2014/10/20

Người nông dân trước và sau năm 1975

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 20.10.2014 

Người nông dân trước và sau năm 1975

Ông Nguyễn Minh Nhị (thường gọi là Bảy Nhị), trước năm 1975 là nông dân, sau năm 1975 ông lên đến chức chủ tịch tỉnh An Giang và cũng là chủ tịch Hiệp Hội Cá Ba Sa tỉnh An Giang.
Tượng đài Cá Basa ở Châu Đốc.
Mở đầu những trăn trở về nông nghiệp và người nông dân VN, ông Bảy Nhị chia sẻ câu chuyện thăng trầm của cá ba sa - loài cá được dựng tượng đài tại Châu Đốc - An Giang vì tầm quan trọng của nó. Bởi cá ba sa vốn là thương hiệu của VN trên thị trường quốc tế. Nhưng chính vì lối làm ăn gian dối nên bây giờ tìm một con cá ba sa cũng không ra khiến nhiều nông dân điêu đứng.

Tuy nhiên sự so sánh về sự thay đổi của người nông dân VN từ trước năm 1975 và sau năm 1975 tới nay mới là điều khiến chúng ta suy nghĩ. Những phân tích của ông rất thực tế, không thể phủ nhận. Mời bạn đọc hãy xem lời ông nguyên chủ tịch tỉnh An Giang. Khi được phóng viên hỏi:

- PV: Thưa ông, tại sao tầng lớp nông dân luôn được xem là thật thà, chất phác mà lại có những trò gian dối như vậy? Không chỉ có trong nuôi cá và trồng lúa, họ sẵn sàng phun thuốc trừ sâu vào rau để sáng mai thu hoạch bán, bất chấp sức khỏe của người tiêu dùng?

- Ông Nguyễn Minh Nhị trả lời: Nông dân mình có nhiều cái tệ, nhưng không trách họ được và cũng không nên trách. Họ không có điều kiện để hiểu biết hết nên thấy cái gì có lợi là làm, hứng lên là làm. Có ai chỉ họ làm cái gì cho có hiệu quả đâu? Họ phải tự mày mò, tự mưu sinh, làm ra sản phẩm may thì bán được, không may thì lãnh đủ nợ nần!

Họ không có tổ chức, không có ai hướng dẫn họ làm cái gì, không nên làm cái gì, làm ra bán ở đâu. Họ phải tự mưu sinh bằng những cách làm hại chính cả họ. Và, cuối cùng họ vẫn là người chịu thiệt thòi nhất. Theo tôi biết, ở các nước, nông dân được quan tâm, được tổ chức rất tốt chứ không bỏ mặc như nông dân ở ta đâu.

Tình làng nghĩa xóm, tình quê hương bị tha hóa, vì sao?
PV: Theo ông, nguyên nhân những khiếm khuyết đó của nông dân ta, mà trầm kha nhất là chụp giật, tầm nhìn ngắn, tự đục vào chân mình là gì?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Ngày xưa, nông dân ta luôn được đánh giá là lương thiện, đạo đức, cần cù. Còn ngày nay, họ cũng bị ảnh hưởng rất nhiều thói xấu. Tất cả bắt nguồn từ sự chụp giật, tranh thủ tối đa, bất kể hậu quả. Căn bệnh này đã lây lan rộng chứ không chỉ nông dân. Nhưng với nông dân thì quả thật đau lòng, vì họ lẽ ra phải là thành trì của đạo đức, của sự lương thiện, chất phác phải không?
 

Theo tôi, chúng ta phải nhìn sâu xa vào những nguyên nhân từ trong chính sách. Bản chất của nông dân là gắn với đất đai, cả ngàn đời nay là vậy. Nông dân là đất, đất là nông dân.
 

Khi đất không phải của nông dân mà chỉ được sử dụng có thời hạn thì họ chẳng còn gắn bó máu thịt với đất đai như xưa.
 

Không còn gắn bó thì cũng không còn gìn giữ, bồi đắp vào cho đất, vì ngày mai có còn là của mình nữa đâu! Nhiều cái xấu ra đời từ đây, chính vì không gắn bó với đất, không nặng lòng với đất mà lương tâm, tình làng nghĩa xóm, tình quê hương bị tha hóa, sẵn sàng đánh đổi vì những lợi ích ngắn hạn.
Ông Nguyễn Văn Hải, người mù bán vé số bị cướp giật đến nỗi phải tự tử.
Người nông dân trước và sau giải phóng
Ông Nhị nói tiếp: Tôi còn nhớ hồi mới “giải phóng,” ta thực hiện chính sách "nhường cơm sẻ áo" giống như ở miền Bắc trước đây. Hồi ấy, những người có nhiều ruộng đất trong Nam là do họ cần cù, siêng năng, chịu khó mà có nên nặng lòng với đất. Tôi nhớ như in nhiều nông dân nghèo được nhà nước chia lại ruộng của những người này, đã không nhận. Họ nói, “Người ta làm sáng tối, không biết nghỉ mới có nhiều đất. Mình lấy không của người ta coi sao được!”
 

Tôi báo cáo việc này lên Tỉnh ủy, ông Bí thư lúc ấy kết luận, “Nếu không nhận đất thì không phải là nông dân, thì không cho nữa!” Đơn giản thế thôi. Lúc ấy chúng ta không lường được hậu quả tai hại như ngày nay đang chứng kiến.

Người nông dân vốn dĩ là tốt, đã chuyển hóa và tha hóa từ đó. Lúc đầu thấy nhận đất của người khác, tức mồ hôi và nước mắt của người khác là "kỳ lắm,” "coi không được,” quyết không nhận! Nay thì khác rồi. Hai đám ruộng của hai nhà liền ranh còn lấn nhau từng chút huống chi những chuyện khác có nhiều lợi ích hơn. Cái gì lợi cho mình thì dẫu có hại cho người khác cũng làm.

Cái tình của người nông dân với đất phôi phai đi cũng làm cho cái tình với quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn không còn thiêng liêng như xưa. Những giềng mối gìn giữ đạo đức, lương tri, nhân bản chân chất nhất cũng từ đấy mà sút sổ, long ra.

PV: Thưa ông, theo tôi biết hàng năm Chính phủ vẫn cho thu mua tạm trữ, giảm áp lực tiêu thụ lúa cho nông dân mà?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Chuyện này tôi quá hiểu! Khi lúa chín rộ, các công ty lương thực sàng bên này, lách bên kia để chậm thực hiện. Bởi giá lúa càng thấp thì họ càng có lợi. Đến khi thực hiện cũng đâu có làm đúng như tinh thần chỉ đạo. Nông dân gần như chẳng được gì.

Tôi có ông bạn cùng quê xứ Tịnh Biên làm công tác thu mua lúa. Tôi đến mấy trạm thu mua của ông ấy kiểm tra, thấy có hai giá mua, cao và thấp khác nhau. Giá rẻ để ngoài là giá mua thật cho nông dân, còn giá cao cất bên trong, khi có đoàn kiểm tra đến thì trưng ra! Bữa tôi bất ngờ đến, họ thay không kịp, tôi hỏi sao làm ăn vậy. Họ trả lời, “Giá cao là giá nhà nước quy định. Còn giá thấp là giá thu mua theo... thị trường!” Bất nhẫn vậy đấy. Nhà nước cho vay không lãi để thu mua song thực chất họ mua vẫn ép nông dân chứ có nương gì đâu!
 

Tôi cũng nhiều lần đi ký hợp đồng xuất khẩu gạo với anh em. Ký xong về giá lúa lên là... bẻ chĩa ngay!
 

Hậu quả của lối làm ăn chụp giật, giả dối này ghê gớm lắm. Tôi sợ nhất là nó truyền đời đến con cháu sau này thành một xã hội giả dối. Còn thế hệ sau thì sao? Lo lắm!

Lo là phải
Ông chủ tịch lo là phải, thật ra sự giả dối lừa lọc phát xuất từ sự sa sút trầm trọng của đạo đức và văn hóa, sự nhẫn tâm của những người được gọi là có quyền thế, có địa vị trong xã hội, bởi họ chính là tấm gương cho nhân dân nhìn vào đó mà noi theo nên mới có câu “thượng bất chính, hạ tắc loạn.” Và cũng chính tại chính sách đất đai là của nhà nước chứ anh nông dân không có quyền hành gì. Ông Nhị đã thẳng thắn chỉ rõ:

“Người nông dân vốn dĩ là tốt, đã chuyển hóa và tha hóa từ đó. Lúc đầu thấy nhận đất của người khác, tức mồ hôi và nước mắt của người khác là "kỳ lắm,” "coi không được,” quyết không nhận! Nay thì khác rồi. Hai đám ruộng của hai nhà liền ranh còn lấn nhau từng chút huống chi những chuyện khác có nhiều lợi ích hơn. Cái gì lợi cho mình thì dẫu có hại cho người khác cũng làm.”

Bạn đã tìm thấy câu trả lời qua dẫn chứng của ông cựu chủ tịch tỉnh. Bạn đã thấy rõ nguyên nhân sâu sa sự đổi thay đó của người nông dân từ trước “giải phóng” họ lương thiện bao nhiêu thì sau “giải phóng” họ gian dối bấy nhiêu. Đó là sự thay đổi chứ không phải là bản chất của người nông dân. Họ vốn cần cù, lương thiện nhưng cuộc sống buộc họ phải giả dối, bị lây nhiễm cái thói tham lam của những người “trên họ” và những người xung quanh, không giả dối chỉ có đói. Có thể coi như một hành động tự bảo vệ.

Chẳng phải chỉ có người nông dân mới buộc phải thay đổi mà ngay những doanh nghiệp cũng không thể làm ăn lương thiện. Rất nhiều ông chủ doanh nghiệp và một số không ít các chủ công ty nước ngoài đã từng than thở, “Có muốn làm ăn lương thiện cũng không được” vì có nhiều cửa, nhiều ngõ phải “bôi trơn” bởi đủ thứ giấy phép.

Hàng ngàn kiểu giấy phép cha, con, cháu chắt
Theo nghiên cứu của chuyên gia độc lập Lê Duy Bình cho biết: có tới 895 điều kiện kinh doanh cấp 1, chính là giấy phép “cha,” 2,129 điều kiện cấp 2, là giấy phép “con” và 1,745 điều kiện cấp 3, là giấy phép “cháu.”

Nghe bằng ấy thứ giấy phép đã hết hồn, còn muốn kinh doanh làm gì nữa. Mỗi cái giấy phép là một cửa phải chui lòn mới qua được. Ông Phan Đức Hiếu, Phó Trưởng ban môi trường kinh doanh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, chia sẻ, “Rất nhiều điều kiện kinh doanh đặt ra là không cần thiết, không hợp lý, không rõ ràng, cụ thể.” Đó chính là mảnh đất màu mỡ cho những tay có chức có quyền dù chỉ là quyền bé tí cũng tha hồ bòn rút túi tiền người dân.

Vậy thì đừng hỏi tại sao kinh tế cứ trì trệ, nông dân đói nhăn răng, doanh nghiệp đóng cửa dài dài, nợ xấu cứ như chúa Chổm, trộm cướp, gái điếm cứ ngày một gia tăng. Con người bị chính xã hội mở đường cho tha hóa. Tội ác càng ghê gớm hơn.
Đặng Hùng Phương giết cha ở Vĩnh Long.

Con giết cha ở Vĩnh Long mang xác lên Sài Gòn phi tang, chồng giết vợ, vợ giết chồng, cháu đánh bà, dùng thuốc mê bỏ vào thức ăn để trộm cắp tài sản của những người già và người neo đơn để trộm cắp tài sản, đểu cáng và tàn bạo hơn một công nhân đã cho thuốc diệt chuột, phân người, dao mổ cá, ốc vít vào hàng xuất khẩu sang Nhật... 

Nguy hiểm hơn nữa mới chiều ngày 11/10 vừa qua, tại huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) có tới gần 60 người lập thành một nhóm mang theo hung khí như mã tấu, ống sắt xe chạy thành đoàn dài diễu hành giữa phố la hét, nẹt pô, đuổi chém bất cứ ai gặp được… Bạn đã thấy rùng rợn chưa?

Sự tàn nhẫn đi đến đỉnh điểm
Hằng ngày, trên các mặt báo hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác, người ta thấy tràn ngập các vụ thuộc loại "cướp, giết, hiếp" hay "tiền, tình, tù tội,” nhiều vụ việc kinh hoàng, sởn gai ốc. Chỉ cần nhìn vào bản tin sau đây bạn đã có thể thấy được sự tha hóa đến mức nào.

Lừa cả người bán vé số nghèo khổ đến nỗi ông ta phải tự tử
Ông Nguyễn Tiến Dũng (43 tuổi, quê tỉnh Nam Định), tạm trú tại nhà trọ Văn Vĩnh, khóm 5, phường 6, (TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau), từng nói với những người quen là vợ phản bội, bỏ quê đi lao động nước ngoài và ông quyết định rời quê Nam Định vào Cà Mau bán vé số dạo từ tháng Hai năm nay.
 

Mấy ngày trước, có một người đưa ông tấm vé số bảo rằng, người này trúng giải thưởng trị giá 3 triệu đồng, ông Dũng tin tưởng đưa trước 2 triệu đồng và 1 triệu còn lại mua 100 tờ vé số khác (mệnh giá 10 ngàn đồng/1 tờ). Tuy nhiên, khi ông Dũng đến đại lý đổi vé số trúng thưởng mới phát hiện tờ vé số bị làm giả.

Đang cảnh khó khăn, mất tiền oan uổng. Chiều tối ngày 30/9, ông nhảy sông tự tử vào 9 giờ sáng cùng ngày, tại đoạn kinh xáng Cà Mau – Bạc Liêu.
 

Nạn cướp giật vé số và lừa đội vé số giả với những người quá nghèo khó hiện nay cành lộng hành ở khắp nơi. Sự tàn nhẫn đi đôi với sự tha hóa.

Nữ sinh giết cán bộ huyện đã ngủ với 3 bạn tình trong ngày gây án
Phùng Thị Thanh 18 tuổi, ở huyện Vĩnh Tường đang bị điều tra về hành vi giết người, cướp tài sản. Nạn nhân là anh Lê Hải Đăng (26 tuổi). Thanh khai quen anh Đăng qua Facebook. Không yêu anh Đăng là cán bộ hợp đồng Phòng Tài chính kế hoạch huyện. Tuy đã có người yêu nhưng Thanh vẫn đôi khi vào nhà nghỉ với anh này. Trong lúc trò chuyện trong nhà nghỉ, Thanh nhắc đến chuyện anh Đăng hứa cho tiền và điện thoại rồi hai người to tiếng. Cô ta rút con dao gọt hoa quả cất trong túi tấn công bạn tình và bị nạn nhân tát. Trong lúc giằng co, Thanh đâm nhiều nhát, trong đó có vết trúng tim khiến anh Đăng tử vong.
Cô gái diễn lại cảnh giết người tình.
Trước khi bỏ đi, nữ sinh này lục ví nạn nhân lấy được gần 4 triệu đồng rồi ném toàn bộ giấy tờ tùy thân, sim điện thoại của nạn nhân vào bồn cầu phi tang. Thanh dùng khăn xóa một số dấu vết tại hiện trường, chùi tay nắm cửa... rồi ung dung về nhà.
Chiều cùng ngày, sau khi về nhà tắm, Thanh hẹn hò với bạn trai trong một nhà nghỉ khác. Đến tối, nữ sinh này tiếp tục đi chơi, lại hẹn hò với bạn trai cho đến khi bị bắt.

Bạn đã thấy sự lạnh lùng tàn bạo đến rùng mình của cô học sinh này chưa? Nhưng chưa hết, thời nay còn những chuyện “quái thai” hơn thế nữa.

Sống bày đàn như thời hoang dã
Tôi không thể hình dung ra cảnh sống bầy đàn của các cô các cậu chưa đủ tuổi trưởng thành, chưa một thời đại nào ở VN có cái cảnh ghê tởm này.
Các cô gái còn rất trẻ đã “quan hệ” bày đàn.

Một nhóm thanh niên nam nữ 9X buồn chuyện gia đình, quen nhau qua mạng xã hội rồi rủ nhau vào nhà trọ sử dụng ma túy, quan hệ tình dục tập thể. Công an quận Liên Chiểu (TP.Đà Nẵng) cho biết đã bắt quả tang, vừa ra quyết định xử phạt đối với những người có liên quan đến vụ việc thuê nhà nghỉ để sử dụng ma túy, ăn nhậu và quan hệ tình dục kiểu tập thể.

Cứ khoảng 22h đêm những ngày giữa tháng 9/2014, người dân dân khu vực tổ 137 phường Hòa Minh (quận Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng) lại phát hiện một nhóm nam nữ thanh niên tóc nhuộm màu, xăm trổ nhiều hình ra vào nhà nghỉ Thiên Hà có biểu hiện khác lạ.
 

Trong số 9 thanh niên thiếu nữ bị bắt, có 2 người đi làm tiếp viên tại các quán karaoke tại Liên Chiểu; 2 người khác làm thợ uốn tóc, số còn lại không có nghề nghiệp ổn định, suốt ngày chỉ đi chơi.

Trong số 11 cô cậu, có 8 em dương tính với chất ma túy, chiếu theo độ tuổi, mức phạt được đưa ra như sau: Phạt cảnh cáo đối với H.T.K.T (mới 15 tuổi) và H.T.KC (cũng15 tuổi). N.V.T (22 tuổi) và P.V.T (22 tuổi, cùng ở tại quận Liên Chiểu).
 

Xử phạt hành chính 375.000đồng/người đối với các em N.T.M (16 tuổi, quê Quảng Ngãi), H.T.T (16 tuổi, ở quận Liên Chiểu), H.T.K.L (18 tuổi, ở tại quận Thanh Khê), H.T.Đ (17 tuổi, ở quận Sơn Trà).

Đó là những hình ảnh, gia đình tử tế nào đọc cũng thấy sởn gai ốc. Phải chăng xã hội đang lao dốc đến độ “hết thuốc chữa.” Rồi còn những tệ nạn nào nữa đây?

Tràn lan người nghiện xin đểu tại trung tâm Sài Gòn
Tại buổi làm việc của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với UBND TP Sài Gòn, chiều 6/10, Phó giám đốc Công an TP Phan Anh Minh cho biết, thành phố hiện có hơn 19.000 người nghiện, tăng hơn 7.000 so với năm trước. Do không được đưa đi cai, người nghiện tụ tập thành băng nhóm, tổ chức các vụ trộm cắp.
 

“Vừa rồi công an quận 9 lập 5 bộ hồ sơ đưa người nghiện đi cai, nhưng rốt cuộc bị tòa án trả về hết vì sai biểu mẫu,” ông Minh nói và cho biết từ những hạn chế của Luật, một bộ phận công an cấp phường có dấu hiệu làm ngơ, lơ là trách nhiệm trong việc người nghiện hút chích công khai ở nơi công cộng.
 

Tổng cục phó Cảnh sát phòng chống tội phạm cũng cho hay, tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng, phức tạp hơn tại TP Sài Gòn. Nguyên nhân nổi bật là số người nghiện ma túy tăng nhanh. “Nghiện hút lang thang nhiều ngoài cộng đồng sẽ làm gia tăng các băng nhóm, tình trạng trộm cắp vặt diễn ra nhiều hơn.”

Hãy nhìn vào một công viên nổi tiếng giữa Sài Gòn
Công viên 23/9 (phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP Sài Gòn), trưa 20/9 xuất hiện ba thanh niên dáng vẻ uể oải từ đường Phạm Ngũ Lão đi vào. Nhìn ngó xung quanh, họ ngồi thụp xuống một gốc cây lớn che khuất tầm nhìn. Một người tay nhiều hình xăm rút ra bọc kim tiêm, pha chất bột trắng gói trong miếng giấy bạc vào ly nhựa có sẵn một ít nước. Họ lần lượt hút dung dịch trong ly vào ống tiêm rồi bơm vào cánh tay, mặc kệ người xung quanh.
Người nghiện chích ma túy công khai tại công viên 23-9 Quận 1, Sài Gòn.

Tiếp đó, một người leo lên ghế ngủ, hai người còn lại xuôi chân tựa vào gốc cây. Đoạn công viên 23/9 từ đường Nguyễn Thị Nghĩa đến Nguyễn Trãi có hàng chục thanh niên nghiện hút tìm đến vào mỗi buổi trưa. Những người này chiếm lấy ghế và ngồi thành nhiều nhóm nhỏ. Kim tiêm vứt đầy trong các bồn hoa, thảm cỏ hoặc nổi lềnh bềnh ở mặt hồ sen nằm giữa công viên.
Chích xong, ống chích được vứt đầy công viên và không được thu dọn.
Chừng một giờ sau, gã thanh niên có hình xăm ở cánh tay bật dậy, hướng mắt về đôi nam nữ vừa ngồi xuống ghế đá chếch bên phải hồ sen. Chụp chiếc nón lưỡi trai lên đầu, anh ta xấn đến, gã ấn chiếc nắp chai nước ngọt vào mặt chàng trai, nói, “Hai đứa mua cho anh cái này đi, 20.000 đồng.”
Tại một góc khác của công viên, cặp vợ chồng trung niên ăn mặc lịch sự vừa đi vừa nói chuyện. Thỉnh thoảng họ nhìn quanh, chỉ trỏ rồi chụp cho nhau kiểu hình. Bất chợt nam thanh niên mặt mày bặm trợn, lếch thếch bước đến bên người phụ nữ, hắn nói, “Anh chị cho em xin 10 nghìn mua thuốc. Nói thật em bị xì ke. Em mà lên cơn là cướp, đâm chém, việc gì em cũng làm. 10 nghìn là nhỏ với anh chị nhưng lớn với em lắm.”
 

Trước hành động xin như cướp, người vợ kéo chặt túi xách vào người, hối chồng đưa tiền cho hắn, đi như chạy khỏi công viên.

Đó là những hình ảnh rất đau lòng cho xã hội VN khiến người dân luôn lo sợ ngay khi ở trong nhà cho đến khi bước ra đường. Ai phải chịu trách nhiệm với những hình ảnh ghê sợ này?

Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

2014/10/17

Chuyện Thầy Thích Thiện Minh

HT Thích Thiện Minh
Thắp một NÉN HƯƠNG tưởng niệm cái chết thứ 36

Thắp Nén Hương

Kính thưa bà con,

Cái chết trong tù một cách mờ ám của Hòa Thượng Thích Thiện Minh thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một trong những bài tóan chưa có đáp số về sự dã man mà cộng sản Việt Nam dành cho những ai muốn sống như những con người chân chính. Nhiều thế hệ của các nhà nghiên cứu và yêu thích bộ môn tóan học đã bỏ ra hàng mấy chục năm hay cả hàng trăm năm để tìm giải đáp cho những bài tóan hóc búa. Cũng như vậy, những người con Việt yêu chuộng sự thật và tự do tôn giáo không thể bỏ qua bài tóan vụ án Hòa Thượng Thích Thiện Minh năm 1978. Nói cho cùng thì bất cứ bài tóan nào chưa có đáp số đều là bài tóan đáng có được câu trả lời.  

Do đó, chúng tôi xin phép gửi đến bà con "Chuyện Thầy Thích Thiện Minh" như một tài liệu tham khảo. Hy vọng sớm ngày vụ án này sẽ được làm sáng tỏ.


Nguyễn Vân


Chuyện Thầy Thích Thiện Minh

L.T.S:  Lâu nay, giới Phật tử ở trong cũng như ngoài nước chỉ biết Thượng Tọa Thích Thiện Minh chết ở trại cải tạo Hàm Tân (Phan Thiết cũ).  Trong một bức thư gửi từ Sàigòn cho tòa soạn Quê Mẹ ngày 7.11.78, Hòa Thượng Thích Trí Thủ đã viết: "…Thầy Thiện Minh đã qua đời một cách hắc ám tối tăm trong cơ cực, tin cho bà con biết. Khi thầy nằm xuống, không một thân nhân ở đó. Khi được tin thì cũng chỉ được quyền ngó mặt rồi họ giục về cho họ đi chôn.  Muốn ở lại thêm họ cũng không cho (…)". Nhưng cho đến nay vẫn chưa ai biết là Thượng Tọa đã bị tra tấn cho đến chết ngay ở Sàigòn, tại Trại X4 (ở đường Nguyễn Trãi, SG) là trại thẩm vấn (hiểu là tra tấn) và tạm giam trước khi phân phối qua các nhà tù hay trại tập trung. Cộng sản đã chở xác Thượng Tọa ra Hàm Tân để đánh lạc hướng biểu tình của Phật tử ở Sàigòn đang sôi động sau những ngày Thượng Tọa bị bắt.
 

Mới đây, ông Lê Xuân Thuấn, nguyên là một cán bộ công an làm việc tại Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Nội vụ của cộng sản VN, không chịu đựng nỗi sự thống trị nghiệt ngã dã man và vô cùng xảo quyệt của cộng sản, đã vượt biên tìm tự do. Trong thời gian công tác, ông Thuấn đã chứng kiến những sự kiện liên quan đến cái chết của T. T. Thích Thiện Minh từ đầu đến cuối.  Bài viết sau đây dựa theo sát lời kể của ông Thuấn như một bằng chứng mới bổ sung vào tập hồ sơ tội ác đã dày cộm của cộng sản hơn 12 năm qua.

*********

Tên công an gằn giọng:
 - Tôi hỏi lần cuối cùng:  ông có chịu ký vào biên bản nhận mình có âm mưu đứng ra tổ chức chống phá cách mạng không? Thượng Tọa Thiện Minh lắc đầu: Không. Tên công an đập bàn quát:
 - ĐM mày ngoan cố hả? Thượng Tọa Thiện Minh vẫn điềm đạm:
 - Tôi không ngoan cố. Tôi chỉ đòi hỏi ông nêu ra những bằng cớ chính xác chứng minh là tôi đứng ra âm mưu tổ chức chống phá cách mạng. Thế thôi.

Tên công an gừ gừ mấy tiếng trong cổ họng nhưng cuối cùng hắn vẫn nín khe. Hắn guờm gườm nhìn vị Thượng Tọa ốm yếu đang ngồi xiêu vẹo trước mặt. Đôi lông mày sâu róm của hắn cau lại, đôi môi giật giật liên hồi, mắt hắn long lên như đổ lửa. Rồi hắn đứng dậy, rít lên trong kẻ răng:
 - Được, mày muốn, ông sẽ chứng minh cho mày thấy.
 Hắn quay ra ngoài, gọi lớn:
 - Đính đâu?
 Một tên công an mặt mũi non choẹt nhưng hung ác te tái chạy vào:
 - Thưa thiếu tá, có em.
 Tên thiếu tá công an nhìn Thượng Tọa Thiện Minh, hất hàm:
 - Đánh.

Không cần lời ra lệnh thứ hai, Đính hiểu ngay. Hắn bước từng bước chậm chạp lại gần thầy Thiện Minh. Thầy cố trấn tỉnh chờ đợi. Thầy nghe tiếng chân hắn khua trên nền gạch. Thầy nhìn bàn tay hắn co lại. Và Thầy thấy hình như cánh tay hắn vung lên. Thầy bật người ra sau, ngã sóng soài dưới đất. Mắt hoa lên thấy cả một trời sao lấp lánh. Hai vệt máu từ từ lăn ra hai bên khoé miệng. Thầy ráng lồm cồm bò dậy. Đính lặng yên đứng ngó: hắn đang chờ lệnh tiếp. Tên thiếu tá công an hất hàm:
 - Tiếp.

Đính lại nhào tới. Thầy Thiện Minh chưa kịp đứng vững đã bị ngay một cú đấm trời giáng vào ngực. Thầy oằn người lại, gục xuống. Nhưng không té hẳn. Bàn chân của Đính đã tung lên đá thẳng vào mặt khiến cả thân hình Thầy như sắp ngã về phía trước lại bật ngược ra sau.  Đầu nện chát xuống nền nhà. Đính lại cúi xuống, nắm cổ áo vực dậy. Hắn đấm đá tới tấp vào người Thầy. Mặt mũi Thầy Thiện Minh loang đầy máu. Có mấy chiếc răng bị văng ra ngoài. Người mềm xèo như một cái bị rỗng mặc tình cho Đính hành hạ.

Tên thiếu tá công an đang đứng nhìn bỗng dưng lên tiếng:
 - Khoan, Đính. Dừng tay chờ tí. Rồi hắn bước lại, đưa bàn tay thô nhám cầm cằm Thầy Thiện Minh hất lên. Hắn hỏi, giọng mỉa:
 - Sao, bằng cớ như vậy đã đủ chưa? Chịu ký không?
 Thầy Thiện Minh ráng mở mắt nhưng cứ hấp háy hoài không mở nỗi. Một quả đấm trúng vào đuôi mắt trái khiến mắt Thầy sưng vù lên, húp lại. Thầy thều thào:
 - Không.

Hình như Thầy muốn nói nữa, nhưng Thầy nói không ra hơi. Tên thiếu tá công an chỉ nghe cái âm ú ớ như người sắp tắt thở. Hắn giận dữ đẩy chúi Thầy Thiện Minh về phía trước. Đầu Thầy đập vào cái góc bàn kêu chát một tiếng rồi Thầy quỵ xuống. Tên thiếu tá công an nhìn Đính ra lệnh tiếp:
- Cứ đánh đến khi nào hắn hết ngoan cố thì thôi. Nhớ đừng đánh lên mặt nhiều quá.

Đính lại nhào tới: Hai cánh tay cứng cáp của hắn lại vung lên lia lịa. Bình bịch. Chan chát.  Lâu lâu Thầy Thiện Minh lại kêu "oái" lên một tiếng. Rồi lại ình ịch, chan chát. 
Khuôn mặt Thầy dầm dề máu me. Mặt mày Đính cũng ướt đẫm mồ hôi. Bình bịch. Chan chát. Những cánh tay vung. Những dòng máu hộc. Đính như điên cuồng. Hắn đánh bất kể. Có cảm tưởng như hắn đang tập võ trước một bao cát. Hắn đánh thẳng. Hắn đánh lật ngược. Hắn chém sống tay vào cổ. Hắn thúc cùi chõ lên ngực Thầy. Hai tay hắn ghì chặt lấy đầu Thầy Thiện Minh kéo xuống rồi đưa đầu gối hất ngược lên.  Ình ịch. Chan chát. Hắn đá. Hắn đạp. Hắn quật giò lái. Bình bịch. Chan chát. Thân hình Thầy Thiện Minh như mềm lả ra. Thầy không đứng nỗi cho Đính đánh nữa. Đính phải cầm cổ áo dựng dậy, còn tay kia cứ tiếp tục quai ra vung từng cú đấm trời giáng vào người Thầy Thiện Minh. Bình bịch. Chan chát.

- Thôi.
Tên thiếu tá ra lệnh. Đính ngừng tay. Thân thể Thầy Thiện Minh rũ xuống, ngã huỵch xuống đất. Ông nằm ngay đơ không nhúc nhích. Tên thiếu tá hất hàm bảo Đính:
 - Lại rờ mũi hắn xem sao?

 Đính bước lại, đưa tay rờ rờ trên mũi Thầy Thiện Minh, rồi đáp:
 - Chết cha, sao chẳng nghe thở gì hết trơn vậy thiếu tá?
 Tên thiếu tá hỏi giọng bồn chồn:
- Thiệt hả? Mày coi lại kỹ đi.

 Đính lại cúi xuống. Lát sau, hắn ngước lên, trả lời:
 - Chả chết thiệt rồi thiếu tá ạ.
 Tên thiếu tá đáp lạnh:
 - Lấy nước dội vào người hắn xem thử coi. Có khi hắn bất tỉnh không chừng.

Đính chạy ra ngoài khoảng 5 phút sau mang vào một lon nước. Hắn dội vào mặt Thầy Thiện Minh. Thầy vẫn nằm ngay đơ. Tên thiếu tá công an đăm đăm ngó. Đính lâu lâu lại đưa tay rờ lên mũi rồi lên ngực Thầy Thiện Minh. Cả hai không nói gì. Gian phòng chìm trong lặng ngắt.
Cuối cùng, tên thiếu tá công an ra lệnh:
 - Cho gọi y sĩ.

 Đính "dạ" một tiếng rồi phóng ra ngoài. Y sĩ đến. Nói là y sĩ nhưng hắn cũng là một tên công an. Hình như đã quá quen cái nghề nghiệp của mình, bước vào, hắn chỉ chào tên thiếu tá rồi cúi xuống người Thầy Thiện Minh đang nằm dài dưới nền nhà. Hắn lật mí mắt Thầy Thiện Minh lên coi. Hắn lấy ống nghe mạch ra chậm chạp đeo vào cổ rồi rà rà vào ngực.  Mắt hắn nhắm nghiền lại lim dim nghe ngóng. Lát sau, hắn ngước lên, uể oải nói:

- Thưa thiếu tá, hắn chết thật rồi.
Tên thiếu tá cắn môi nghĩ ngợi một lúc rồi đáp:
- Ừ, không sao. Cho khiêng xuống nhà xác.

Đính lại "dạ" rồi ra dấu cho tên y sĩ phụ gíúp khiêng xác Thầy Thiện Minh ra ngoài. Chợt, tên thiếu tá lên tiếng:
- À, mà thôi. Đừng khiêng xuống nhà xác. Cứ để ở phòng số 5 chờ xem.

Nói xong, tên thiếu tá vội vã bước lại bàn, cầm ống điện thoại lên quay số. Hắn căng thẳng chờ. Chuông reng. Có tiếng người bên kia đầu dây, tên thiếu tá nói, giọng khẩn trương:
- Thưa, báo cáo đồng chí, tên Thiện Minh đã chết rồi ạ.
- Tại sao hắn chết?
 - Hắn lì lợm không chịu cung khai, anh em tra tấn, không ngờ hắn yếu quá nên chết luôn.
 - Lâu chưa?
 - Thưa, mới đây. Chừng 10 phút.
 - Thôi được. Không sao. Hiện giờ xác hắn để đâu?
 - Dạ, tại trại X4 ạ.
 - Có ai biết nhiều không?
 - Thưa, chưa ai biết, ngoài vài anh em trong Ban Chấp pháp.
 - Tốt. Thế này nhé, đồng chí ráng giữ đừng cho ai biết nhiều, nhất là bọn phạm nhân khác.  Trại X4 là trại tạm giam nên có người chết trong đó cũng khó nói.  Tốt nhất, bây giờ, đồng chí cho xe công an chở xác thằng thầy tu đó qua bên Chí Hòa đi, rồi liệu sau.
 - Thưa, vâng ạ.
 - Nhớ khẩn trương lên nhé.
 - Thưa, vâng ạ.
 - Và nhớ giữ bí mật nhé. Đừng, tuyệt đối đừng công bố tin Thiện Minh chết ra ngoài. Đợi lệnh tôi.
 - Thưa, vâng ạ.

 Đợi Lê Thanh Vân gác máy bên đầu dây bên kia, tên thiếu tá lo việc thẩm vấn mới quay lại bảo Đính:
- Mày gọi thằng Thụ lấy xe chờ sẵn rồi khiêng xác thằng thầy tu này xuống chở qua bên Chí Hòa.

Đính chạy đi.  Hắn chạy cũng nhanh như những cú đấm hắn đã giáng phũ phàng lên người Thầy Thiện Minh lúc nãy.

Chưa đầy 15 phút sau, chiếc xe công an chở xác Thầy Thiện Minh đã lăn bánh.  Cho hú còi inh ỏi, chiếc xe phóng đi với tốc độ của những vụ săn bắt cướp.  Trại X4 nằm ở số 258 đường Nguyễn Trãi quận 1 nên tên thiếu tá công an hút vừa hết điếu thuốc lá Capstan, thì chiếc xe đã tới cổng trại Chí Hòa.  Cánh cổng sắt chậm chạp mở ra.  Chiếc xe lướt vào sâu trong sân.  Một tên công an già, khoảng trên 50 tuổi từ văn phòng đi ra, chào tên thiếu tá:

 - Chào đồng chí ạ.
Tên thiếu tá lễ phép:
- Vâng, xin chào đồng chí trung tá. Chúng tôi cho mang xác của Thiện Minh đến.
Tên trung tá nói khẽ:
- Đồng chí Lê Thanh Vân mới điện thoại bảo thôi không để xác hắn ở đây nữa, mà chở thẳng ra Hàm Tân.
- Hàm Tân à? Tại sao vậy?
- Tại vì ở đây, ngay trung tâm thành phố rất bất tiện. Thứ nhất lỡ mà các tổ chức quốc tế đang có mặt tại Saigon giở chứng hoạnh họe đòi coi mặt mũi hắn thì khổ cho mình. Thứ hai, từ mấy tháng nay bọn Phật tử ở thành phố đã xôn xao về vụ bắt hắn. Nhiều nhóm biểu tình đây đó đã nổi lên. Nếu biết hắn chết, bọn mê tín dị đoan đó kéo nhau tới đòi xác thì rất bất lợi và nguy hiểm cho ta.

Tên thiếu tá gật gù:
- Đúng, nhưng …
- Nhưng sao?
- Nhưng, chở ra Hàm Tân rồi sao?
- Chả sao cả. Ra đó đồng chí Giám đốc Sở công an thành phố sẽ cử phái đoàn ra lập biên bản khám nghiệm giả. Rồi báo cho thân nhân biết, khi thân nhân đến thì lấy lý do đã quá ngày, mình cho chôn cất rồi. Hàm Tân xa xôi quá cho nên không gây sôi động trong dư luận quần chúng đâu.

Tên thiếu tá lại gật gù:
- Hay đó. Anh Vân có dặn cụ thể là ai sẽ mang xác tên thầy tu này ra Hàm Tân không, thưa đồng chí?
- Ảnh nói, tốt hơn hết là chính đồng chí hướng dẫn vụ chở xác này cho đảm bảo. Ảnh đã điện thoại báo cho trại Hàm Tân biết rồi.
- Tôi phải đi ngay?
- Vâng, nếu được.
- Thôi, chào đồng chí.
- Ừ, đồng chí đi vui vẻ nhé.

Tên thiếu tá lại lên xe bảo tài xế chạy thẳng ra Hàng Xanh. Chiếc xe dừng lại dưới chân cầu Văn Thánh để đổ thêm xăng rồi bon bon chạy theo xa lộ Biên Hòa về hướng Hàm Tân, một huyện nhỏ thuộc tỉnh Thuận Hải,  nơi mà từ sau 75 đã đầy nhóc các trại tù. Trước sân chùa Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp, Hòa thượng Thích Trí Thủ cầm tờ giấy báo tử mà cứ ngơ ngẩn như mất hồn.  Ông đọc đi đọc lại tờ giấy mỏng dính, vàng khè ấy không biết bao nhiêu lần.  Vẫn có chừng ấy chữ.  Nội dung thật vô cùng đơn giản: Ông Đỗ Xuân Hàng, tên đạo là Thích Thiện Minh, sinh năm 1921 tại Quảng Trị, chết tại trại giam Hàm Tân thuộc huyện Hàm Tân tỉnh Thuận Hải vào ngày 18.10.1978. Lý do: bệnh.

Ông đọc lại lần nữa. Rồi lại lần nữa. Vẫn bao nhiêu chữ. Giản dị biết mấy mà cũng thưong tâm biết mấy.  Lòng vị thiền sư già bỗng dưng nhói lên, nghẹn ngào. Nước mắt ông rưng rưng chảy ra long lanh trên đôi khoé mắt nhăn nheo. Đã xong, một kiếp người. Ông thở dài, bâng khuâng nhớ lại hình ảnh của vị Thượng Tọa Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, trí  tuệ minh mẫn, ăn nói hùng hồn và quyến rủ lạ thường, đạo đức ngời lên như một tấm gương sáng trong Giáo Hội.  Rồi cũng qua đi, qua đi hết. Ông tưởng tượng thân xác thầy Thiện Minh giờ này có lẽ đã lạnh, lạnh lắm ở một nơi nào đó có cái tên dễ khiến người ta hãi hùng là Hàm Tân kia. Hòa thượng Thích Trí Thủ ngồi bất động thật lâu. Hai mắt ông nhắm nghiền lại mà nước mắt cứ ứa ra hoài.

 Ngày hôm sau, Hòa thượng Thích Trí Thủ đích thân dẫn mấy vị thị giả ra Hàm Tân viếng Thầy Thiện Minh lần cuối. Đường khúc khuỷu mù bụi. Cái nắng của một miền biển gay gắt chói chang không tưởng. Hòa Thượng lịm người trong cơn choáng váng mỏi mệt và trong nhịp lắc bềnh bồng của chiếc xe qua những khúc đường đất mấp mô gập ghềnh.

Tên trung tá trưởng phòng công an quận Hàm Tân ra tận cổng đón Hòa Thượng với vẻ xăng xái, lễ độ đến bất ngờ:
- Xin kính chào Hòa Thượng. Chắc Hòa Thượng đi xe xa như thế mệt lắm?
- Xin cám ơn ông. Không sao ạ.
- Xin mời Hòa Thượng và các vị vào uống đỡ miếng trà.
Hòa Thượng Trí Thủ từ chối:
- Cám ơn ông.  Xin khất dịp khác. Xin ông cho phép chúng tôi được viếng Thượng Tọa Thiện Minh ngay được không ạ?
- Tên trung tá công an cười cười ra bộ dễ dãi:
- Thưa, được chứ ạ. Chúng tôi cũng biết là các vị nóng lòng lắm. Xin mời vào trong này ạ.

Xác Thượng Tọa Thiện Minh đặt trong một căn phòng nhỏ. Ông nằm bẹp dí trên giường, người mỏng như một xác lá, một chiếc khăn trắng phủ choàng lên bên trên. Khuôn mặt ông xanh thật xanh nổi lên vài vết bầm tím nho nhỏ. Một vết đứt ngắn nằm ngay trên cánh môi dưới của ông nhưng đã được rửa sạch máu nên rất khó thấy.

Mọi người đứng lặng. Lòng ai cũng cồn lên nhức nhối. Thượng Tọa Thiện Minh mới bị bắt ngày 13-4-78, tức là mới hơn 6 tháng, thế mà ông thay đổi nhiều quá. Người gầy quắt lại.  Miệng ông há hốc ra và nhô cao.

Hòa Thượng Trí Thủ nghiêng mình hỏi tên trung tá công an đang đứng bên cạnh:
- Ông cho phép tôi được vuốt mắt người quá cố?
Tên trung tá lắc đầu:
- Thưa không được ạ. Mong Hòa Thượng thông cảm. Vị Thượng Tọa đây từ trần đã hơn hai ngày, đến gần, sợ không được bảo đảm cho sức khỏe của các vị đâu ạ.

Năn nỉ mấy, tên trung tá công an cũng khăng khăng nhất định không cho ai được đến gần tử thi. Mọi người không biết cách nào khác hơn là đứng lâm râm tụng niệm. Một lát sau, tên trung tá mời tất cả ra ngoài, vào phòng khách của phòng công an được trang trí khá sặc sỡ.

Đợi mọi người ngồi hết xuống ghế, tên trung tá mới lên tiếng:
- Thưa các vị, trước hết, tôi thành thật xin chia buồn với các vị về cái chết của ông Đỗ Xuân Hàng. Vì có những hành động khả nghi thiếu chân thành và thiếu thân thiện với cách mạng, nên ông Đỗ Xuân Hàng được tạm giữ để điều tra trong mấy tháng nay. Chẳng may vì già yếu, ông lâm bệnh bất ngờ. Chúng tôi đã tận tình cho chạy chữa nhưng cuối cùng không thể cứu chữa được. Thật đáng tiếc. Đây là điều hoàn toàn ngoài ý muốn của chúng tôi.

Tên trung tá công an cúi xuống lật lật xấp hồ sơ dày cộm trước mặt. Hắn rút ra một xấp giấy rồi nói:
-  Đây là hồ sơ bệnh lý của ông Đỗ Xuân Hàng. Ông ngả bệnh vào ngày 29-9-1978. Y sĩ trong trại tận tâm khám và chữa cho ông nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Từ ngày 5-10-78, trại và phòng công an chúng tôi cho mời các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm từ bệnh viện Thuận Hải về để chữa trị. Mặc dù các bác sĩ và chúng tôi hết sức cố gắng, song cuối cùng, đến ngày 18-10-78 vừa rồi, ông Đỗ Xuân Hàng đã từ trần.

Tên trung tá công an thở dài thườn thượt. Hắn im lặng một lát làm ra bộ ngậm ngùi rồi trầm ngâm nói tiếp:
- Sau khi ông Đỗ Xuân Hàng mất, chúng tôi có mời một phái đoàn y khoa khám nghiệm tử thi để biết chính xác căn bệnh hiểm nghèo mà ông Hàng bị. Các bác sĩ đã đi đến kết luận là ông Hàng bị đau thận cấp tính.

Tên trung tá công an rướn người ra phía trước đưa cho Hoà thượng Thích Trí Thủ xấp hồ sơ bệnh lý, biên bản khám nghiệm tử thi và mấy tấm phim chụp sọ não của Thượng Tọa Thiện Minh. Hoà thượng Trí Thủ thờ ơ cầm xấp hồ sơ trên tay. Ông liếc xuống đoạn cuối tờ biên bản khám nghiệm tử thi thấy ngoằn ngoèo mấy chữ ký:

Ông Đỗ Văn Thuận, bác sĩ bệnh viện Thuận Hải.
Ông Nguyễn Văn Hùng, trung tá tiến sĩ pháp y thuộc Viện khoa học hình sự Bộ Nội Vụ.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, thượng úy.
Ông Ngô Quang Dẫn, trung sĩ.

Tự nhiên mắt Hoà Thượng chợt cay sè. Nước mắt chảy ra, rơi nhòe trang giấy vàng khốc trên tay. Ông rưng rưng:
- Thưa ông, chúng tôi có thể xin phép được mang thi hài ông Hàng về nhà mai táng được chăng?
Tên trung tá công an lắc đầu:
- Rất tiếc, theo quy chế về vấn đề giam giữ, tử thi tù nhân sẽ được chôn cất tại chỗ.
- Vậy thì, thưa ông, việc mai táng ông Hàng sẽ được tổ chức vào lúc nào và ở đâu?
- Có lẽ ngay chiều nay.
- Chúng tôi rất mong được tham dự buổi mai táng chiều nay, chắc ông chấp thuận.

Tên trung tá công an cắn môi ngần ngừ một chút rồi đáp, giọng cứng rắn:
- Thưa, mong ông thông cảm. Không phải chúng tôi khắt khe nhưng có điều là nội quy không cho phép ạ.

Hoà thượng Trí Thủ mềm giọng năn nỉ:
- Chúng tôi thiết tưởng điều đó không có gì trái với nội quy. Chúng tôi chỉ xin đứng làm người tham dự cuộc mai táng để tiễn đưa người quá cố lần cuối. Chúng tôi không rõ khi còn sống Thượng Tọa Thiện Minh có phạm lỗi gì với nhà nước chăng, nhưng, ngay cả khi ông có lỗi thì bây giờ Thượng Tọa cũng đã qua đời rồi, xin ông nghĩ lại giùm cho.

Tên trung tá công an vẫn khăng khăng:
- Chúng tôi hiểu và chúng tôi rất thông cảm. Nhưng cũng xin ông nhớ cho là, dù đã chết thì ông Đỗ Xuân Hàng vẫn là một tù nhân. Chưa có lệnh nào xóa án cho ông ấy cả.
Hòa thượng Trí Thủ hơi giận:
- Thưa ông, cũng chưa có tòa án nào kết tội ông Đỗ Xuân Hàng cả.
Tên trung tá công an bướng:
- Nhưng ông ấy vẫn bị liệt vào hạng bị tình nghi về chính trị.
Hòa thượng Trí Thủ gắt:
- Vậy, thưa ông, tình nghi và tù nhân giống nhau à?
Tên trung tá công an đứng dậy:
- Vâng, thưa ông, giống nhau.

Hắn xếp lại chồng hồ sơ trên bàn rồi châm một điếu thuốc Samit nói:
- Thưa các vị, tất cả những gì cần trình bày, tôi đã trình bày xong. Bây giờ, xin lỗi là tôi phải đi họp. Xin chào các vị.

Nói xong hắn te tái đi ra. Hòa thượng Trí Thủ vẫn ngồi chết cứng trên ghế. Bên tai ông vẫn còn văng vẳng giọng nói đanh ác của tên trung tá công an hồi nãy: "dù đã chết thì ông Hàng vẫn là một tù nhân".

Khai Dân TríNguyễn Vân

2014/10/15

Một kiểu bần cùng hóa nhân dân

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn ngày 15.10.2014

Một kiểu bần cùng hóa nhân dân

Chuyện ruộng đất bị kiện tụng tơi bời hoa lá ở VN đã là chuyện “thường tình.” Cả làng cả xã kéo nhau đi kiện từ huyện đến tỉnh cũng là chuyện không hiếm.
Những người bán ve chai ở Hà Nội đầu năm nay.
Còn giải quyết ra sao là tùy nơi tùy chỗ, có khi “kiện củ khoai” dai dẳng chưa có hồi kết.

Gần đây nhất, sự việc người dân xã Tân Phước thuộc tỉnh Bình Phước đang bị thu hồi đất là một minh chứng rõ ràng nhất cho sự thu hồi đất theo kiểu bần cùng hóa người dân.

Người dân thuộc 5 xã nằm trong vùng quy hoạch dự án khu Đô thị - Công nghiệp - Dịch vụ Đồng Phú có diện tích 14,531 héc ta được tỉnh Bình Phước lập dự thảo xây dựng. Hơn một tháng qua, khi tỉnh Bình Phước đưa ra lấy ý kiến của nhân dân về dự thảo, hàng ngàn gia đình dân đang hoang mang lo lắng trước nguy cơ trắng tay vì mất đất. Mời bạn đọc nhìn lại toàn bộ sự việc này để thấy được nỗi đau của người nông dân trước âm mưu bị tước đoạt mồ hôi nước mắt một cách trắng trợn.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp của một số người dân xã Tân Phước thuộc tỉnh Bình Phước nay bị đòi lại.

Đổ mồ hôi xối nước mắt khai phá đất rồi bị quy thành kẻ có tội

 "Là người có công khai phá đất hoang nhưng chúng tôi bị quy thành những kẻ lấn chiếm đất rồi áp mức giá “hỗ trợ” rẻ mạt.

Đó là ý kiến chung của người dân thuộc 5 xã nằm trong vùng quy hoạch dự án khu Đô thị - Công nghiệp - Dịch vụ Đồng Phú.

Ông Hứa Văn Thi (ấp Nam Đô, xã Tân Phước) cho biết, đất trong khu vực bị thu hồi là đất đỏ ba-zan rất màu mỡ, với mức giá thị trường hiện nay mỗi héc ta có giá từ 600 đến 700 triệu đồng ($33,000).
Người nông dân không muốn trở thành kẻ thất nghiệp ngồi đầu đường như thế này.
Tuy nhiên, người có tiền chưa hẳn đã mua được đất bởi lẽ từ nhiều năm qua bà con đã bỏ vốn đầu tư trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như cao su, điều, cà phê, tiêu đang cho thu hoạch. “Sau khi trừ các chi phí, mỗi năm chúng tôi có thể thu lợi trung bình 200 triệu đồng ($9,400) từ thành quả lao động của mình trên 1 héc ta cây công nghiệp.” Hiệu quả từ đất sản xuất còn mang lại nhiều nguồn lợi lớn cho các gia đình có hướng đầu tư kinh doanh hiện đại.

Ông Dụng Quý Đông (ấp Pa Pếch, xã Tân Hưng) cho biết, “Gia đình tôi đã vay mượn hơn 10 tỷ đồng để xây dựng trang trại cây ăn quả, diện tích 16 héc ta với các giống cây: sầu riêng, quyết đường, bơ sáp Mỹ,à theo mô hình trạng trại của Thái Lan. Hiện các loại cây trên đã bắt đầu cho thu hoạch với nguồn lợi hàng tỷ đồng một vụ. Riêng tiền thuế mỗi năm trang trại của gia đình đóng vào ngân sách tỉnh Bình Phước khoảng 300 triệu đồng ($14,000).

Tuy nhiên, để định hình được một mô hình kinh tế ổn định, hầu hết người dân đã phải trải nghiệm với nhiều lần thay đổi các giống cây trồng. Vì thế, khi lợi nhuận từ mô hình sản xuất cho hiệu quả kinh tế cao chưa đủ để chi trả những khoản vay phục vụ đầu tư phát triển thì các hộ dân không khỏi bàng hoàng vì đứng trước nguy cơ mất đất.
Nếu thu hồi đất nhiều điểm trường, ấp sẽ bị xóa sổ.
“Nếu đất bị thu hồi đồng nghĩa với việc người dân chúng tôi phải làm lại từ đầu. Song, để cây công nghiệp cho thu hoạch không phải ngày mốt ngày hai, diện tích đất và khoản tiền hỗ trợ không đủ để tái sản xuất.”

Lý luận của kẻ mạnh: Hỗ trợ 10% đến 35% là đã cao

Chiều 25/9 vừa qua, UBND tỉnh Bình Phước tổ chức cuộc họp về tình hình kinh tế xã hội trong 9 tháng của năm 2014, ông Nguyễn Thành Chương, Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú cho rằng: “Đất bị lấn chiếm hay giao khoán cho dân cũng là đất nhà nước nên chỉ hỗ trợ một phần đất và cây trồng trên đất. Mức hỗ trợ từ 10% đến 35% đang là dự kiến, nhưng nếu quy ra tiền so với giá đất hiện tại thì người dân cũng được khoảng 60 triệu đồng mỗi héc ta là đã cao. Còn việc cấp sổ đỏ cho dân là đúng, nhưng phần nhiều do… cấp sai nên chúng tôi tính toán lại(?!).”

Sau phát ngôn của ông Nguyễn Thành Chương, người dân trong khu vực đất có nguy cơ bị giải tỏa cho rằng, dù là dự thảo nhưng UBND tỉnh Bình Phước đưa ra mức hỗ trợ dân theo kiểu bần cùng hóa. Là người có công khai phá đất hoang nhưng chúng tôi bị quy thành những kẻ lấn chiếm đất công rồi áp mức giá “hỗ trợ” rẻ mạt.

Giá của 1 hecta ruộng là 600 triệu đồng đến 700 triệu đồng mà chỉ đền bù khoảng 60 triệu ($2,800) là chưa bằng 1/10. Đấy chưa nói đế công lao đổ mồ hôi sôi nước mắt khai hoang, trồng các loại cây, chăm bón sớm khuya đến ngày cho trái. Công lao cả đời người đến nay bị mất trắng, còn gì đau lòng hơn.

Đã có 8 khu công nghiệp hoạt động không hiệu quả rồi, lập thêm làm gì?

Chưa biết lập ra các khu công nghiệp hay đô thị mới có mang lại lợi ích gì cho đất nước hay chính các quan chức là người hưởng lợi trước tiên về nhiều mặt. Có hàng trăm thứ cho các quan tha hồ “cấp phép, xin cho” đụng vào đâu cũng ra tiền. Chính vì lẽ đó nên các quan mới hăng hái “xông pha” thực hiện “quy hoạch,” thu đất của dân bằng mọi cách, bất kể sự đau khổ của họ.

Sau nhiều lần đối thoại trực tiếp với lãnh đạo UBND huyện Đồng Phú và UBND tỉnh Bình Phước nhưng không không mang lại kết quả, người dân tại 5 xã có đất trong diện tích “dự kiến bị thu hồi” đã cử đại diện của mình gửi bản đề nghị lên UBND tỉnh. Bà con cho rằng, hiện trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã quy hoạch phát triển 8 khu công nghiệp nhưng hoạt động không hiệu quả, phần lớn diện tích đất đang bị bỏ hoang cho cỏ mọc gây lãng phí lớn. Do đó “Việc thu hồi đất thực hiện dự án khu Đô thị - Dịch vụ - Công nghiệp nhân dân không đồng ý.”

Lý sự cùn

Ông chủ tịch nói lòng vòng, dài dòng nhưng tóm lại ông chỉ muốn cho dân biết “đất nào cũng là đất của nhà nước, chúng tôi đền bù cho các anh đã là may rồi, đừng có đòi hỏi gì nữa.” Còn chuyện ông giải thích về cái sổ đỏ mới là kỳ cục. Ông nói “cấp sổ đỏ phần nhiều do cấp sai nên chúng tôi tính toán lại.” Ai cấp sai? Vậy thì tất cả những người dân có sổ đỏ đều giật mình thon thót, chỉ sợ lúc nào đó, ông chính quyền muốn lấy lại chỉ cần nói cấp sai là lấy lại, nhà cửa ruộng đất sẽ không cánh mà bay về với ông nhà nước. Câu trả lời vừa gượng gạo theo kiểu “lý sự cùn,” nghe chối tai như thế mà ngài chủ tịch cũng nói được trước nhân dân.

Khẳng định, diện tích đất canh tác hiện tại là do chính bàn tay mình đã khai hoang từ những thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước, người dân đề nghị tỉnh Bình Phước nhanh chóng cấp quyền sử dụng đất cho dân. Hãy nhìn đến sự khổ cực của họ khi đến khai phá đất hoang như thế nào.
 

Ít nhất đã có 5% người chết vì khai hoang giữa rừng thiêng nước độc.
 

Người dân cho rằng, tỉnh Bình Phước lập dự án “khủng” tiến hành quy hoạch, “rục rịch” phương án thu hồi đất nhưng chính sách bồi thường cho dân không thỏa đáng.

Ông Phan Đề (xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú) một trong những người dân nằm trong vùng giải tỏa của khu quy hoạch dự án khu Đô thị - Dịch vụ - Công nghiệp Đồng Phú trong cuộc đối thoại với ông Nguyễn Huy Phong, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước (ngày 23/9) đã bày tỏ:

Sau cuộc chiến tranh dài, những người dân lại đi theo tiếng gọi tham gia đẩy lùi giặc đói, giặc dốt trong đó có gia đình tôi. Những năm sau năm 1975, khu vực tại huyện Đồng Phú còn như một cánh rừng, nhà nước kêu gọi người dân khai hoang, vỡ đất để phát triển kinh tế. Mỗi người được phát một con dao, một cái cuốc hoặc cái búa, làm việc quần quật cả ngày đào gốc cây, bứng gốc nứa nhưng cũng chỉ khai vỡ được vài mét vuông đất.

Giữa chốn rừng thiêng nước độc, chúng tôi phải chịu cảnh đói khát và những cơn sốt rét hành hạ. Nhưng chưa dừng lại ở đó, bom mìn còn sót lại trong cuộc chiến khốc liệt quanh Chiến khu D (thuộc huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai, giáp ranh huyện Đồng Phú, Bình Phước) khiến ít nhất 5% trong số những người đi khẩn hoang như chúng tôi phải nằm xuống giữa thời bình. Mồ hôi xương máu của họ đã đổ xuống, để hôm nay cây trái mới được xanh tươi và con cháu mới bắt đầu được hưởng thành quả lao động thì ông nhà nước đòi lại.

Từ đó đến trước khi dự án khu Đô thị - Dịch vụ - Công nghiệp ra đời, chưa ai là người nói chúng tôi chiếm đất lâm trường. Và trên thực tế, người dân chúng tôi cũng không biết ranh giới của đất lâm trường là ở đâu. Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, công sức của mình bỏ ra thì lẽ đương nhiên mình có quyền được hưởng thành quả. Đất bà con chúng tôi đang canh tác là nhờ mồ hôi xương máu mà có, chúng tôi không xâm canh, không lấn chiếm của ai hết, đừng có vu oan giá họa trắng trợn như thế.

Lập ấp, đo đất cấp sổ rồi... thu hồi?

Dẫn chứng cho thực tế được pháp luật thừa nhận đã diễn ra, ông Dụng Quý Đông, xã Tân Hưng cho biết, nếu đất của chúng tôi là đất xâm chiếm bất hợp pháp vậy tại sao lại có số nhà, có trường học, nhà văn hóa ấp... thành lập ngay trên mảnh đất này? Tại sao chính quyền vẫn thu thuế của dân đều đặn? Hàng trăm giấy khen của tỉnh Bình Phước về gương nông dân sản xuất giỏi không lẽ đã cấp cho những người vi phạm pháp luật của Nhà nước? Từ người có công khai phá, chúng tôi đang mang tiếng oan là kẻ đi lấn chiếm đất của lâm trường.

Bên cạnh các vấn đề trên, ông Hồ Quốc Hưng (ấp Pa Pếch) cho biết, tháng 10/2011 người dân chúng tôi vui mừng không xiết khi chính quyền địa phương tiến hành đo đạc cắm mốc ranh giới và lập “Danh sách công khai trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Tân Hưng” cho 924 phần đất.

Tuy nhiên, sau đó chỉ một số rất ít gia đình trong xã được nhận sổ. Cần có sổ để thế chấp vay vốn ngân hàng đầu tư phát triển sản xuất, chúng tôi liên hệ với Sở Tài nguyên Môi trường, trên danh sách vẫn có tên được cấp sổ nhưng xin nhận sổ thì họ không cho và cũng không giải thích lý do.

Đến ngày 25/10/2013, người dân huyện Đồng Phú chúng tôi chết lặng khi UBND tỉnh ra quyết định số 1981 QĐ-UBND thu hồi toàn bộ đất đai của chúng tôi để quy hoạch dự án. Đến lúc này thì người có sổ cũng như chưa có sổ, chúng tôi trở thành những kẻ vô gia cư trên chính mảnh đất gia đình đã bỏ công khai phá. Chúng tôi chỉ còn cách thất nghiệp đứng đường.

Sự vô lý quá bất công và tàn nhẫn này phải nhanh chóng được giải quyết. Đừng để người dân phải điêu đứng vì những cái “dự thảo, dư kiến” mơ hồ này.
 

Không chỉ ở nông thôn người dân phải long đong vì cái quyền sử dụng đất, quyền có nhà ở (tức là cái sổ đỏ) mà ở ngay thành phố Hà Nội cũng có những cảnh phải nộp đủ thứ tiền mới có sổ đỏ.

Hà Nội: Đổi sổ hộ khẩu mới, dân bị xã phạt tứ tung

Người dân thôn Tảo Dương, xã Hồng Dương (Huyện Thanh Oai, Hà Nội) đang tỏ ra rất bất bình vì bị chính quyền xã “hoạnh họe” đủ mọi lỗi khi đổi sổ hộ khẩu cũ sang hộ khẩu mới, mỗi lỗi sai bị phạt 100,000 đồng (US$4.70).
Cứ 1 lỗi ghi thiếu ngày đều bị cán bộ xã Hồng Dương Huyện Thanh Oai, Hà Nộicoi là 1 lỗi và bị phạt 100.000 đồng.

UBND xã Hồng Dương có thông báo về việc yêu cầu nhân dân mang sổ hộ khẩu cũ (bìa màu xanh) đến trụ sở xã để đổi lấy số hộ khẩu mới (bìa màu hồng), thủ tục giấy tờ đi đổi sổ, xã yêu cầu bà con phải mang theo 3 loại giấy tờ: sổ hộ khẩu cũ, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân.

Trong thời gian cán bộ xã đối chiếu 3 loại giấy tờ trên mà các thông tin không khớp nhau hoặc không khớp với sổ hộ khẩu cũ (gốc) của UBND xã lưu trước đây đều bị coi là “lỗi” của dân và cứ 1 lỗi, cán bộ xã lại “phạt” 100,000 đồng. Vậy là, nhà nào nhiều người càng dễ sai nhiều, càng bị cán bộ xã “phạt” nhiều. Có gia đình phải mất tới gần 1 triệu đồng ($47) mới đổi được sổ hộ khẩu mới.

Điều khiến người dân nơi đây bực mình là họ không tự tay ghi thông tin vào những loại giấy tờ đó. Các giấy tờ đó đều do chính quyền địa phương làm và cấp, nếu thông tin sai là do cán bộ viết sai, tại sao giờ cán bộ lại quy lỗi sai cho dân và phạt dân?

Bà Hoàng Thị Yên (58 tuổi, ở thôn Tảo Dương) cho biết, “Tôi thấy xã thông báo là đi đổi sổ hộ khẩu mới vì giờ về Hà Nội rồi. Khi lên xã tôi có mang theo sổ cũ màu xanh, giấy khai sinh và chứng minh thư.
Bà Yến cho biết, chồng đã mất, giờ muốn xóa tên khỏi sổ hộ khẩu phải mất thêm 100.000 đồng.
Ba loại giấy tờ này của tôi đều chính xác hết, nhưng khi cán bộ so với sổ hộ khẩu cũ mà xã lưu thì lại không khớp. Sổ cũ xã lưu phần ghi ngày – tháng - năm sinh chủ nhà lại thiếu ngày, chỉ có tháng và năm thôi. Cán bộ bảo đấy là lỗi và bảo phải mất 100,000 đồng; cộng thêm 50,000 đồng tiền đổi sổ nữa là 150,000 đồng. Khi tôi thắc mắc, cán bộ bảo nếu không làm thì lên huyện, vì ở đây cũng chỉ làm hộ huyện. Vậy là tôi cũng đành chịu.”

Cũng bị cán bộ xã “phạt” lỗi như bà Yên, nhưng bà Phạm Thị Yến (64 tuổi) còn bị phạt thêm một “lỗi” nữa là chồng bà Yến đứng tên chủ hộ khẩu, nay đã qua đời. Muốn “xóa” tên khỏi sổ này phải mất thêm 100,000 đồng. Vậy là bà Yến phải mất 250,000 đồng.


Một hoàn cảnh khác là
Anh Trần Đức Thắng gia đình nghèo đặc biệt khó khăn vì người vợ mới mất cách đây 2 năm, xóa tên khỏi sổ hộ khẩu mới cũng phải mất thêm 100.000 đồng.
A
nh Trần Đức Thắng (38 tuổi) - một gia đình nghèo đặc biệt khó khăn của thôn Tảo Dương - vì người vợ mới mất cách đây 2 năm, xóa tên khỏi sổ hộ khẩu mới cũng phải mất thêm 100,000 đồng.

Chị Nguyễn Khánh Minh - người địa phương này - cho biết, “Tên bên ngoài sổ hộ khẩu cũ nhà em là Nguyễn Khanh Minh, nhưng trang trong lại ghi là Nguyễn Khánh Minh. Thế là cán bộ xã cho 1 lỗi và mất 100,000 đồng, cộng với 50,000 đồng tiền đổi sổ nữa, tổng cộng mất 150,000 đồng.”

Bị phạt thuộc dạng nhiều nhất có bà Nguyễn Thị Mai (49 tuổi) ở thôn Tảo Dương, do giấy tờ của gia đình bà mắc quá nhiều “lỗi” nên gia đình bà phải mất tới 800,000 đồng mới được đổi sổ.

Ông Nguyễn Đình Bàng - trưởng thôn Tảo Dương - khẳng định sự việc bà con đi đổi sổ hộ khẩu cũ sang sổ hộ khẩu mới phải mất những khoản phạt nói trên là có thật.
 

Cứ một lỗi sai nhân với “đơn giá” 100,000 đồng ($4.70), số tiền xã thu về không hề nhỏ, bởi thôn Tảo Dương có hơn 600 gia đình tương đương với hơn 2,800 người.

Trong khi đó, chủ tịch UBND xã Hồng Dương tỏ ra không hề hay biết chuyện này!

Sự việc này đang gây xôn xao ở thôn Tảo Dương, thậm chí có người dân đã phẫn nộ và to tiếng ngay tại trụ sở UBND xã Hồng Dương. Tuy nhiên khi trả lời phóng viên, ông Đỗ Quyết Thắng - Chủ tịch UBND xã Hồng Dương - lại tỏ ra chưa hề hay biết sự việc. Ông Thắng trả lời qua quýt, “Chắc không có chuyện đó đâu, chúng tôi sẽ rà soát, kiểm tra và trả lời sau.”

Bà con thôn Tảo Dương đang thắc mắc, trong cuốn Sổ hộ khẩu mới vẫn còn thơm mùi mực, những sai sót đó là do ai? Tại chính quyền hay tại dân? Sau này nếu có làm lại sổ, liệu họ có bị “phạt” nữa hay không?

Phí bôi trơn 8 triệu

Ông Nguyễn Sĩ Cương, Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật Quốc hội còn chỉ ra những biểu hiện tiêu cực, nhũng nhiễu trong việc cấp sổ đỏ thời gian qua ở Hà Nội. Tại các cuộc họp, người dân cho biết họ được gợi ý nộp 8 triệu đồng ($380) để làm “phí bôi trơn” khi cấp sổ đỏ. Nhiều người xót xa không nộp và vẫn tiếp tục chờ nhưng không biết chờ đến bao giờ. Còn người có phí bôi trơn sẽ được cấp sổ đỏ. Người dân bất bình lên Sở Tài nguyên để hỏi nhưng không nhận được bất kỳ thông tin gì"!

Trước phản ánh của đại biểu, người dân ở chung cư Hà Nội muốn có sổ đỏ phải nộp 8 triệu đồng phí “bôi trơn,” Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang thừa nhận có nhũng nhiễu trong việc này, nhưng vấn đề đã được cải thiện.

Người dân Hà nội nêu ý kiến

Cải thiện thế nào thì chưa rõ. Để kết luận bài này, tôi thấy không cần bình luận gì thêm, mời bạn đọc một số ý kiến của người dân Hà Nội:

- Bạn Trần Quang tranquang@yahoo.com.vn
Hà Nội là cái nôi ăn hối lộ trong việc cấp sổ đỏ đứng đầu cả nước. Nhất là Huyện Thanh Trì, người dân nộp hồ sơ hàng năm không được cấp, không được trả lời. Ai không tin cứ đến Huyện Thanh Trì.

-Bạn Hoàng cho biết “Chỗ mình đòi 40 triệu mới có sổ đỏ”!

- Bạn Huyên kể “Nhà tôi bị mất 2 quyển sổ đỏ, 1 quyển bôi trơn thì được giải quyết trong vòng 4 tháng, 1 quyển chưa có tiền bôi trơn thì vẫn đắp chiếu để đấy, từ ngày tiếp nhận hồ sơ đến nay đã 5 tháng rồi mà chưa được có công văn để đi đăng báo, gọi điện hỏi thì dưới bảo lên trên, lên trên bảo từ từ. Trong khi luật qui định là giải quyết trong vòng 20 ngày kể từ ngày đủ hồ sơ hợp lệ, nếu có vấn đề gì phải trả lời trong vòng 60 ngày. Không biết bao giờ mới được giải quyết đây.

- Bạn Việt thêm, “8 triệu phí bôi trơn là quá ít, nhà tôi từng được cán bộ phường cho “mức giá tình cảm” với mảnh đất 30 m vuông là 120 triệu đấy ạ, mà là cách đây 3 năm, đất ở Hà Nội nhé.”

- Bạn Dinh trả lời “Dạ thưa bác, 8 triệu là rẻ đó bác. Cháu phải đưa 15 triệu đó“

- Bạn Minh Do cho biết “Quá rẻ. Chỗ tôi mấy chục triệu cơ...”

Tất cả những chuyện đó đã nói lên sự phẫn nộ của người dân bị chèn ép, tước đoạt gia sản từ rừng núi xa xôi đến chuyện trắng trợn “móc túi dân” ngay tại giữa Thủ đô Hà Nội trước cuộc sống đầy khó khăn hiện nay./-
 
Văn Quang

Khai Dân TríVăn Quang

NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH ĐẶC BIỆT

NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH ĐẶC BIỆT

HỒ TẤN VINH

Trong quốc nạn, mọi người dân đều khổ. Nhưng không phải ai cũng đau khổ bằng nhau hay giống nhau. Người dân Miền Bắc khổ vì CS nhiều hơn người dân Miền Nam. Trải qua việc ‘Giết Người Cướp Của’ mạo danh là ‘Cải Cách Ruộng Đất’, cái lương thiện, cái bao dung, cai thanh nhả, cái tình người đã mất đi để thay vào đó là cái lưu manh, cái dối trá, cái giành giựt chà đạp lên nhau để mà sống như dã thú.

Cũng không phải chỉ có dân chúng đau khổ thôi đâu, mà chính những đảng viên CS cũng có nổi khổ riêng có khi cũng không kém phần cường độ. Dân chúng là nạn nhân chỉ bị sĩ nhục. Người đảng viên CS đi đàn áp dân chúng mới lại là người mất tánh người. Người đảng viên hồi tâm đau khổ rất nhiều. ‘Lảo Thành Cách Mạng’ hay không,  họ ray rứt suốt cuộc đời khi biết mình đã là dụng cụ gây ra bao tội ác đối với người dân và Tổ Quốc.

Quân Đội Nhân Dân cũng phải chịu đựng những éo le riêng. Chắc chắn Quân Đội Nhân Dân phải là người đang uất ức nhứt khi cảm thấy bị phản bội và bị sĩ nhục thẳng mặt.

Đi vào chi tiết, đâu có làm sao kể hết cho vừa. Chỉ biết rằng trong quốc nạn,  mỗi người mỗi kiểu, ai cũng bị đạn hết mà. Và mỗi người mỗi kiểu, họ có những phản ứng khác nhau.

Nhạc sĩ Việt Khang  nhẹ nhàng hỏi người công an CS có phải là người không sao lại đi đánh người? Có phải là người Việt không sao lại đi đánh người Việt? ‘Anh là ai, sao lại đánh tôi không chút nương tay?’ (ANH LÀ AI?)

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Cầu khều nhẹ  thức dậy‘Điện Biên dưới đất, Điện Biên trên trời, Điện Biên trên biển, nghe quá vô duyên!’ (KINH GIÀN KHOAN)

Nhạc sĩ Đông Hải cầu mong hồn thiêng sông núi dẫn dắt ‘vùng lên, sông núi ơi, đồng bào ơi’ (VÙNG LÊN)

Bà Ngoại TRANG LÊ có một kiểu phát biểu kỳ lạ nhứt. Làm sao một người đàn bà đẹp đẻ có thể tỉnh queo chửi như tát nước đái vào mặt công an đang lo bảo vệ một chế độ bán nước một cách thật là . . . vô cùng có duyên?

Xin cám ơn Bà Ngoại giúp mọi người những giây phút được xả hơi.

Xin mời bấm vào màn TỰ DO "CON CẸC" và màn TIẾN LÊN HONG KONG!.


HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 15 tháng 10 năm 2014

Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Khai Dân TríHồ Tấn Vinh

Solutions To The Israel - Palestine Conflict



Khai Dân TríNoam Chomsky