Thói hư tật xấu của người mình!
Trần Văn Giang
|
Lời giới thiệu:
Không hiểu cuốn sách “Người Trung Quốc xấu xí”
của Bá Dương (“Bo Yang”) được xuất bản cách đây gần hai chục năm có liên quan
gì đến sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc hôm nay hay không?
[Nên biết bên Mỹ có cuốn sách nổi tiếng tương
tự là "The ugly American"
của WILLIAM J. LEDERER AND EUGENE BURDICK xuất bản năm 1958 đã trở thành cuốn
sách bán chạy nhất thời đó].
Tuy nhiên, hình như có nhiều liên quan giữa
sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ
cho dân tộc (!)
Ở hoàn cảnh Việt Nam, đã gần một thế kỷ rồi,
thế hệ cha ông của chúng ta cũng đã có rất nhiều người dám vạch thẳng những
tính xấu, những hủ tục của người Việt mình để biết mà sửa đổi (!) Nhưng mà
không thấy có ai chịu nghe??? Để xét cái
kết quả (“không khá”) này, cứ việc nhìn vào hiện tình dân tộc Việt ở trong nước
lẫn ở hải ngọai; cứ nhìn vào chính bản thân mình, đồng bào và các tổ chức / hội
đoàn chung quanh mình chứ chẳng cần tìm đâu xa!
Đến lúc này, thế hệ chúng ta, giữa những thay đổi lớn lao đang và vừa mới
xẩy đến cho dân tộc chúng ta, giữa khát vọng phục hưng dân tộc… đây là một cơ
hội thật tốt để cùng nhau đọc lại những nhận định mà các vị tiền bối đã viết về
nhũng cái xấu xa của người mình và rồi tự đặt câu hỏi cho bản thân và cộng đồng
của mình phải làm gì để cho dân tộc mình khá hơn?
“Có lẽ ta đâu
mãi thế này …”
(Nguyễn Công Trứ - “Quân tử cố cùng”)
TVG
|
1- Chơi bời lãng phí
Trần Chánh
Chiếu
(“Lục tỉnh tân
văn,” năm 1907)
|
Theo tục ông
bà để lại, hễ mãn một năm thì ăn Tết một lần ấy cũng là phải. Sao tôi thấy hễ
tới ngày ấy, ai ai cũng đốt pháo, dựng nêu, treo bùa tứ tung ngũ hoành, đánh
đáo đánh quần tới bảy bữa, rồi nào me, nào lú (1), bài cào, xóc đĩa, tổ tôm đủ
thứ. Thậm chí có ông ăn Tết rồi thì bán nhà bán cửa, nợ réo trước nợ réo
sau. Đã “bần nhược” (2) lại “đãi đọa”
(3) vậy thì biết chừng nào mà giàu có như người ta đặng?
|
(1) Theo Huỳnh Tịnh Của, “Đánh me” là
"gây ăn thua trong cuộc chơi tiền,” còn “Lú” là "cuộc chơi con nít
dùng tiền mà đánh đố.”
(2) Nghèo đói.
(3) Biếng nhác.
2- Ở đâu cũng thấy học đòi làm dáng
(“Hiếu thượng,” Tri tân, năm 1943)
|
Cái hiếu
thượng (1) của số đông người mình đã lộ rõ ở từ ngôn ngữ đến cử chỉ, từ hành vi
trong gia đình đến động tác ngoài xã hội. Người ta chơi câu đối? Phần đông
không phải vì thích chữ tốt yêu văn hay nhưng vì muốn sĩ diện ở mấy cái lạc
khoản (2) có chức tước. Người ta in danh
thiếp? Không phải vì cốt thông tính danh
tỏ địa chỉ, song hình như chỉ cốt trưng những chức sắc tước trật và phẩm
hàm. Người ta đăng cáo phó? Có lẽ ít vì cốt để báo tang, nhưng phần nhiều
cốt để lợi dụng cái chết của ông bà cha mẹ mà quảng cáo cái danh phận của con
cháu.
Cái bệnh hiếu
thượng ấy truyền nhiễm đến cả nữ giới làm cho lắm người cũng mắc lây. Một dạo ở xã hội ta nổi lên cái phong trào
“phi cao đẳng bất thành phu phụ.” Vì thế
trong cuộc hôn nhân đã xảy ra lắm chuyện buồn cười. Hoặc mượn văn bằng của người khác để đưa nhà
gái sát hạch lúc cầu hôn, hoặc giả làm nhà tòng sự (3) suốt mấy tháng để nhà
gái nếu có dò la vẫn thấy sớm vác ô đi tối vác về...
|
(1) Thích hướng lên trên, tức hiếu danh, bon
chen...
(2) Tự đề tên họ chức tước ở một góc câu đối.
(3) Làm công chức.
3- Học vấn một đằng, công nghệ một nẻo
Phan Kế Bính
(“Việt Nam
phong tục,” năm 1915)
|
Tính người
mình không biết quý trọng công nghệ, người làm nghề tựa hồ như bất đắc dĩ không
học được làm quan chẳng lẽ ngồi khoanh tay chịu chết mới phải xoay ra làm nghề
thôi. Mà làm nghề thì không cần gì tinh
xảo chỉ cốt bán rẻ tiền được nhiều người mua là hơn. Công nghệ suy nhược lại còn là vì người có
học thức không chịu làm, người chịu làm thì lại là người không có học thức,
chẳng qua chỉ theo lối cũ nghìn năm xưa chớ không nghĩ được cách thức nào mới.
Ít năm nay, có trường bách công dạy dỗ, có lắm lời tân học cổ động thì cũng đã tỉnh ngộ ra ít nhiều và cũng đã có người sinh được nghề khéo, học được nghề mới tranh được lợi buôn bán. Song cái tính khinh đường công nghệ thì vẫn chưa bỏ được. Có người nhờ công nghệ mà nên giàu có song vẫn tự coi mình là đê tiện, phải mượn cái phẩm ông Hàn ông Bá mới là vẻ vang. |
4- Khéo tay mà trí không khôn
Phạm Quỳnh
(“Pháp du hành
trình nhật ký,” năm 1922)
|
Xét ra ở nước
Nam ta mới có các nghề mỹ nghệ là thịnh, phàm nghề khéo toàn là các nghề trang
sức cả, còn mỹ thuật thì chưa có gì sánh được với các nước, nhưng ngay trong mỹ
nghệ cũng chưa có kỷ luật, chưa có thể thống gì, chưa phân rõ các kiểu cách,
các thời đại, các lề lối, các phương pháp, thợ thuyền phần nhiều là những người
vô học, phi quen tay phóng lại lối cũ, thời bắt chước chép của người ngoài,
thành ra tay có khéo mà trí không khôn, không biết biến báo mà vẫn giữ được
tinh thần cốt cách cũ , tồn cổ mà khéo ứng dụng về đường sinh hoạt mời, nói tóm
lại là không có trí sáng khởi (1) khôn ngoan, gây ra trong mỗi nghề một cái thể
thức trang nghiêm mà đặc biệt. Cho nên
các nhà nghề ta không thể bằng cả ở cái tay khéo được, cũng phải tập cho có cái
trí khôn nữa.
Nay muốn gây
lấy cái trí khôn ngoan trong mỹ nghệ, khiến cho có tinh thần có thể thức, thời
không gì bằng lập ra một nhà bảo tàng mỹ nghệ, sưu tập lấy những đồ đẹp trong
nước, chia ra từng thời đại, bày cho có thống hệ (2), để cho những nhà nghề đến
đấy mà xem, mà học cho biết nghề mình duyên cách (3) thế nào, thể cách làm sao,
rồi hoặc trông đấy mà giữ lấy cái cốt cách tinh thần cũ, hoặc nhân đấy mà biển
đổi dần.
|
(1) Bắt đầu dựng lên, ngày nay hay viết là
“sáng tạo.”
(2) Quan hệ của những cái liên tiếp nhau.
Cũng nghĩa như hệ thống.
(3) Duyên (có khi đọc diên) ở đây là thủ cựu,
cách là đổi mới. “Duyên cách”: Tình hình trong một khu vực nào đó cái cũ thế
nào, cái mới ra sao.
5- Thiếu tinh thần cầu học