện gần đây nhất là kết quả điều tra trưởng công an cùng 2 công an viên xã Lãng Công (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc) đã có hành vi dùng tay chân, dùi cui đánh đập vào người, vào mặt ông Nguyễn Cao Tấn. Sau buổi làm việc ông Tấn trở về nhà với nhiều thương tích trên người và qua đời tại nhà.

Theo báo Thanh Niên, kết quả điều tra ban đầu, trưởng công an cùng 2 công an viên xã Lãng Công đã có hành vi dùng tay chân, dùi cui đánh đập vào người, vào mặt ông Nguyễn Cao Tấn.

Sau buổi làm việc ông Tấn trở về nhà với nhiều thương tích trên người và lăn quay ra chết.

Theo nguồn tin mới nhất cho biết, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Vĩnh Phúc vừa có kết quả điều tra ban đầu vụ ông Nguyễn Cao Tấn tử vong sau khi được Công an xã mời lên làm việc về vụ mất điện thoại.
Gia đình đưa di ảnh của nạn nhân và hình ảnh tử thi lên dự tòa.
Đánh đập người dân tại trụ sở công an
Sau khi nhận đơn tố cáo của gia đình ông Tấn về việc ông bị lực lượng công an xã Lãng Công hành hung, cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức khám nghiệm tử thi.

Kết luận giám định của cơ quan chức năng xác định nguyên nhân ông Tấn chết là do bị phù phổi cấp trên, bệnh nhân có sẹo nhồi máu cơ tim cũ, xơ gan nặng sau chấn thương ngực. Các thương tích trên tử thi gây tổn hại sức khỏe ở thời điểm khám nghiệm là 18%.

Theo kết quả điều tra ban đầu, cơ quan công an xác định, ngày 26-10 ông Lương Duy Tuyển, trưởng công an xã Lãng Công nhận được điện thoại của bà Nguyễn Thị Mùi (vợ ông Tấn, hiện đang đi lao động tại Đài Loan) tố cáo ông Tấn lấy điện thoại của con trai mang đi bán.

Sáng 27-10, ông Tuyển viết giấy mời giao ông Trần Đăng Khôi (là công an viên) mang đến nhà và mời ông Tấn đến trụ sở công an làm việc. Trong lúc làm việc, ông Tuyển, ông Khôi cùng một công an viên khác tên là Ánh đã đánh đập ông Tấn.

Ông Tuyển dùng tay tát vào mặt, lấy chân đạp vào ngực; ông Khôi dùng tay đánh vào mặt, dùng dùi cui vụt vào ngực còn ông Ánh dùng dùi cui đánh vào mắt cá chân trái của ông Tấn. Đến 6 giờ chiều ngày 27-10, ông Tấn được thả về nhà.

Chỉ khởi tố về tội cố ý gây thương tích?
Về nhà, ông Tấn kêu đau đầu, đau người không ăn uống được gì và lên giường đi ngủ. Sáng 28-10, gia đình phát hiện ông Tấn chết trong phòng ngủ.

Dựa trên kết quả điều tra ban đầu, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các ông Tuyển, Khôi và Ánh để điều tra về tội “Cố ý gây thương tích.”

Ngày 26-12 vừa qua, xác nhận với báo chí thông tin trên, một lãnh đạo công anh tỉnh Vĩnh Phúc cho biết thêm CQĐT đã ra lệnh bắt tạm giam bị can Khôi.

Đối với bị can Tuyển, Ánh do khai báo thành khẩn, nơi cư trú ổn định nên được cho tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Trả lời câu hỏi tại sao ông Tấn tử vong sau khi bị đánh đập tại trụ sở công an xã nhưng cơ quan điều tra chỉ khởi tố các cán bộ công an xã về tội cố ý gây thương tích, vị lãnh đạo này nói, “Cơ quan công an vẫn đang tiếp tục thu thập chứng cứ, điều tra hành vi của 3 bị can và những người liên quan để xử lý nghiêm. Những người thực thi pháp luật mà lại đánh đập người dân tại trụ sở công an là không thể chấp nhận được, chúng tôi sẽ xử lý nghiêm trên tinh thần thượng tôn pháp luật, xử lý nghiêm không bao che để làm gương.”

Đừng lấp lửng bao che cho nhau
“Không bao che và xử lý nghiêm,” dân nghe mãi mệt rồi. Bao che cho nhau không chỉ để bảo vệ đàn em mình mà bảo vệ cho cái ghế của chính mình nên cái bệnh này như đã thành “tiền lệ” của các quan trên rồi. Không ai nghi ngờ gì thứ chuyện hàng ngày ở huyện này nữa. Hứa cho yên lòng, cho yên thân thôi.

Một chuyện khác thương tâm hơn là những người phụ nữ nghèo khổ không sống nổi ở nông thôn phải kéo nhau ra thành phố làm đủ thứ nghề. Không nhà cửa, không vốn đành mua hàng trả sau của mấy người trong chợ ra ngồi ở lề đường bán hàng rong. Vậy mà cũng bị dân phòng hoặc công an “nhân dân” hành hung.

Công an túm tóc, kéo lê người phụ nữ bán hàng rong
Tối 29/9, một đoạn clip ghi lại cảnh giằng co, xô xát giữa một người mặc trang phục công an và một phụ nữ ở khu vực hồ Con Rùa (quận 3, Sài Gòn) gây xôn xao dư luận.
Hình ảnh thiếu úy Hải nắm tóc bà Thảo được người dân quay lại.
Đoạn clip được đăng tải trên trang facebook cá nhân có tên N.P.N. Nội dung đoạn clip thể hiện, người đàn ông mặc sắc phục công an có hành vi túm tóc, kéo lê một người phụ nữ trên đường.

Ngay sau đó, một cô gái và một số người dân xung quanh xông vào can ngăn, đấm đá người mặc trang phục công an nhưng người này vẫn lôi người phụ nữ trên lề đường.

Theo tìm hiểu của phóng viên báo chí, sự việc xảy ra tại khu vực hồ Con Rùa, góc đường Công Trường Quốc Tế - Phạm Ngọc Thạch (thuộc phường 6, quận 3).

Người đàn ông mặc sắc phục công an trong các đoạn clip là Thiếu úy Bùi Xuân H., đang công tác tại Công an phường 6.

Người phụ nữ bị túm tóc kéo lê là bà Nguyễn Thị Thu T. (ngụ quận Bình Thạnh), bán hàng rong ở khu vực hồ Con Rùa.

Trưởng Công an quận 3 xác nhận Thiếu úy H. đang công tác tại phường 6.
Lương Việt Hà không được phân công làm nhiệm vụ dọn dẹp người buôn bán lấn chiếm lề đường.
Thông tin từ người phát ngôn của Công an cho biết, thượng sĩ Lương Việt Hà (cán bộ công an phường 4, quận 6) hoàn toàn không được phân công làm nhiệm vụ dọn dẹp các khu vực buôn bán lấn chiếm lòng lề đường nhưng vẫn tham gia, dẫn đến xô xát với dân.

Đại diện Công an quận 6 cũng cho hay, đã chỉ đạo Công an phường 4 và thượng sĩ Hà đến bệnh viện thăm hỏi sức khỏe của người bán hàng rong là anh Phạm Thiện Minh Phong (27 tuổi, ngụ quận 6). Công an phường và thượng sĩ Hà cũng đã có hỗ trợ viện phí cho anh Phong số tiền 9 triệu đồng. Riêng anh Phạm Thiện Minh Phong hiện vẫn đang nằm điều trị tại Bệnh viện 115 mà phía bệnh viện chẩn đoán là bị xuất huyết não.

Công an gạt tay chết người rồi bỏ trốn
Theo báo cáo ban đầu, chiều 9-6, nghe có vụ gây rối giữa nhóm phụ nữ và một số thanh niên tại địa phương, công an xã cử 3 công an viên tên Hiền, Đông, Tú và Trưởng Công an xã Đông Thạnh – thượng úy Phạm Thế Lâm cùng dân phòng đến giải quyết.

Đến nơi, công an xã vào nhà của anh Nguyễn Văn Chuộng (SN 1978, ngụ ấp Bắc), mời 3 phụ nữ là chị Phạm Thị Thùy Dương (SN 1982), Phạm Thị Thùy Trang (SN 1976), Đặng Thị Lệ Thủy (SN 1991, ngụ ấp Tân Thanh A, xã Phước Lại) cùng anh Nguyễn Văn Út (SN 1976, chồng chị Dương, ngụ ấp 2, xã Phước Vĩnh Tây) về trụ sở làm việc.

Do không đồng ý, nhóm này phản đối không chấp hành nên bị 3 công an viên đánh và dùng roi điện khống chế, nặng nhất là trường hợp chị Thùy Trang.

Hậu quả, cả 3 người phụ nữ đều phải nhập viện điều trị với nhiều vết thương ở tay, chân.
Chị Phạm Thị Thùy Dương kể lại, “Đúng là chúng tôi có chống trả lại công an. Thế nhưng việc đề nghị đưa chúng tôi về xã làm việc có đúng quy trình hay không? Ngoài ra, 6 người là công an và dân phòng đã sử dụng roi điện, gậy ba trắc đánh lại 3 người phụ nữ thì liệu có cần thiết? Ngoài ra, sau vụ việc này công an còn đưa chúng tôi về trụ sở xã để tạm giữ, từ chiều 9-6 đến chiều 10-6 mới cho về, làm 2 đứa nhỏ con tôi phải theo mẹ lên xã ngủ, bị muỗi chích sáng đêm.”
Các bị cáo Lê Ngọc Tâm, Lê Minh Phát, Lê Tân Khỏe (từ trái qua)
Hành hạ phụ nữ như thế họ nổi loạn để trả thù là chuyện không hiếm, cứ để tình trạng này xảy ra thì không thể tránh khỏi những vụ nổi loạn lớn hơn làm ảnh hưởng tới cả một hệ thống cầm quyền. Chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Chuyện sau cùng là chuyện công an xã đánh chết học sinh bị đưa ra tòa án. Chuyện có nhiều tình tiết nhưng không muốn dài dòng chỉ kể tóm tắt vụ này thôi.

Tòa án tỉnh Khánh Hòa mở phiên xét xử phúc thẩm vụ nguyên công an xã đánh chết học sinh
Nguyên nhân sự việc là do mâu thuẫn từ trước nên chiều 29-12-2013, thấy Tu Ngọc Thạch (SN 1999, ngụ xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, học lớp 9) đang đi trên đường, Khỏe ném chai nước khoáng bằng thủy tinh trúng đầu Thạch, Thạch bị sưng đầu và té trầy xước tay. Chiều cùng ngày, Thạch được bạn bè chở đi tìm Khỏe để giải hòa. Nghĩ 2 nhóm thiếu niên sắp đánh nhau nên Phát đến truy bắt.

Khi thấy công an, Thạch bỏ chạy nhưng Phát (công an) bắt được, còng tay, đánh vào mặt làm Thạch ngã xuống đất rồi đạp lên người Thạch. Lúc kéo cho Thạch đứng lên, Phát còn đánh nhiều cái vào hai bên mang tai và mặt nạn nhân. Chỉ đến khi ông Huỳnh Trung Thắng (Phó trưởng Công an xã Vạn Phước) đến can ngăn thì Phát mới dừng đánh.

Tại trụ sở công an xã, Lê Ngọc Tâm (SN 1983, nguyên công an viên xã Vạn Long) và Phát (cũng là công an) tiếp tục dùng tay, chân đánh vào ngực, sườn, cú vào đầu của Thạch. Sau khi trưởng Công an xã Vạn Long cho gia đình bảo lãnh Thạch về nhà, sáng 30-12-2013 Thạch ói mửa, lơ mơ và được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong tại bệnh viện.

Tại phiên tòa, gia đình em Tu Ngọc Thạch mang đến tòa một số hình ảnh trong khi giải phẫu tử thi nạn nhân.

TAND huyện Vạn Ninh đã tuyên án sơ thẩm xử phạt Lê Minh Phát 6 năm 9 tháng tù về hai tội "Bắt người trái pháp luật" và "Cố ý gây thương tích". Bị cáo Lê Ngọc Tâm, nguyên công an viên xã Vạn Long bị tòa xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Bắt người trái pháp luật”, thời gian thử thách là 1 năm 6 tháng. Bị cáo vị thành niên Lê Tấn Khỏe bị tuyên phạt 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Phát và cha mẹ bị cáo Khỏe liên đới bồi thường hơn 135 triệu đồng cho gia đình em Tu Ngọc Thạch.

Bạn đã thấy em Lê Tân Khỏe là trẻ vị thành niên (chưa đến tuổi trưởng thành) mà bị tù 3 năm, trong khi anh công anh đánh chết dân chỉ bị phạt 9 tháng tù nhưng lại được hưởng án treo (coi như không ở tù ngày nào). Pháp luật xử kiểu này thì dân càng phẫn uất hơn. Năm 2017 còn xảy ra bao nhiêu vụ nữa? Những vụ đánh chết dân còn dài dài và dân đánh lại sẽ còn mạnh mẽ hơn, dân nổi loạn là chuyện có thể xảy ra.

Văn Quang
Sài Gòn - Ngày 16/01/2017

Khai Dân TríVăn Quang