2012/11/18

Người Trí thức Hành động và Dẫn đường

NGƯỜI TRÍ THỨC HÀNH ĐỘNG VÀ DẪN ĐƯỜNG là đề sách in lại 56 câu Võ Văn Ái trả lời phỏng vấn của Lê Thị Huệ, Chủ biên Tạp chí Văn học Gió O, đăng trên Mạng gio-o.com dưới đề mục “Phỏng vấn nhà thơ, nhà tranh đấu Thi Vũ Võ Văn Ái” Toà soạn Gió O cho biết từ khi lên trang cuối tháng 11.2009 đến trung tuần tháng Giêng 2010 đã có gần 400 nghìn lượt người truy cập đọc bài phỏng vấn - Nhà xuất bản Quê Mẹ ấn hành toàn bộ nội dung năm kỳ trên Mạng gio-o.com tháng 2.2010, dày 332 trang, nhưng lần này, sách được tác giả bổ sung một số sự kiện và chú giải cùng nhiều hình ảnh tư liệu - Sách đưa lên Trang nhà Quê Mẹ cuối tháng 9.2010 để độc giả tham chiếu, tuy không thể in toàn bộ hình ảnh tư liệu như đã in trong 48 trang hình màu trong sách - Lên trang vào ngày thứ ba mỗi tuần 5 câu hỏi và đáp. Xin mời bạn đọc theo dõi.



Sau đó tôi đi theo kháng chiến. Năm 13 tuổi bị bắt và vào tù. Nhờ thân phụ tôi có người bạn học thưở nhỏ làm Đại uý trong quân đội Pháp, nên ông được phép vào nhà lao thăm tôi. Nhân dịp tôi xin cha tôi mang vào những bộ kinh Phật. Tôi đọc hết các bộ kinh Phật trọng yếu vào thời gian bé bỏng ấy, như các bộ kinh Pháp Hoa (Saddharma-pun?d?arikasûtra), Kim Cang (Vajracchedikâ-prajñâpâramitâsûtra), vân vân… Tôi chấn động với hình ảnh Bồ tát Địa Tạng và Bồ tát Quán Thế Âm.
 
- Tự tính bản lai không nhiễm ô, không còn vô minh, gọi là Phật bảo ;
- Tự tính bình đẳng, không sai khác nhưng biến hiện ra tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, gọi là Pháp bảo ;
- Tự tính có diệu dụng vô lượng vô biên, mang khả lực hằng hà sa công đức, thực hiện vô số Phật sự, gọi là Tăng bảo.
 
Đây là cuộc chiến thừa sai của hai khối Tư bản và Cộng sản. Người Việt Nam không có tiếng nói, không đạt được mục tiêu sơ đẳng là độc lập, hòa bình, nói chi tới tự do và dân chủ. Bi kịch thảm thương của nước Việt là số người chết cả hai bên Nam Bắc lên tới 8 triệu (lính và thường dân), chưa kể đất đai, rừng núi, nhà cửa bị tàn phá, văn hoá suy đồi.
 
Khía cạnh đọc sách của tôi là vậy. Bởi suốt đời, ngày nào cũng thấy mình còn dốt. Tôi là người muôn đời làm học trò. Nói chuyện với ai, ở bất cứ thành phần nào, tôi đều tìm thấy chuyện học thêm. Thời kháng chiến có người ghé qua vùng mang theo cuốn Principes élémentaires de la philosophie (Triết học sơ giản) của Politzer tôi mượn và ngồi năm ngày chép lại. Bây giờ nghĩ lại mới thấy cuốn sách sơ sài và sơ đẳng.
 
Mệnh đề một, là họp nhau lại “Một Trăm Người Việt” ban đầu để làm mới nước Việt.
Mệnh đề thứ hai, tôi lập lại khẩu hiệu của nhà văn Haruki Murakami người Nhật. Murakami quan niệm con người mỏng manh như quả trứng cần được bảo vệ. Chế độ, chủ thuyết, bạo quyền như bức tường ngăn chắn vênh váo. Lắm khi những bất công trong đời khiến ta phẫn nộ muốn vất trứng vào tường phản đối. Trứng vất vào tường thì ăn thua gì ? Tường mãi mãi lì lợm, kiên cố.
 
Đúng là có một nền văn học hải ngoại, một thứ ngôn ngữ ngoại biên và thoát vượt, quay mặt với nền văn học minh họa trong nước. Các nhà văn nhà thơ trong nước do bị Đảng cầm quyền chỉ huy nên mất tính sáng tạo hồn nhiên. Mỗi tờ giấy của họ là một định mệnh, mỗi dòng viết là một a tòng. Người viết như con đồng chờ nhập vai, người viết đã lìa hồn trên quản bút, nhắm mắt cho độc ác giết mòn lòng nhân hậu, cúi đầu cho cực đoan đập nát cõi hồn nhiên.
 
Mấy ông trùm Cộng sản do không hiểu tính không của Phật giáo, nên các ông bám vào cái hữu, cái  mà các ông tưởng là bất biến, vĩnh cửu tồn tại. Vì vậy thế mệnh của chủ nghĩa Cộng sản chấm dứt vào năm 73 tuổi. Không như Phật giáo làm tính mệnh cho nhân sinh đã trên ba nghìn năm mà ngày càng phát huy.
Khi nói nước là không, điều này mang nghĩa nước không có tự thể, nước nhờ duyên sinh mà thành. Chứ không phải là không có nước. Vì nước là hợp chất của một phần dưỡng khí và hai phần khinh khí (H2O).
 
Câu hỏi 36 - 40
Bạn bè tôi có nhiều người chạy theo phe Tả. Do biết rõ họ, nên tôi nghĩ chỉ là vấn đề phù thịnh, nếu không nói là tìm một chỗ đứng cho bản thân - LÀM QUAN. Làm quan phe tả hay làm quan phe hữu đều quan liêu như nhau. Dù người làm quan là ông bác sĩ, ông kỹ sư, ông luật sư, ông nhà văn, nhà thơ… tất cả họ là Ông Cơ hội - những kẻ cầm cờ chạy hiệu. Tôi chỉ trách họ sao trước kia rốt ráo đến cực đoan trong đấu tranh khi hùa theo phe tả, nhưng ngày nay nhận chân những sai lầm chết người của phe tả, họ lại im lặng, tê liệt, mất mọi khả năng, khí thế quyết liệt để chống lại cái xấu, cái ác ? Hóa ra ước muốn “làm quan” trong con người trí thức Việt vẫn hấp dẫn hơn lý tưởng cứu nguy dân tộc hay cứu người.

Câu hỏi 41 - 45
Năm 1977, trên tạp chí Quê Mẹ lần đầu tiên sau bảy năm chia tay chúng tôi đề cập tới ông Nhất Hạnh và bà Cao Ngọc Phượng qua vụ con tàu đi vớt người vượt biển mà ông bà thực hiện một cách vô trách nhiệm tại Singapore. Lên tiếng vì thảm cảnh Người Vượt Biển lúc bấy giờ, chứ chẳng vì chuyện cá nhân. Tạp chí Quê Mẹ phản ảnh sự vụ sau khi hai tờ báo lớn Straits Times ở Singapore và New York Times ở Nữu Ước khui ra trước tiên. Nguyên tổ chức Hội nghị Thế giới cho Tôn giáo và Hoà bình (World Conference on Religion and Peace) bỏ ra sáu mươi nghìn Mỹ kim giao cho ông Nhất Hạnh tổ chức việc cứu người vượt biển ngoài Biển Đông với chức vụ Giám đốc Điều hành, bà Phượng làm phụ tá. Tổ chức này có phòng ốc làm trụ sở ở Singapore, nhưng hai ông bà lại đi thuê villa ở riêng. Thay vì đi vớt người, thì hai ông bà thuê một chiếc tàu cũ bệ rạc không còn khả năng ra khơi, nên chỉ nằm tấp bờ. Bà Phượng đưa những người đã nhập trại tiếp cư ở Thái Lan lên tàu ấy cho có người và có màu sắc “vớt người tị nạn”. Theo New York Times các người tị nạn ở Thái phải trả một khoảng tiền cho bà Phượng mới được đưa lên tàu. Tàu lại không có khả năng kỹ thuật cũng như pháp lý đưa người tị nạn tới các quốc gia thứ ba.


Cuối thập niên 60, trong mấy năm dài chúng tôi chung sống với nhau dưới mái nhà làm trụ sở Phật giáo ở số 11, rue de Vénus, thị xã Maisons-Alfort, ngoại ô Nam Paris. Thời ấy, ông Nhất Hạnh và bà Cao Ngọc Phượng (sau này cạo đầu xuất gia lấy tên Chân Không) sống đời sống đôi cặp tự do, không giấu diếm, tuy ông không cổi áo công khai hóa ngoài xã hội. Cùng sống với chúng tôi lúc ấy có 7 vị Tăng và 6 cư sĩ. Sau này 5 trong số 7 vị Tăng này đã hoàn tục (một vị hiện sống ở Paris và một vị nay ở Saigon).


Làm sao ông có thể thuyết phục tôi là tôn giáo mang lại cho trái đất niềm hạnh phúc và sự tiến bộ ?” - Thưa chị, thuyết phục là tuyên truyền, truyền giáo, cải đạo. Không ai thuyết phục được ai trên trái đất này. Con người đáo để chẳng vừa đâu. Đa số họ giả vờ đấy thôi. Mặt khác, mỗi người tự tìm lấy cho mình con đường giải phóng khỏi nhân sinh khổ lụy để thăng tiến đời sống tinh thần, tâm linh, trí tuệ siêu việt. Khi con người chí thành, không đạo đức giả, mọi sự tốt đẹp nẩy nở. 



Khai Dân TríVõ Văn Ái