2013/07/08

Hiệu ứng nói phét!


 Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 08.7.2013  
 
                                            Hiệu ứng nói phét!

Thưa bạn đọc, đây không phải tiêu đề tôi muốn đặt, mà tôi đã đặt theo lời bình của một độc giả ở VN sau một bài báo mà bạn sẽ đọc sau đây. Thực ra tiêu đề có vẻ không được lịch sự, nhưng trong trường hợp này thì khá đúng. Tôi tin rằng bạn đọc xong bài này cũng sẽ có ý nghĩ đó.

Vào đầu tuần vừa qua, tôi rất bất ngờ khi nhận được e mail của một anh bạn ở Úc gửi cho một bài về “Huyền thoại tay không “quật ngã” trực thăng UH-1 của Mỹ.” Đọc xong toàn bài và nhất là đọc những lời bình luận ngay sau bài báo ấy, tôi cứ tưởng của một anh thuộc loại “lề trái phản động” nào “tán dóc” bịa ra bài báo này chứ làm sao có chuyện “ly kỳ rùng rợn” đến như thế được. Tôi bèn phải hỏi lại và được đường link đến bài báo. Quả nhiên khi “nhảy vào” đường link, được đưa ngay đến trang báo đó. Thời đại internet này sướng thế đấy. Nhất là một trang báo ở VN, tôi mở ngon ơ. Các bạn cứ bình tĩnh đọc hết bài này rồi cũng như tôi, nếu không tin là bài đã được đăng và những lời bình sau đó là có thật, tôi sẽ chuyển ngay tới bạn đường vào trang báo này.

Xin cứ bình tĩnh

Sở dĩ tôi phải đề nghị bạn bình tĩnh vì trong bài đó có nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều từ ngữ có thể gây “sốc nặng” đối với nhiều bạn. Tôi không sửa chữa dù chỉ một chữ mà để nguyên văn bài báo của tác giả để giữ tính cách “thật nhất” của nó. Và cũng là dịp để bạn đọc bớt chút thì giờ hiểu rõ được lối viết, phong cách viết, lối “hành xử” của một số người được gọi là “nhà báo” bây giờ ở VN và những ông “anh hùng” giàu tưởng tượng hơn mọi chuyện thần thoại. Nó hiện nguyên hình một lối tuyên truyền ấu trĩ, ấu trĩ đến nỗi làm người “bị tuyên truyền” phải nực cười, thương hại hơn là ghét bỏ, đó chính là một sự phản tuyên truyền công hiệu nhất.
 
Có lẽ tôi không cần phải làm công việc phân tích bài báo này bởi tự nó đã hiện lên nguyên vẹn giá trị rồi. Mời bạn đọc bài báo và đọc nguyên văn những lời bình rất thẳng thắn khách quan.
  
Huyền thoại tay không "quật ngã" máy bay trực thăng UH-1 của Mỹ
                                                  (Báo Phụ Nữ Today, tác giả: nhà báo Hạ Nguyên)
                                              
                                                                                   Máy bay trực thăng UH-1 của Mỹ

(Người nổi tiếng) - Ông rưng rưng nước mắt, “Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được.”
 
Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng - Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay).
 
Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dải chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi “một mình hạ hơn 8 chiếc máy bay UH - 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy.”
 
Đất nước giải phóng, dù bận rộn với cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, nhưng người cựu binh năm nào vẫn còn đau đáu một nỗi lòng với những người đồng đội đang nằm lại nơi rừng xanh, núi cao chưa tìm thấy hài cốt.
 
Từ năm 1990 đến nay, ông đã thực hiện hàng trăm chuyến băng rừng, vượt suối về lại chiến trường xưa để tìm kiếm, cất bốc mộ đồng đội.
 
Người cựu binh nặng lòng với quá vãng ấy là ông Bùi Minh Kiểm (SN 1942, trú tại đường số 5, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng), một “địa chỉ đỏ” trong hành trình đi tìm mộ liệt sĩ của thân nhân những người lính ngã xuống trên chiến trường Quảng – Đà.
 
Sau nhiều lần tìm đến nhà, cuối cùng, chúng tôi cũng gặp được ông vừa trở về sau chuyến đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực rừng núi Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam).
 
Căn nhà nhỏ nằm khuất sau con hẻm bỗng trở nên vui nhộn hơn thường ngày bởi tiếng cười nói của những người khách, cán bộ phường đến thăm.
 
Nhìn người đàn ông tuổi ngoài lục tuần, thân hình nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, khỏe mạnh, ít ai biết được rằng ông đã từng dùng đôi bàn tay ấy để ghì chặt một chiếc máy bay UH - 1 của Mỹ xuống mặt đất.
 
Dẫn chúng tôi lên căn phòng chất đầy những kỷ vật một thời lửa đạn như: bi đông nước, ba lô con cóc, dép cao su..., ông kể, “Gia đình tôi có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam.
 
Riêng tôi con út nên được ở nhà, miễn nghĩa vụ quân sự. Nhưng đất nước đang chiến tranh, giặc giã, bạn bè cùng trang lứa đã xếp bút nghiên lên đường, mình ở nhà sao được?”
 
Mặc cho gia đình can ngăn, ông vẫn viết đơn nhập ngũ và xin vào chiến đấu ở mặt trận Quảng – Đà, một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ.
 
Sau gần nửa năm huấn luyện trong gian khổ, ông được biên chế vào đơn vị 91 Đặc công (thuộc Quân khu V), thực hiện các nhiệm vụ đánh “thọc” sâu bên trong lòng địch, bảo vệ các cứ điểm quan trọng.
 
Với một người lính trẻ vừa kết thúc mấy tháng quân trường, đó bước thử thách khắc nghiệt, khó khăn. Trải qua những trận đánh ác liệt, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc đã hun đúc tinh thần người lính trẻ.
 
Sự ác liệt của chiến tranh, sự hy sinh mất mát của nhiều đồng đội, cũng không thể khiến ông khuất phục.
 
Trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh “không ngang sức” với kẻ thù, buộc ông phải gieo mình xuống sông để tránh bị rơi vào tay kẻ thù. Nhắc lại chuyện xưa, trong đôi mắt của người lính già ngấn lệ, hồi tưởng về một thời máu lửa đã qua.

                                     Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
                                     Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
 
Ông kể, đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4/1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140 - Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Vu Gia (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - PV) để bảo vệ một điểm trung chuyển đạn dược phục vụ mặt trận Quảng - Đà.
 
Trong lúc 4 người đang đào công sự thì địch sử dụng máy bay do thám phát hiện. Chỉ khoảng một giờ sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí cách đơn vị ông chưa đến 20 mét.
 
Trước khi đưa lính tới càn, bọn chúng đã cho pháo tập kích, dập tả tơi quanh khu vực bán kinh 1km trở lại. Trận pháo kích dữ dội đã làm 2 chiến sĩ của đơn vị trúng đạn, hy sinh.
 
Biết địch chắc chắn sẽ cho quân càn tới để tiêu dịch cứ điểm quan trọng này nên ông và đồng đội Nguyễn Phú Thao (ngụ TP Hải Phòng) quyết một phen sống mãi với quân thù.
 
Ngoài hai khẩu AK, ba quả lựu đạn và một số ít cơ số đạn còn lại, hai người phải chống chọi với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy cùng hơn 150 lính biệt kích, có sự yểm trợ của pháo binh địch.
“Lúc này, hai anh em chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi lặng lẽ tiến vào công sự, đạn đã lên nòng và lựu đạn cũng sẵn sàng rút chốt. Không ai nói một lời, nín thở chờ tụi biệt kích tiến vào tầm ngắn. Tụi nó sục sạo khắp nơi và khi đến gần phía bờ sông thì chúng tôi nhả đạn” - ông Kiểm nhớ lại.
 
Gặp chốt chống cự, địch nhanh chóng tản ra tạo thành thế gọng kìm để bao vây hai người vào giữa. Nhưng những loạt đạn AK tạo ra vành đai lửa khiến địch không thể tiến lên.
 
Sau ba giờ cầm chân địch, ông bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiên trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn róc két, pháo kích lần hai.
 
Quân Mỹ - ngụy tưởng rằng, chúng đang đụng độ với một đơn vị bộ đội của ta nên tiếp tục cho quân đổ bộ và tăng cường hỏa lực trấn áp.
“Quân địch sợ bị rơi vào điểm phục kích nên không dám tiến lên mà chỉ dùng hỏa lực tấn công từ xa. Nhưng nguy hiểm nhất là các trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, súng máy và AK không thể xuyên thủng lớp thép phía dưới bụng máy bay” ông Kiếm kể.
 
Giữa lúc “dầu sôi, lửa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH - 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống.
 
Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH - 1 xuống gần sát mặt đất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị anh Thao từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái. Chiếc máy bay mất thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.
 
Tiếng nổ của chiếc UH - 1 đầu tiên đã khiến phía địch hoảng loạn, gọi cầu viện. Đến trưa cùng ngày, ông Kiểm và đồng đội vẫn giữ vững cứ điểm, không để địch tiến về phía bờ sông.
 
Đợt pháo kích thứ ba của địch vừa dứt thì ba chiếc trực thăng UH - 1 hạ cánh xuống khu vực chiếc trực thăng bị rơi để tìm kiếm xác. Lợi dụng cơ hội này, hai người trườn tới vị trí thuận lợi để bắn hạ ba con “chim sắt.”
 
Ông Kiểm hồi ức như mới vừa xảy ra đây “Trong khi anh Thao lên đạn súng máy thì tôi chạy thẳng tới đuôi chiếc máy bay rút chốt lựu đạn quăng vào buồng lái.
 
Chiếc thứ nhất nổ tan tành khiến hai chiếc kia hoảng sợ cất cánh bỏ chạy, nhưng đã bị lưới đạn của anh Thao nhả xuống, hai chiếc còn lại cũng bị hạ nốt.”
 
Đến cuối giờ chiều, hai khẩu súng đã gần hết đạn, không thể tiếp tục chống cự thêm. “Lúc đó hai tai tôi đã lảng đi vì tiếng nổ, đầu nhức, mắt mờ. Anh Thao cũng bị thương chảy máu khá nhiều. Hai chúng tôi hi vọng sẽ cầm cự đến được chiều tối, bọn địch sẽ phải rút lui, hoặc phía quân ta sẽ bổ sung lực lượng cứu viện” - ông Kiểm kể.
 
Khi phát hiện hỏa lực phía ta bị suy giảm, địch bắt đầu cho quân tiến lên, quyết tâm bắt sống ổ kháng cự. Hai người vừa chiến đấu vừa tìm cách bò ra mép sông để tìm cơ hội thoát khỏi sự truy kích và đánh lạc hướng quân địch.
 
Nhưng cả hai chưa bò ra đến nơi thì ông Thao trúng mảnh pháo xuyên qua đầu, hy sinh. Lúc đó, ông Kiểm nghĩ mình cũng sẽ chết vì chỉ còn lại ba viên đạn trong băng. Ông cố lôi xác đồng đội ra sông để cả hai cùng thả trôi theo dòng nước, không phải chết trong tay quân Mỹ - ngụy.
Lê chút sức tàn ra tới sông, ông Kiểm thả mình xuống dòng nước bất tỉnh. Trôi theo dòng nước gần 6 km, sóng đánh ông tấp vào bờ. Tưởng chừng như đã nắm chắc cái chết, nhưng ông Kiểm được người dân trong vùng vớt lên, cứu sống.
 
                                    
                                  Người lính già Bùi Minh Kiểm (đứng bế cháu, thứ 3 từ phải sang trái)
                                  cùng thân nhân những người đi tìm hài cốt liệt sĩ.
 
Kể đến đây, ông Kiểm quay sang nhìn tấm di ảnh của ông Thao treo trang trọng trong nhà và ông xúc động:
“Đến bây giờ, tôi cũng không nghĩ là mình may mắn còn sống. Cả đơn vị tôi hôm ấy đã hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi. Bà con đã nuôi dấu tôi hơn 2 tuần cho hồi phục rồi tìm đường trở lại đơn vị chiến đấu.”
 
Sau trận ấy, ông được đơn vị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đó xem như là phần thưởng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người lính trẻ năm nào. Trở về đơn vị, ông và đồng đội lại bước vào những trận chiến gian khổ và khốc liệt hơn.
 
Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971, ông được đơn vị giao nhiệm vụ trinh sát, đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.
 
Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy.
 
Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh “lịch sử” đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và Điện Sơn (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2/8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét).
 
80 viên hỏa tiễn “tìm” đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy. Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó...
 
Lật giở tấm bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị năm nào, ông cười tự hào, “Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan, phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.
 
Đơn vị được tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31/3/1973....”
 
Trong thời gian 1964-1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông Kiểm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại...
 
Cuộc trò chuyện bỗng trầm xuống khi chúng tôi nhắc đến những chiến thắng, ông rưng rưng nước mắt:
“Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được.”
HẠ NGUYÊN
 
LỜI BÌNH: Một số lời bình tiêu biểu ngay dưới bài báo của các độc giả:
(nguyenvuongdang; Nguyễn Văn Nguyên; tructhang; Bandoc; Huyết ...)
+ Câu chuyện thần thoại vô chứng cứ với những chi tiết lố bịch đến mức con nít tiểu học nước ngoài cũng phải thốt lên là “bốc phét thì cũng vừa vừa thôi, còn để dành chỗ cho chữ ký!” thế mà báo nhà nước vẫn đăng mới nản!

+ UH-1F sử dụng động cơ mới General Electric T-58-GE-3 với công suất 1,325 hp. UH-1H sử dụng đông cơ Lycoming T53-L13 với công suất 1400hp. Điều đó có nghĩa là động cơ của nó mạnh từ 1,325 đến 1,400 mã lực. Muốn kéo nó đứng lại phải cần một đối lực bằng ít nhất là 1,300 con ngựa. Bác Kiểm có đi học không nhỉ?

+ Hay chỉ là trực thăng bằng giấy cúng cô hồn Rằm tháng Bảy mà bác Kiểm nhà ta thần hồn nát thần tính nhìn lộn vậy ta... hihi...

+ Thật hãi quá các cụ ơi. Nghe nói hồi xưa có vụ chiến sĩ ta cầm K54 bắn rơi B52 nữa đấy!

+ Cụ Bùi Minh Kiểm đúng là Hercule của Việt Nam! Vãi thật siêu nhân à!

+ Superman có họ hàng người Việt mà bây giờ mình mới biết!

+ Xin các bác nhà báo có bơm thì cũng bơm vừa phải thôi chứ; bơm quá đối tượng bay như bong bóng mất.

+Nhảm thật! Sau trận pháo kích dữ dội mà đơn vị ông Kiểm vẫn còn sống và bám gần đó và vẫn còn bất ngờ khi quân Mỹ đổ bộ xuống ngay đó thì ổng là Rambo và chẳng biết gì về kỹ thuật quân sự cả.

+ Theo câu chuyện kể thì lúc đang đứng dưới hào chiến đấu, ông này đã nhảy lên nắm càng máy bay lôi nó xuống đất. Xin hỏi máy bay này nếu nó biết bên dưới là địch, thì khoảng cách nó giữ với mặt đất không lẽ chỉ 1, 2 mét? Hơn nữa ông này còn đứng dưới hào, là ít ra phải ngang hông, coi như ông muốn với tới máy bay phải nhảy như người nhện. Chưa kể ổng nặng bao nhiêu? Cho hết quân trang quân dụng ổng nặng cỡ 100kg thì nhằm nhò gì với cái trực thăng này?

+Ghét nhất là đọc mấy đoạn kể lại của bố Kiểm. Toàn suy diễn và bịa chuyện, chẳng thể tin nổi.
+ Chắc tay phóng viên xem phim “siêu nhân” hơi bị nhiều!
+ Tung chảo chém gió thì cũng để đức cho con cháu với chứ.
+ Trực thăng Mỹ nó bắn rocket mà hạ thấp đến mức cho bác bám vào à? Mức đó thì nó bắn xong nó nổ luôn chắc.
+ Học ngữ văn của Việt Nam là biết khả năng chém gió khủng đến cỡ nào!Nói khoác một mình dùng súng AK47 bắn hạ cả đống máy bay chưa đã sao lại còn bảo kéo cả UH-1 xuống bằng tay không. Ngày đó thân xác bác Kiểm đặc công nhà mình nặng giỏi lắm khoảng 50kg. Sao bác tài thế! Tại hạ khâm phục! Khâm phục!
+ Vẫn biết tiền bối có công rất lớn nhưng cái gì cũng phải có giới hạn. Tiền bối viết bí kíp võ công như thế thì hậu bối chỉ có tẩu hỏa nhập ma...
+ Thế hóa ra cái trực thăng nó bay tới mức đủ thấp để ông này chạy lại bám càng, mà cả thằng phi công lẫn thằng xạ thủ ở trong không làm được gì hả? Nhẽ bọn Mỹ nó ngu quá thiểu năng vậy hả? Hay ông này còn có cả khả năng chạy siêu nhanh như của Flash?
+ Vãi đái với báo chí tuyên truyền. Tuyên truyền trong thời chiến còn hiểu được, còn thời này mà cứ thế này bảo sao bọn thanh niên càng ngày càng ngu, không suốt ngày hổ báo cáo chồn giết người chặt đầu hiếp dâm xác chết...
+ Từ bé đến giờ tôi đâu có thấy máy bay trực thăng UH-1H là cái giống gì đâu bác. Cho nên nghe bác bảo bác là “anh hùng tay không quật ngã trực thăng UH-1 của Mỹ” thì tôi bèn chỉ còn biết lắc đầu le lưỡi phục bác sát đất thôi.
+ Có phải khi xưa bác cư ngụ gần kho đạn Long Bình chăng mà nổ đinh tai vậy?
+ Bác nổ còn hơn bom tấn. Bác coi trời bằng vung, coi trí tuệ của bàn dân thiên hạ như dân Bắc Hàn khóc lãnh tụ mới dám tồn trữ của quý.
+ Kỷ lục nâng vật nặng thế giới là 458 kg. Vậy vị anh hùng Bùi Minh Kiểm của chúng ta mạnh hơn đương kim vô địch thế giới bốn lần. Quá khủng khiếp.
+ Thì đã bảo “Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm” mà lị. Với cách nói ngông này, ông kéo trực thăng một phát là xuống ngay.
+ Cái loa tuyên truyền phát ra đều có cơ sở, ngay cả người có thể đi trên ngọn lúa. Một anh nói phét có thể chưa được ai tin nhưng ngàn anh nói phét là nhìn lên trời thấy râu Lê Nin thì chục anh còn lại cũng hô lên “Ừ nhỉ... đúng là râu cụ Lê Nin đã hiện ở trên trời!” Quên mất, không biết cái đó gọi là gì. Thôi tạm gọi nó là... hiệu ứng nói phét!
+ Ngày xưa từng có những phi công quân đội nhân dân ta “rình trong mây, đợi máy bay của địch bay ngang qua rồi nhảy từ máy bay của ta sang máy bay của chúng, nạy cửa bắt sống phi công địch“à theo lời của các cụ Tuyên Huấn thì đây cũng là câu chuyện và nhân vật có thật, nhưng tạm thời chưa xác định rõ danh tính, tuổi tác, cũng như là tên của hành tinh nơi sự việc ly kỳ ấy xảy ra. Hahaha...

Bạn đã đọc toàn văn bài báo “kinh khủng” này, nếu chưa tin hẳn, bạn có thể link theo đường này:
 
[Chuyện trang Phụ nữ & Đời sống (phunutoday.vn) của báo điện tử nguoiduatin.vn]

Hãy làm sạch thông tin trong nước
 
Theo trang web Cổng Thông tin điện tử của chính phủ VN, trong giai đoạn 2013-2020 chính phủ VN rất chú trọng tới công tác thông tin đối ngoại. Tuy nhiên, theo cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông, Lê Văn Nghiêm cho biết “còn một số hạn chế như nội dung thông tin chưa phong phú, thiếu chiều sâu; thông tin đối nội và đối ngoại chưa gắn kết với nhau; việc thông tin về thế giới vào Việt Nam chưa kịp thời và đầy đủ, thiếu chọn lọc và có lúc chưa đúng định hướng. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do nhận thức của một số cán bộ, chưa được sâu sắc...”
 
                                     
                               Người VN ngày nay có thể vào rất nhiều trang web để biết rõ tình hình hơn.

 
                                    
                                                                  Các tờ báo trên sạp báo tại VN
                                              
                     Một tranh biếm họa về anh ký giả bị sếp la vì gây bất lợi cho chính quyền huyện.
 
Tôi thấy cần phải bổ sung một lý do quan trọng hơn hết là phải làm sạch thông tin trong nước trước đã. Các nguồn tin phải trung thực chính xác mới có thể gây được ảnh hưởng tới thông tin đối ngoại. Phải tháo bỏ những rào cản, những hạn chế của những quyền lực bóp méo thông tin, loại bỏ những “ký giả” thiếu khả năng chỉ biết tô son vẽ hồng.... Khi “chân mình còn lấm bề bề” thì nói chẳng ai tin. Đó mới chính là điều phải làm trước khi nghĩ đến thông tin đối ngoại./.
 
Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

2013/07/06

Fukushima Nuclear Disaster and the Future of Nuclear Power



Khai Dân TríNoam Chomsky

America's Reputation in the World, Military Capacity and Security



Khai Dân TríNoam Chomsky

2013/07/04

Đọc Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày Của Người Tù Thích Thiện Minh



Đào Văn  Bình

Nói về những “kỷ niệm” trong các trại tù cải tạo do cộng sản dựng lên sau ngày 30-4-75 thì tại hải ngọai này có cả ngàn truyện ngắn, hồi ức, thơ tù đã được viết ra. Các hồi ký viết về các trại tù - trong một giai đọan khá dài, đã được coi như là một thể lọai văn chương gây tác động mạnh mẽ cho người đọc. Hình như suốt một thập niên từ những năm 1980 tới 1990 là thời kỳ “vàng son” của những hồi ký tù. Người ta đua nhau đọc những cuốn hồi ký do các cựu tù nhân chính trị  hoặc vượt biển hoặc định cư theo diện ODP hoặc HO viết ra mà tôi còn nhớ được một số tác phẩm như sau:

Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh
Trại Cải Tạo của Phạm Quang Giai
Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ
Những Năm Tháng Cải Tạo Tại Miền Bắc của  Trần Hùynh Châu
Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo
Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ của  Đào Văn Bình
Trại Kiên Giam của Nguyễn Chí Thiệp
Trại Ái Tử và Bình Điền của Dương Viết Điền
Cuộc Nổi Dậy ở Trại A20 của Phạm Văn Thành
Vụ Án Vính Sơn của Trần Kim Định
Bác Sĩ Lê Mai (Tiểu thuyết lấy bối cảnh trại tù cải tạo của Thanh Thương Hòang)
Trại Đầm Đùn (không nhớ tên tác giả)
Tôi Phải Sống của LM Nguyễn Hữu Lễ

          Thế rồi bẵng đi một thập niên, thể lọai hồi ký tù dần dần lui vào hậu trường sân khấu để nhường bước cho những hồi ký chính trị xuất hiện, đặc biệt là những cuốn sách mổ xẻ về cuộc chiến tranh Việt Nam. Thế nhưng ngày hôm nay, do tình hình chính trị đổi thay, do sự ra đời của Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo ở quốc nội, đã đưa vấn đề tù nhân chính trị trở thành một trong những đề tài nóng bỏng. Và thật là bất ngờ, một cuốn hồi ký tù mà tác giả là người còn đang bị kìm kẹp ở trong nước được xuất bản ở Hải Ngọai. Đó là tập Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày của Thượng Tọa Thích Thiện Minh ra mắt ngày 20-1-2007 tại một hội trường sang trọng của Ambassy Suites Hotel thuộc Thành Phố San Jose nhân Lễ Ra Mắt Ban Điều Hành Hải Ngọai của Hội Cựu TNCT& Tôn Giáo Việt Nam. 

          Là một cựu tù nhân chính trị dĩ nhiên là tôi phải yêu thích các hồi ký tù. Nhưng tôi không làm cộng việc phê bình mà chỉ giới thịệu tới quý vị những gì mà một cựu tù nhân chính trị - cũng là một tu sĩ viết ra khi đã phải chịu đựng 26 năm lưu đày khổ nhục trong các nhà tù cộng sản. Với một quá trình khổ đau dài như thế, những điều tác giả viết ra chắc chắn phải có một chút gì lưu lại cho đời sau như là những sử liệu qúy giá về một giai đọan đen tối nhất của dân tộc.

          Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày dày 278 trang, bìa bốn màu với tấm hình của tác giả chụp lúc còn trẻ, mặt mũi sáng sủa, phúc hậu, trang nghiêm trong bộ y vàng của Đức Phật, tay lần tràng hạt, gồm cả thảy 13 Chương.

Chương I: Tác giả kể lại thời thơ ấu, sinh năm 1955 tại Bặc Liêu mà phụ thân là một tín hữu Cao Đài. Cha tôi có tấm lòng nhân hậu, tính tình rộng rãi hay giúp người. Mẹ tôi là một người đàn bà hiền thục, mẫu mực vất vả quanh năm vì chồnng con.” (Tr. 8) Có lúc gia đình phải tha hương cầu thực tại Vĩnh Bình (Trà Vinh). Chính tại nơi đây cậu bé Hùynh Văn Ba (thế danh của tác giả) đã có duyên với cửa Thiền và được cha mẹ cho phép xuất gia. Năm 17 tuổi (1972) tác giả thọ giới Sa Di và năm 22 tuổi (1977) thọ Cụ Túc Giới do Hòa Thượng Thích Trí Thủ - Nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo làm đàn chủ và Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ kiêm Phó Tăng Thống làm chứng minh đạo sư. Sau đó ông “tu sĩ sữa (*) này được cử về trụ trì tại một ngôi chùa tại Vĩnh Bình và đã được đồng bào Phật tử tại đây gọi thân mật bằng các tên “ông đạo, huynh, cậu và thậm chí bằng con, bằng cháu nữa.” (tr. 12).

Chương II: Biến Cố 30 Tháng 4 xảy đến như một cơn đại hồng thủy mà tác giả gọi đó là “Ách Vận Đại Biến” hay “Hắc Ám Nhật Tử (Ngày Đen Tối). Ngòai phần văn xuôi, tác giả đã mô tả lại những đau thương vô tiền khóang hậu này bằng 76 câu  thơ, tôi xin trích ra một số đọan như sau:

Chuông giáo đường đã từ từ hoang vắng
Chùa, nhà thờ vườn cảnh trống người thưa
Người thay trâu kéo cộ để cày bừa
Bao cơ khổ sáng trưa chiều tối.

Ăn cháo độn cùng củ khoai củ chuối
Biết bao người chết đói thảm thương
Kẻ ăn xin, người hành khất vạn nẻo đường
Phải trú ẩn nhà thương, bến cảng

Và cả những em bé, nữ sinh, sân trường đại học cũng không thóat khỏi cảnh đổi đời ghê rợn này:
Sân đại học ngày xưa thơ mộng lắm
Đến bây giờ cảnh buồn vắng sầu vơi
Bao thư sinh đi viễn xứ xa vời
Gío thu thổi, lá rơi buồn rũ rượi

Công viên vắng như nhớ nhung chờ đợi
Phương lẻ sầu không phơi phới trổ hoa
Cô nữ sinh áo dài trằng thướt tha
Nay cắt ngắn áo bà ba lo cuộc sống!

Riêng tác giả phải đối đầu ngay với các “anh hùng giải phóng” điển hình là Hai Thổ- Xã Đội Trưởng Du Kích, hống hách bước vào chùa, chỉ vào lá cờ ngũ sắc của Phật Giáo nói “Giờ này mà nhà chùa còn treo lá cờ của Thực Dân Pháp nữa à? Bọn Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quân, Ngụy Quyền Sài Gòn đã cuốn xéo bỏ chạy rồi, tại sao Pháp còn ở đây? Thật là hết sức phản động, có lẽ cần phải cho đi học tập dài hạn mới được!” (tr. 25)  Và ông “Quan Kách Mệnh” (*) này chỉ vào tượng Đức Phật Đản Sinh, cười khinh khỉnh nói Thằng Phật nhỏ xíu này nó không có công làm cách mạng để đánh đuổi Đế Quốc, tại sao phải thờ nó? Nó ngồi một chỗ, để chờ người ta đem quà lại dâng cúng. Nó là thành phần giai cấp bóc lột mà!” (tr. 25) 

Do áp lực của chính quyền địa phương và ủy ban tôn giáo vận buộc phải hiến ngôi chùa cho để làm trụ sở của xã đội, tác giả chạy lên Sài Gòn để trình với Tổ Đình Ấn Quang và trực tiếp xin gặp LS Nguyễn Hữu Thọ - Chủ Tịch MT/GPMN và đem về một bứt thư…trình lên Tư Hóa - Trưởng Ban Quân Báo Huyện Đội Vĩnh Lợi. Đọc xong, Tư Hóa xé nát bức thư nói rằng “Chừng nào thằng Thọ, thằng Phát (Hùynh Tấn Phát) – Chủ Tịch Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam xuống đây thì tao mới không lấy ngôi chùa này mà thôi !” ( Tr.31

Trong thời gian này, sự đàn áp tôn giáo thật khốc liệt và xảy ra ngay cho hàng ngũ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Sài Gòn. Đại Đức Thích Huệ Hiền trụ trì Chùa Thiền Viện Dược Sư Cần Thơ cùng chư tăng ni tự thiêu tập thể vào ngày 2-11-75 để phản đối bạo quyền. Hòa Thượng Thích Thiện Minh – Cố Vấn Viện Hóa Đạo bị tra tấn đến chết trong trại tù, ngòai ra khắp các tỉnh, nhiều ngôi chùa,  trường học, tự viện và tài sản giáo hội bị quản lý, xung công..”(tr. 33) 

Chương III: Nói về giai đọan tác giả vừa cứu khổ độ sanh vừa hỗ trợ, rồi tham gia Mặt Trận Dân Quân Phục Quốc sau đổi thành Mặt Trận Nghĩa Quân Cứu  Quốc – Việt Nam Dân Quốc với tư các cố vấn. Vào ngày 28-3-1979 tác giả bị bắt rồi bị giam vào Trại Giam Vĩnh Lợi , Tỉnh Minh Hải (gồm hai tỉnh Bặc Liêu và Cà Mau). Và đây đúng là một địa ngục trần gian với “những người mang tội chính trị chưa bị kết án nhưng bị cùm kẹp liên tục ngày đêm hơn bốn năm rồi..” (tr. 53) Và đây là cảnh tù đi tắm Chúng tôi tắm ở một ao nước rất cạn và dơ. Khi tắm giặt, nước bên trên chảy xuống ao, cứ múc lên tắm tiếp. Thậm chí khi khát nước cũng cứ múc lên mà uống. Cái ao này nữ tù cũng cũng thường xuyên tắm giặt, giặt đủ mọi thứ trên đời kể cả tấm tã lót của các cháu bé. Nước ao càng ngày càng bị cạn và đục ngàu, nhưng mọi người tù khát nước cứ tự nhiên múc lên mà uống, uống một cách ngon lành, dường như chẳng có suy nghĩ chuyện gì đã xảy ra.” (tr. 55) Còn các tù nhân được gọi lên “làm việc” với chấp pháp, khi trở về buồng giam thì “thân thể, tay chân bầm tím, mặt mày xưng vù, đêm về không sao ngủ được.” (tr. 56). Nếu quả đây là lời của một vị chân tu viết ra thì phải nói, tác giả là người “nghĩa khí can vân” mang giòng máu anh hùng mã thượng của Miền Nam, không bao giờ chịu khuất phục, chịu nhục trước cai tù và chấp pháp. Dù không nói ra nhưng người đọc có thể hiểu tác giả rất giỏi võ nghệ cho nên tác giả đã né tránh một cách nhẹ nhàng ngón đòn Thôi Sơn Thủ (Thiếu Lâm Bắc Phái) của tên công an muốn đánh tác giả  để dằn mặt, rồi dõng dạc nói với tên công an  “Xin lỗi anh vì tôi đang ở tù chứ cỡ hai người như anh không thể là đối thủ của tôi. Nếu muốn công bằng mà tỉ thí…” (tr. 57) Trong thời gian này tác giả âm mưu giải thóat tù nhưng vì bị phản bội cho nên kế họach vỡ lở và bị chuyển tới Trại Tù Ty Công An Minh Hải.

Chương IV: Nói về Trại Giam Ty Công An Minh Hải. Tại đây có một lọai công an mà dân chúng gọi là “công an 30 Tháng 4”. Bọn này có ngón nghề độc đáo để điều tra, nào là đánh túi bụi, đánh kiểu trên đao dưới búa, còng tay đứng, còng chéo tay sau lưng, còng ngồi đan chéo hai tay. Họ dùng nhục hình để điều tra và bản thân tôi cũng không thóat khỏi…” (Tr. 63) và “phòng giam chỉ rộng khỏang 3 mét vuông mà nhốt có khi đến 20 người..” (Tr. 63). Cũng tại trại này, cộng sản cho tù giả vào để làm khổ nhục kế để theo sát tù và khai thác điều tra đó là tên Hồ Công Sơn – cựu hạ sĩ quan binh chủng Biệt Động Quân QL/VNCH bị móc nối trước 1975 và có người chú là Hồ Nghi- Bí Thư Tỉnh Ủy Quảng Nam- Đà Nẵng. Trong chương này có một đọan “ đối khẩu nảy lửa” (*) giữa tác giả và tên Phạm Minh Chánh – Trưởng Ban Chấp Pháp có biệt danh Ba Lát Gừng rất lý thú như sau “ Này chú Thiện Minh ! Tôi hỏi chú, cách mạng từ trước đến giờ có đào mồ cuốc mả cha chú không? Cách mạng có hãm hiếp mẹ, chị gái, em gái của chú không? Mà chú tham gia vào tổ chức phản cách mạng để chống lại cách mạng vậy chú?” Và đây là câu trả lời của tác giả Này Ông Ba, tôi từ nhỏ đến giờ chỉ tu hành không có tham gia chính quyền Miền Nam, nhưng đứng khách quan tôi muốn hỏi ông rằng: Chánh quyền Sài Gòn có đào mồ cuốc mả cha ông không? Chánh quyền Sài Gòn có hãm hiếp chị gái, em gái của ông không? Tôi biết chắc là không nhưng giả sử cho rằng mọi việc là có đi nữa thì ông mới đứng lên tham gia cái gọi là “cách mệnh”. Nếu mọi việc là không thì chắc ông không tham gia cách mệnh chứ ?” (Tr. 68 &69). Khi tác giả vừa nói xong, Ba Lát Gừng tay run run…nộ khí xung thiên quát to “ Mầy, đồ bán nước, đồ lũ phản động, đồ ôm chân Đế Quốc Mỹ, làm tay sai cho Sen Đầm Quốc Tế….” (tr. 69)

Chương V: Nói về trại tù Cà Mau, nhưng tác giả đã làm người đọc phải rơi lệ khi mô tả về tình cảnh khốn quẫn của gia đình như người cha vừa qua đời, mẹ thì gầy mòn, tiều tụy” (*) còn các em “ Em thứ bảy phải nghỉ học đi bán bánh mì dạo nuôi gia đình. Em thứ sáu phải làm nghề xe đạp thồ. Em thứ năm vào tù vì liên hệ tới tác giả và người em gái thứ tư cũng phải bỏ học ngồi bán khoai, cóc, mía, ổi trước cửa nhà.” (Tr. 77). Trong giai đọan này người dân quá đói khổ cho nên liều chết vượt biển ra đi. Cho nên bên cạnh tù chính trị còn có tù vượt biên, tù cải tạo công thương nghiệp cho nên nhà tù tỉnh không còn chỗ chứa. Tỉnh Minh Hải cho dựng thêm rất nhiều nhà tù, có những địa điểm mãi tận rừng sâu và ..rất nhiều án tử hình đã được ban ra kể cả phụ nữ có thai cũng bị đem ra hành quyết! (tr. 83).
 
Tại trại tù này tác giả phải “quần thảo” với hai tên chấp pháp là Trần Văn Ơn và Lê Quang Dũng. Riêng tên Ơn đã ghép tội tử hình cho gần 20 người. Nhưng có một tên chấp pháp rất độc đáo đó là Nguyễn Ngọc Cơ tự Sáu Búa – đương kim Viện  Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân. Sở dĩ Nguyễn Ngọc Cơ có hỗn danh Sáu Búa chỉ vì công trạng của y như sau Thời kỳ còn họat động trong rừng ông này phụ trách thi hành án tử hình. Một hôm nọ, tòa án xử tử hình một bà lão trên 70 tuổi. Cụ bà bị khép vào tội “làm điềm” tức là chỉ điểm cho Quân Đội VNCH…đáng lý ra ông ta thi hành án xử tử bằng mã tấu. Nhưng đây là phiên tòa nhân dân lưu động đặc biệt, nên xử xong là thi hành án ngay. Hôm đó ông không đem theo mã tấu bên mình, nên đành tạm mượn một chiếc búa của dân làng. Ông phải cật lực và ra đòn đúng sáu nhát búa bà cụ mới tắt thở. Có người cho rằng bà cụ bị hàm oan cho nên khi chết đôi mắt cứ mở trao láo, mà không chịu nhắm nghiền lại…Ở Viện Kiểm Sát, tội nhân chỉ nghe danh thôi thì đã khiếp đảm, rởn tóc gáy rồi !” (tr. 85). Với những tên lấy khẩu cung ghê gớm như thế thì bản án tử hình chắc chắn đã dành sẵn cho tác giả. Trong phiên tòa xử tại Bặc Liêu vào năm 1981 do Ung Ngọc Uyển (em ruột Ung Văn Khiêm- cựu Bộ Trưởng Ngọai Giao của chỉnh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) ngồi ghế chánh án, tác giả bị tuyên án chung thân. Nhưng chỉ ít tháng sau, tác giả lại bị lôi ra tòa một lần nữa - gọi là xử phúc thẩm hòan tòan kín với những ông chánh án Miền Bắc mặc vét-tông oai vệ nhưng răng nhuộm đen, khít rịt, không còn thấy kẽ hở. Tôi không giỏi về Ma Y Thần Tưởng nhưng nhìn thóang qua tôi biết đây là thứ thiệt rồi!” (tr. 94) Phiên tòa y án chung thân và tác giả bị áp tải đi Trại Tù Cây Gừa giữa hai hàng nước mắt của “người mẹ với mái đầu bạc trắng và đứa em gầy ốm, lêu khêu...” Đó là hai nhân chứng duy nhất của phiên tòa điển hình cho lọai  pháp đình của lòai muông thú. Trại Tù Cây Gừa là một vùng thiên la địa võng là nơi tác giả có gặp gỡ một số tù nhân, thuộc lực lượng phục quốc của các ông Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh. Sở dĩ tổ chức này bị phá vỡ là vì cộng sản cài tình báo vượt biên qua các trại tỵ nạn Thái Lan để xâm nhập. Trong thời gian này tác giả hợp tác với hai người bạn đồng tù để vượt ngục nhưng bất thành và bị cùm hơn một năm trời trước khi bị áp tải đi Xuân Phước. Còn người bạn cùng vượt ngụcvới tác giả là Nguyễn Văn Tấn – Cựu trung úy đặc công VC ra tòa lãnh án tử hình. 

Chương VI: Trong đợt di chuyển bất thần tới Trại Tù Xuân Phước mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần, gồm 21 người trong đó có chị Thái Thị Kim Vân – nguyên huấn luyện viên Trường Nữ Quân Nhân QL/VNCH, tham gia Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết bi án tù chung thân, được anh em đồng tù mệnh danh là Nữ anh hùng, một đấng nam tử trượng phu, một nữ tướng hào kiệt. Chị đã bị công an đánh gẫy cả hàm răng chỉ vì dám hô Đảo Đảo Cộng Sản ngay trước trại.” (tr.114). Đòan áp tải và tù nhân có ghé ngang Sài Gòn vào lúc nửa khuya, nghỉ tạm tại Khám Chí Hòa và tác giả đã được nhìn lại Sài Gòn…một Sài Gòn đã chết bởi một lũ người không phải người tràn vào từ Miền Bắc đang làm ô uế cả một thành phố hoa mộng yêu kiều trước đây. 

Chương VII: Đây Xuân Phước, đây Thung Lũng Tử Thần! Một trại tù trừng giới “nằm dưới thung lũng, chung quanh là rừng núi âm u với dãy Trường Sơn bao la, nơi sơn cùng thủy tận, tưởng chừng như là chỗ cuối đất, cùng trời nên ít thấy bóng người…” (tr. 122) Trại tù này có bí số A20 gồm ba phân trại, mỗi phân trại chứa khỏang 1000 tù nhân, trước giam giữ sĩ quan thuộc chế độ cũ, sau giam giữ tù nhân bị kết tội xâm phạm an ninh quốc gia. Do chế độ lao tù khắc nghiệt, do sơn lam chướng khí, tù nhân ở đây “dễ bị nhiều chứng bệnh bất thường như sốt rét kinh niên, vàng da, bại liệt, sạn thận, mù lòa, lao phổi hay tâm thần điên lọan..” (tr. 123). Tại trại tù này, công an xử dụng tù hình sự vốn là những cán bộ, công an, bộ đội phạm pháp để cai trị tù nhân.. Có những lần Thượng Tọa Thích Huệ Đăng cùng LM Nguyễn Huy Chương ngồi rửa từng hạt cơm vì trộn muối mặn quá mà đếm chỉ được vài mươi hạt. Sau LM Nguyễn Huy Chương chết tại trại kỷ luật K2. Sống thì như thế, nhưng chết cũng chưa yên. Giai đọan đầu tù nhân chết không có quan tài, chỉ bó sơ một chiếc chiếu không được lành cho lắm. Về sau mới có quan tài nhưng không đủ đinh để đóng nắp đậy. Khi đưa xác đi chôn, quan tài được đặt trên một chiếc xe gọi là “xe cải tiến” dùng tay đẩy đi. Khốn khó trong khi đẩy, đinh bị mục, ván thùng xe rớt xuống đất, chiếc quan tài cũng rớt theo, thi hài lộ ra ngòai nằm sõng sòai trên đất.” (tr.133). Trong thời gian này tác giả đã gan lì cộng tác với một số người như BS Nguyễn Kim Long để phá ngục, giải cứu cho khỏang 1000 tù nhân nhưng kế hoạch bị bại lộ và bị tra tấn chết đi, sống lại, rồi bị đưa ra tòa thiết lập ngay tại trại tù… lãnh bản án chung thân lần nữa đúng vào năm 1987. Trong thời gian bị kiên giam, tác giả có dịp ở chung với một số chức sắc tôn giáo như: Ô. Phan Đức Trọng con nuôi Trung Tướng Cao Đài Trần Quang Vinh, Ô. Trần Văn Nhành (PGHH), LM Nguyễn Văn Vàng (Dòng Chúa Cứu Thế), LM Nguyễn Quang Minh (Nhà Thờ Vinh Sơn), LM Nguyễn Luân (Phan Rang) và LM Nguyễn Tấn Chức. LM Nguyễn Quang Minh bị đánh hộc máu ứa ra từ miệng và hậu môn rồi chết sau đó vài ngày chỉ vì mang vào trại vài chiếc bánh Thánh. Tác gỉa cũng kể lại kỷ niệm xướng họa thơ với LM Vàng và LM Nguyễn Luân trong đó có một bài thơ tứ tuyệt như sau:
Vô thần diệt sạch khó gì đâu
Đòan kết liên tôn cứu họa sầu
Đập rắn, đập mình không thể chết
Mà ta phải đập cả luôn đầu ! (tr. 146)
Riêng LM Luân bị kiên giam quá lâu, bọn cai tù dụ dỗ bằng cách chỉ cần linh mục viết một câu sau đây là chúng thả ra:
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc
Thế nhưng đã bao lần, linh mục chỉ viết:
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Không Độc Lập, Không Tự Do, Không Hạnh Phúc

Sau đó LM Luân bị cùm cho đến chết. Trước khi chết, linh mục để lại một bài thơ sau đây:
Trước kia không biết Thầy Minh
Đến đây không hẹn mà mình gặp nhau
Chúa Trời, Đức Phật trên cao
Còn ta trong ngục kết giao nghĩa tình

Chương VIII: Trại Tù Xuân Lộc Z30A nằm gần chân Núi Chứa Chan là trại tù mà chính tôi đã có lần ở đó, được thả ra năm 1984 và tác giả được chuyển về đây cùng với 250 người vào năm 1987. Tại đây tác giả có dịp gặp gỡ các Tướng, Tá Miền Nam bị tù trên 10 năm cùng một số tu sĩ nổi danh thuộc các tôn giáo như sau:
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận- Chánh Thư Ký Vịên Tăng Thống
Thượng Tọa Thích Trí Siêu (án tử hình chưa đem bắn)
Thượng Tọa Tuệ Sĩ (án tử hình chưa đem ra bắn).
Thượng Tọa Thích Tâm Lạc
Thượng Tọa Thích Nguyên Giác
Thượng Tọa Thích Minh Thông
Thượng Tọa Thích Tâm Căn
LM Trần Đình Thủ- Cha Bề Trên Dòng  Đồng Công
LM Lê Quang Quế- Tiến Sĩ Thần Học
LM Tiến (Dòng Tên) Tiến Sĩ Thần Học Roma
LM Nguyễn Tấn Chức
LM Tuyên
LM kiên nhạc sĩ Huyền Linh
Cụ Nguyễn Trác (Cao Đài)
Cụ Ba Đấu (PGHH)
Cụ Bảy Khánh (PGHH)
Ô. Tư Nhành (PGHH)
Tu Sĩ Đòan Văn Huynh

Rồi trong một dịp phái đòan trung ương của VC phối hợp với Viện Sử Học tới trại để thuyết giảng về đề tài “Truyền Thống Dân Tộc Việt Nam” và cho phép tù được phát biểu tự do. Hai lần tác giả bị cướp micro và sau đó bị chuyển sang Phân Trại B với tội lợi dụng học tập để tuyên truyền sách động chống chế độ. Và chính tại nơi đây, tác giả có dịp gặp gỡ BS Nguyễn Đan Quế và gọi đùa BS Quế là John F. Kennedy vì BS Quế được giải thưởng nhân quyền mang tên Cố TT. Kennedy. Vì sức khỏe tác giả quá yếu sau những lần tuyệt thực, BS Quế đã nhét đường vào lỗ gió thông hơi cho tác giả. Những lần Bà Tâm Vấn – vợ BS Quế vào thăm có gửi cho một số đồ chay chế biến trông giống như đồ mặn (Bà Tâm Vấn ăn chay trường) làm tác giả tưởng đó là đồ mặn, trả lại khiến tí nữa mang họa với cai tù. Sau đó thì BS Quế được phóng thích nhưng “tình cảm và tinh thần bất khuất với lập trường kiên định của BS Quế luôn hằn mãi trong trái tim tôi.” (tr. 172) 

Chương IX: Tác gỉa mô tả về cuộc tiếp xúc với phái đòan nhân quyền LHQ vào ngày 24-10-1998 do Ô. Abdel Rattah Amor cầm đầu với hai người tù Phan Ngọc Ấn tức TT. Thích Không Tánh và Huỳnh Văn Ba tức TT. Thích Thiện Minh. Mặc dù đã được ban giám thị trại tù “xuống nước năn nỉ”, dụ dỗ cho định cự tại Pháp v.v.. hai vị đã dũng cảm đề nghị với Ô. Abdel Rattah Amor bốn điểm như sau:
1.     Thả tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, tù nhân tôn giáo đang bị giam giữ.
2.     Đòi trả lại tài sản của các tôn giáo và phục hồi quyền tự do tôn giáo một cách hòan tòan trong đó có phục hồi quyền sinh họat pháp lý của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
3.     Xóa bỏ Đìêu 4 Hiến Pháp, thực hiện một chế độ đa đảng, đa nguyên, bình đẳng giữa các đảng phái.
4.     Tổng tuyển cử tự do với sự giám sát của LHQ, đôi bên đồng bộ chủ trương tình thương nhân đạo và hóa giải hận thù. 

Khoảng ba tháng sau, TT. Thích Không Tánh được phóng thích, nhưng vẫn tiếp tục gửi tiền và vật chất để nuôi tác giả trong tù. Sau buổi gặp gỡ này, cuộc sống trong tù của tác giả dễ thở hơn một chút. Và thế là sau sáu năm biệt giam, tác giả được quay trở lại với tù tập thể và lao động khổ sai. Chính vì tình hình chính trị thế giới đổi thay, do tinh thần đòan kết, một ủy ban đấu tranh  cho quyền lợi của tù nhân chính trị và tôn giáo đã ra đời bao gồm những nhân vật như sau:
TT. Thích Thiện Minh (Đại diện Phật Giáo)
Ô. Nguyễn Viết Huân (Dòng Đồng Công, đại diện Thiên Chúa Giáo)
GS Nguyễn Văn Bảo (Đại diện Cao Đài)
Cụ Nguyễn Văn Đấu (Đại diện PGHH)

Ô. Phạm Trần Anh (Cựu Sinh Viên QGHC, đại diện Hội Bảo Vệ Tù Nhân Chính Tri Việt Nam) 

Trong chương này, tác giả cũng ghi lại một số câu chuyện đau thương, trớ trêu nghiệt ngã mà tác giả thu lượm được như: Vợ Thiếu Tá Đặng Bình Minh ra thăm chồng tại Trại Tù Đồng Mua ở Miền Bằc. Sau buổi thăm nuôi người vợ ngủ nhờ tại nhà thăm để chờ mai xuôi Nam. Còn Thiếu Tá Minh trở về trại mở tiệc liên hoan mừng gặp mặt vợ. Nhưng vì sức khỏe quá suy yếu, đêm đó anh đột ngột qua đời. Chị Minh chờ cho nhà tù đưa quan tài chôn cất xong, chị tự cầm dao cắt mái tóc dài đen huyền óng ả của chị để lại trên mộ chồng cùng với một bài thơ xé ruột:
Nắng hè thiêu đốt Đồng Mua
Đặng Bình Minh chết giữa mùa thương đau
Thương anh em cắt mái đầu
Quấn trên mộ đá thay màu khăn tang.

Và chuyện của một người tù, vợ đến thăm, dẫn theo người chồng mới, ăn ở với nhau có ba đứa con, giới thiệu xong, chị ta nói rằng Nhờ người chồng sau giúp đỡ mới có tiền đến thăm nuôi anh trong nhiều năm qua và nuôi con ăn học tới ngày khôn lớn!” (Tr. 208) 

Chương X: Tác giả chia tập thể đấu tranh chống cộng sản trong nước thành bốn thành phần như sau:
1.     Đấu tranh vì tinh thần quốc gia, dân tộc
2.     Đấu tranh vì hận thù
3.     Đấu tranh vì quyền lợi
4.     Đấu tranh vì xu hướng phong trào.

Chương XI: Tác giả ghi ơn suốt đời một số ân nhân mà tác giả gọi là “ân công” như: BS Nguyễn Đan Quế, LM Trần Đình Thủ, Thầy Chương, Thầy Nguyễn Viết Huân, Thầy Nguyễn Văn Hịêp (nay đã là Linh Mục), Hòa Thượng Thích Đức Nhuận và Ô. Phạm Trần Anh (nguời anh em kết nghĩa với tác giả). Cũng trong chương này tác giả đề cao một số nhân vật như Hòa Thượng Thích Huệ Đăng, TT. Thích Không Tánh, TT. Thích Tuệ Sĩ, GS Nguyễn Văn Bảo. Nhà văn Dõan Quốc Sĩ đã được tác giả mô tả như sau “ Bác là nhà văn hóa, một bậc mô phạm, đầy đủ tư cách, một trí thức uyên thâm, tính tình từ tốn, lịch sự, nhã nhặn, ôn tồn và phúc hậu. Bác là một Phật tử trí thức thuần hòa, đạo hạnh.” (tr. 231)

Chương XII: Là chương kết luận và tác giả đã gửi gấm tâm sự của mình qua một vài nhận định như sau:
1.     Việc thả tự do cho tác giả cũng như cho bao nhiêu tù nhân chính trị và tôn giáo khác không phải phát xuất từ lòng nhân đạo của nhà cầm quyền cộng sản mà vì họ bắt buộc phải thả do áp của thế giới.
2.     Trong thời đại “ma vương quỷ dữ” lộng hành này, tác giả rất hãnh diện khi thấy Giáo Hội Phật Giáo VNTN được lãnh đạo bởi Đại Lão Hòa Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang và HT. Viện Trưởng Thích Quảng Độ. Tác giả đã dẫn Thông Điệp của Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên nói cách đây 25 năm để minh định lập trường đấu tranh hiện tại của Giáo Hội cũng như của chính tác giả “ Đối với Giáo Hội PG/VNTN, giáo hội chúng ta là hậu thân thừa kế của các tổ chức giáo hội tiền nhiệm đã có từ ngàn xưa. Pháp lý của Giáo Hội là lịch sử, địa vị của Giáo Hội là trong lòng người, đường lối của Giáo Hội là phục vụ dân tộc và chúng sanh. Do đó, dù ở đâu hay trong hòan cảnh nào, Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là Phật Giáo Việt Nam. Phật Giáo Việt Nam muôn đời vẫn là của dân tộc Vịêt Nam.” (tr.250)
3.     Còn về chuyện Đạo và chuyện Đời, tác giả hòan tòan tán đồng quan điểm của Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ khi đề cập đến thái độ chính trị của một công dân “Trên lãnh vực tu hành, sự tham gia vào đời sống chính trị không có nghĩa là ra tranh chức, tranh quyền, ứng cử dân biểu, hoặc lập đảng này, đảng nọ” mà là “ Ý thức được trách nhiệm của mình đối với Tổ Quốc, cho nên mọi người dân có quyền suy nghĩ chính trị, nói chính trị và hành động chính trị. Mỗi người dân khi biết xử dụng quyền công dân, cân nhắc lá phiều của mình để chọn người xứng đáng đại diện cho mình hay bầu người cầm vận mệnh quốc gia thì dù muốn dù không cũng đã tham dự vào đời sống chính trị rồi.” (tr. 251)
4.     Còn về vấn đề đòan kết tôn giáo, tác giả ghi nhớ tới lời trăn trối cuối cùng của LM Luân để nhắn nhủ tới các tôn giáo trong và ngòai nước như sau Dầu các tôn giáo không thể trở thành keo sơn gắn bó đi nữa thì chúng ta nhất quyết không bao giờ bị sa vào âm mưu cạm bẫy chia rẽ của loài quỷ dữ ma vương.” (tr. 255)

Chương Phụ Lục: Bao gồm một số tấm hình tác giả tới vấn an Hòa Thượng Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Quảng Độ cùng một vài sinh họat cứu trợ bão lụt Miền Trung mới đây của tác giả. Rồi tác phẩm kết thúc bằng 170 câu thơ làm theo thể Song Thất Lục Bát nhan đề Ngày Quốc Nạn xin tạm trích bốn câu:
Ngày ghi chép càng buồn trang sử
Ngày tang sầu chứng cứ còn đây
Ngày này sử khó mờ phai
Ngày vừa quốc nạn, vừa ngày quốc tang (tr. 269)

Lời Kết: Đọc xong tập hồi ký, lòng tôi vừa phẫn uất, vừa buồn bã, vừa xót xa. Qua 256 trang giấy, bằng thơ và lời văn chân tình, mộc mạc, bình dị, chất phác, hiền hậu của Miền Nam, của người dân xứ Bặc Liêu ruộng thẳng cánh cò bay, cá tôm đầy đồng, đời sống nơi đây chân tình, cởi mở…tác giả đã vẽ nên một địa ngục trần gian, một cơn ác mộng không thể tìm thấy ở một nơi nào trên thế giới. Ở một nơi nào đó trên thế giới người ta có thể giết nhau trong chiến tranh. Thế nhưng tại nơi đây, trong hòa bình, nguời ta đã dùng những thủ đọan tàn độc nhất, xử dụng những con người ngu dốt và hung ác nhất, những âm mưu hung hiểm nhất, những trò chơi tra tấn tinh vi nhất để giết hại hằng triệu người …chỉ cho một mục đích duy nhất là thỏa mãn tham vọng quyền lực cuồng điên. Chính cái thiên đường ảo vọng, chính cái chủ nghĩa cộng sản quái ác này là thủ phạm của mọi tang thương, đổ vỡ, chết chóc cho dân tộc Việt trong hơn nửa thế kỷ qua. Thế nhưng trong nỗi nhục hình của bản thân, sự đổ vỡ của gia đình, nỗi đau thương của đồng lọai, trong suốt 256 trang giấy chúng ta không thấy tác giả khơi dậy căm thù. Tác giả đã dùng những danh từ lễ độ như “anh” hoặc “ông” hoặc “bà” hoặc dùng “cấp bậc” để gọi những con quỷ dữ nói ở trên. Lúc nào tác giả cũng giữ gìn phong độ của một nhà tu hành, không bao giờ bộc lộ vẻ oán hờn mà chỉ dùng “Nhẫn nhục Ba La Mật”,”Trí Huệ Ba La Mật”, “Thiền Định Ba La Mật” để đối đầu với lòai quỷ, để thóat qua những khổ hình ngặt nghèo nhất. Dù hiện nay đang đấu tranh cho Dân Chủ, Tự Do, cho Tự Do Tôn Giáo, tác giả không chủ trương trả thù, hoặc quét sạch những con người đã gây tạo những tội ác tày trời với dân tộc mà bằng tâm nguỵện chí thành “ Cuối cùng tôi nguyện cầu mười phương chư Phật khai thị Phật tánh cố hữu của những tư tưởng bảo thủ trong Đảng CSVN, sớm giải thóat khỏi phiền trược, dứt bỏ ác nghiệp cơ cầu, hồi tâm chuyển ý, quay về nẻo thiện để đưa Dân Tộc , Tổ Quốc Việt Nam ngày càng thăng hoa phát triển.” (tr. 256).
 
          Cùng với những hồi ký tù nói ở trên, Hồi Ký Lưu Đày 26 Năm của TT. Thích Thiện Minh sẽ góp phần như một sử liệu quý giá cho đời sau nghiên cứu về đất nước Việt Nam bất hạnh./.



Đào Văn Bình
(3-3-2007)


Khai Dân TríĐào Văn Bình

Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày của TT Thích Thiện Minh


Khai Dân TríThích Thiện Minh

2013/07/02

CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA!

Lời Tác Giả: Đọc bài viết “Gửi thủ tướng Ba Dũng” đăng ngày 24/6/2013 của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi rất xúc động. Đặc biệt khi xem Video Clip cưỡng cướp đất của một bà mẹ Việt Nam Anh Hùng tại phường Cẩm Bình, tôi không cầm được nước mắt. Nhân được nghe câu chuyện về cưỡng cướp đất của gia đình một người bạn gái nhà tôi sinh ra và lớn lên ven dòng sông Nhuệ, tôi chợt nhận ra trên đất nước mình ở nơi nào người dân cũng bị cướp đất một cách tàn bạo. Ngay những dự án BĐS ở quận Hà Đông bên bờ Sông Nhuệ như Văn Phú, Văn Khê, Dương Nội…cũng làm cho bà con rất bức xúc. Đặc biệt, tại phường Dương Nội, chúng còn cho xe chở đất lấp trộm hàng trăm ngôi mộ của dân trong một đêm và cưỡng chế hàng chục hecta đất bất hợp pháp của bà con Dương Nội khiến họ phải ra giữ đất cả ngày 30 và mùng 1 Tết, mà nay vẫn chưa được giải quyết.

Bỗng vang lên bên tai lời bài hát Người Con Gái Việt: “Quê hương tôi bên dòng sông Nhuệ, bãi dâu mươn mướt xanh bờ…”, tôi đã phải vừa lau nước mắt vừa viết nên bài lục bát này để tưởng nhớ về một thời nhà tôi và những người bạn gái của cô ấy đã cùng nhau chăn tằm, dệt lụa, hái dâu và tắm mát bên dòng sông một thời thơ mộng ấy.

CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA!

(Viết tặng một thời để nhớ của nhà tôi
và các bạn gái của cô ấy)

Còn đâu sông Nhuệ ngày xưa!
Bãi dâu mươn mướt xanh bờ sông sâu
Còn đâu yếm thắm lụa đào
Trao tay nhau lỡ qua cầu gió bay
Còn đâu quê lụa Hà Tây
Thuở anh sắm lễ đợi ngày đón em
Còn đâu dòng nước xanh êm
Trăng soi thiếu nữ tắm tiên dưới cầu
Còn đâu thuở nhỏ chăn trâu
Thi nhau bơi lội khúc đầu làng em
Còn đâu nữa ánh trăng đêm
Soi bờ tre ngủ giữa miền hoang sơ
Còn đâu bè vó ven bờ
Dân chài thả lưới ngồi chờ trăng lên
Còn đâu những buổi chong đèn
Đêm đêm phụ giúp mẹ hiền quay tơ
Còn đâu anh khoá ngẩn ngơ
Phải lòng thục nữ làm thơ dâng nàng…
 
Còn chăng đò dọc, đò ngang
Anh thuê một chuyến đưa nàng rời quê
Bởi giờ Dương Nội, Văn Khê…
Nhà cao đâm nát trời quê não lòng
Đất hương hoả của cha ông
Chúng đang cưỡng chế mà không đền bù
Mẹ già gào tựa trẻ thơ
Còn chút đất thờ chúng cũng cướp không
Ngày xưa đất lúa mênh mông
Nay xây đô thị thành vùng bỏ hoang
Chúng vùi lấp cả nghĩa trang
Làm dân Dương Nội bàng hoàng đớn đau
Ba mươi Tết cũng cờ đào
Đòi đất, đòi ruộng đồng bào đứng lên
Chống quân tham nhũng đê hèn
Biển Đông sợ giặc, đất liền nạt dân
Em ơi bè đảng bất nhân
Gieo gió ắt gặt bão gần bão xa
 
Về xây lại mộ mẹ cha
Ruộng Vườn, Biển Đảo của ta quyết đòi!

 
Hà Đông, 2/7/2013
Ts. Đặng Huy Văn

Khai Dân TríĐặng Huy Văn